• Featured

    Chia sẻ thông tin kiến thức, phương pháp tập luyện, chế độ dinh dưỡng cần thiết võ cổ truyền

  • Featured

    Don't miss these 10 Things if you are going for Picnic.

  • Articles

    iPhone 6 Will Look Like

  • Articles

    Solar Powered UAVs To Replace Satellites

  • Hiển thị các bài đăng có nhãn Huyền-thoại-võ-thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
    Hiển thị các bài đăng có nhãn Huyền-thoại-võ-thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
    Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh (tên thật là Tô Văn), biệt danh Sáu nhỏ sinh năm 1900 tại Chợ Lớn Sài Gòn.Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh là con trai út trong 1 gia đình đông con gồm 6 chị em, cha của ông là cụ Tô Nghiêm, người gốc Trung Quốc, mẹ là bà La Thị Muối, người Nghệ An, Việt Nam.Do thể chất nhỏ bé và thường hay bị bệnh tật nên cha mẹ đã gửi ông cho Mộc Đức Thiền Sư, một người Hoa lưu lạc ở Việt Nam, thâu nhận làm đệ tử với mong muốn ông được rèn luyện võ nghệ, tăng cường sức khỏe. Thấy Tô Văn nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn, tháo vát lại có năng khiếu về võ thuật, Mộc Đức Thiền Sư hết lòng quý mến truyền dạy võ nghệ cho cậu. Năm 1913, được sự đồng ý của gia đình, 2 chú cháu khăn gói sang Trung Quốc. Từ đây, cậu bé Tô Văn được các hòa thượng trong chùa Phi Lai Tự thâu nhận. Họ dạy cho ông cách Thiền định và võ học của Bắc phái như: Côn Luân, Cửu Ngũ Tam Vương, Xà Quyền.Ngoài ra ông được thầy Trường Giang Mạnh Vũ truyền dạy cho Thiếu lâm Nam phái.

    Sau 11 năm ông quay trở lại quê hương, đổi tên hiệu thành Thiện Tâm Thiền Sư Đoàn Tâm Ảnh. Từ bộ căn bản “Thất Thập Nhị Huyền Công” (72 thế căn bản tuyệt diệu nhất của Thiếu Lâm Tự), “Thập Bát La Hán Thế” bao gồm 18 chiêu thức chiến đấu (18 thế này đã được đúc thành 18 pho tượng ở Chùa Thiếu Lâm; “La Hán Thần Công” (18 chiêu thức tuyệt kỹ) đều được Tô Văn đón nhận, say mê luyện tập. Khi đã lĩnh hội được hầu hết những tinh hoa của Thiếu lâm, kết hợp với 1 số người, Tô Văn vận dụng “Thất thập nhị Huyền Công”, 18 thế quyền La Hán kết hợp với quyền của bên Bắc phái sáng chế ra 18 bài quyền, (Bài thấp nhất có 21 thức chính, bài dài nhất có 73 thức chính). Trong 18 bài quyền này ông lấy “Thất Thập Nhị Huyền Công” làm căn bản, lấy “Thập Bát Chưởng Công”, “Lục Bộ Thần Công” để ghép đan xen vào thành 18 bài quyền theo thức tự từ thấp lên cao, riêng bộ La Hán Thần Công ông để vào chương trình Thượng Đẳng và đặt tên cho môn võ này là môn “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền”.

    Ngày 03/11/2008 (tức ngày 06/10 năm Mậu Tý), lão Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh tạ thế, hưởng dương 109 tuổi. Ông mất đi để lại cho các thế hệ sau một kho tàng tài liệu về võ thuật; từ các bí kíp võ thuật của Bắc phái như “Côn Lôn”, “Cửu Ngũ Tam Vương”, “Xà Quyền“… cho đến tài liệu về võ học của phái “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền” và cả những kinh nghiệm mà ông đã đúc rút ra trong suốt cuộc đời phiêu bạt giang hồ của mình.
    Nhớ lại hồi nhỏ, khoảng năm 1969, tôi mới 15 tuổi, có dịp được thọ giáo môn Võ Lâm Côn Luân Bắc phái của Bác Sáu. Thời chúng tôi thọ giáo, Lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh bảo các môn sinh không được gọi là thầy, mà gọi là Bác Sáu. Đây là một duyên may, tôi thích học võ, nhưng học Judo không được vì không đủ tiền sắm bộ võ phục. Một anh bạn rủ tôi học võ ở hẻm Vườn Chuối, đối diện Trường Trung học Nông Lâm Súc Cần Thơ (cũ) nay là hẻm 58 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chỉ quần đùi, ở trần là tập được, không cần võ phục. Thêm một điều rất đặc biệt của Bác Sáu là nếu võ sinh là học sinh thì được miễn phí, Bác Sáu chỉ lấy học phí của những người có làm việc hoặc người lớn. Hai điều kiện này quá phù hợp với đám học sinh nghèo như bọn tôi.

    Trong thời gian học võ với Bác Sáu, các võ sinh được học tập với thời khóa biểu tự do, không có giờ học phổ thông thì cứ đến tập. Dần dần các võ sinh mới tự ổn định giờ tập luyện. Số giờ học không hạn chế, mệt thì nghỉ. Học tập bảy ngày trong tuần, không nhất thiết phải nghỉ Chủ nhật.

    Trong quá trình học tập, ngoài các bài võ, đôi khi Bác Sáu giảng dạy thêm cho chúng tôi về võ lý, đạo đức của võ sinh. Chúng tôi thường thấy Bác Sáu cặm cụi ghi ghi, chép chép vào các quyển tập. Rồi sau đó, các quyển này được chuyền tay cho các võ sinh chép lại tại chỗ hoặc mượn về nhà chép. Chỗ nào chưa hiểu thì hỏi, Bác Sáu giải thích rất cặn kẻ. Anh bạn tôi là một người siêng năng nên chép được rất nhiều di bút của Bác Sáu. Trong đó có nhiều bài võ của nhiều dòng võ La Hán, Tứ linh, Bát tiên, Mai hoa quyền… Nhiều bài lý luận về các nguyên tắc học võ, dạy võ, nhận định thế võ đúng hay sai,… Bác Sáu đã soạn nhiều sách võ thuật được xuất bản trước năm 1975. Trong đó, nổi tiếng nhất là quyển Thất thập nhị huyền công và Thập bát La Hán quyền, xuất bản năm 1971.

    Bác Sáu chính là người đã hệ thống hóa các thế căn bản của môn võ cổ truyền Việt Nam. Theo sách Võ Cổ Truyền Việt Nam của Liên đoàn Võ Cổ Truyền Việt Nam, xuất bản năm 2011, nếu thống kê sẽ thấy có trên hai phần ba các thế võ căn bản, còn gọi là căn bản công, tên gọi có một phần khác nhau, nhưng động tác trùng khớp với 72 thế căn bản mà Bác Sáu đã soạn trong sách trên.

    Picture10.jpg

    Phương pháp tập luyện của Bác Sáu có lẽ cũng có một không hai ở Việt Nam, mà cũng có thể cả quốc tế, đó là đấu quyền. Nếu như các phái võ khác chỉ có bài quyền riêng lẽ, hoặc đấu nhau cùng lúc vài ba thế. Bác Sáu lại dạy từng cặp bài quyền đối nhau. Hai võ sinh, mỗi người một bài võ đấu luyện với nhau. Đây là một trong những phương pháp huấn luyện võ thuật tuyệt vời, tạo hứng thú cho võ sinh, giúp quen đòn dạn thế trong chiến đấu. Sau một thời gian tập luyện sẽ trở thành phản xạ tức thời.

    Bác Sáu có rất nhiều đồ đệ thành danh trong và ngoài nước, kể cả ở môn phái võ khác. Điển hình là anh Nguyễn Văn Phước (Phu Nguyen), Việt kiều Canada, hiện là Bát đẳng huyền đai, Phó Tổng Thư ký Tae Kwon Do hệ phái WTF (World Taekwondo Federation), phụ trách Châu Á.

    Tôi và người bạn miệt mài tập võ cho đến năm 1973 thì bạn tôi qua đời. Thêm vào đó, bận việc học, tôi phải nghỉ tập để hoàn tất việc học phổ thông.

    Rồi sau năm 1975, thời gian khoảng từ năm 1987 - 1990 tôi có tham gia huấn luyện Võ lâm. Nhưng phần lớn thời gian còn lại, vì chuyện học hành, làm việc, sinh kế quá bận rộn, nên tôi không chuyên tâm đến chuyện võ nghệ. Gần đây, sắp đến tuổi về hưu, công việc giảm, tôi mới có dịp đọc lại các di bút của Bác Sáu, do các bạn sưu tầm trước và sau năm 1975, giao lại cho tôi. Một số khám phá mới mà tôi hồi nhỏ, hoặc không hiểu hoặc không để ý đến.

    Có lẽ Bác Sáu đã đạt đỉnh cao của võ thuật. Với triết lý, học võ cũng là học làm người, không tấn công trước mà lấy nhẫn làm đầu, áp dụng võ thuật theo cách của người Việt xưa là lấy nhu chế cương.

    Xin trích nguyên văn một đoạn trong di bút của Bác Sáu, được viết tại Cần Thơ, khoảng năm 1988: “… Tự vệ - thể thao - đạo hạnh, đào tạo người học cho k
    ỳ được cả nghề lẫn nết. Không chiến đấu cũng đặng khỏe mạnh, thể xác sung mãn, tinh thần có tác phong đạo đức.

    Bởi vì coi quyền thuật là môn giáo luyện về cơ thể. Trong đó, có những cử động cương nhu, khí lực biến chuyển thân thể. Khi dạy, động kình phát chiêu, đầy chưởng. Đó là làm cho động mạch, điều hòa hơi thở để bồi dưỡng sức khỏe, tăng cường khí lực, sung mãn tinh thần. Già bảy tám mươi còn sức lao động. Đó là môn võ chú trọng về ba điểm chính: ích cho nước, thuận cho nhà, lợi cho dân…...

    ….. Không có võ nào mà không chiến đấu. Là trường hợp cây muốn lặng mà gió không muốn ngừng mới có. Bởi vì võ Bắc phái luyện về di ảnh kỳ hình, lấy nhu áp cương. Nếu háo chiến thì thua bệnh viện, thắng nhà tù. Như vậy sao gọi là võ đạo được.

    Lối nhẫn nhịn của Bắc phái tối thượng. Bởi vì không nghiên cứu tấn công trước ai khi gây chiến, mà đứng chờ tối đa, nếu bãi chiến càng tốt. Vì cách di ảnh, khi bị ai tấn công, chỉ lắc lư một cái thì xuất nhập như quỷ thần. Nếu biết tấn công trước thì họ chết, như ta cũng chết tù. Thế nên, không biết đòn tấn công trước ai là chờ đợi cho hòa, càng tốt….”.

    Xin mạn phép vài dòng, cũng có thể suy nghĩ chưa thật thấu đáo, để tưởng niệm con người tài ba xuất chúng trong làng võ thuật Việt Nam, Lão Võ sư Đoàn Tâm Ảnh. Chúc hương hồn Bác Sáu an lạc ở cõi vĩnh hằng./.
    Khải Đăng

    Thiền sư - Võ sư Đoàn Tâm Ảnh (Tô Văn 1900-2008)

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh (tên thật là Tô Văn), biệt danh Sáu nhỏ sinh năm 1900 tại Chợ Lớn Sài Gòn.Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh là con trai út trong 1 gia đình đông con gồm 6 chị em, cha của ông là cụ Tô Nghiêm, người gốc Trung Quốc, mẹ là bà La Thị Muối, người Nghệ An, Việt Nam.Do thể chất nhỏ bé và thường hay bị bệnh tật nên cha mẹ đã gửi ông cho Mộc Đức Thiền Sư, một người Hoa lưu lạc ở Việt Nam, thâu nhận làm đệ tử với mong muốn ông được rèn luyện võ nghệ, tăng cường sức khỏe. Thấy Tô Văn nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn, tháo vát lại có năng khiếu về võ thuật, Mộc Đức Thiền Sư hết lòng quý mến truyền dạy võ nghệ cho cậu. Năm 1913, được sự đồng ý của gia đình, 2 chú cháu khăn gói sang Trung Quốc. Từ đây, cậu bé Tô Văn được các hòa thượng trong chùa Phi Lai Tự thâu nhận. Họ dạy cho ông cách Thiền định và võ học của Bắc phái như: Côn Luân, Cửu Ngũ Tam Vương, Xà Quyền.Ngoài ra ông được thầy Trường Giang Mạnh Vũ truyền dạy cho Thiếu lâm Nam phái.

    Sau 11 năm ông quay trở lại quê hương, đổi tên hiệu thành Thiện Tâm Thiền Sư Đoàn Tâm Ảnh. Từ bộ căn bản “Thất Thập Nhị Huyền Công” (72 thế căn bản tuyệt diệu nhất của Thiếu Lâm Tự), “Thập Bát La Hán Thế” bao gồm 18 chiêu thức chiến đấu (18 thế này đã được đúc thành 18 pho tượng ở Chùa Thiếu Lâm; “La Hán Thần Công” (18 chiêu thức tuyệt kỹ) đều được Tô Văn đón nhận, say mê luyện tập. Khi đã lĩnh hội được hầu hết những tinh hoa của Thiếu lâm, kết hợp với 1 số người, Tô Văn vận dụng “Thất thập nhị Huyền Công”, 18 thế quyền La Hán kết hợp với quyền của bên Bắc phái sáng chế ra 18 bài quyền, (Bài thấp nhất có 21 thức chính, bài dài nhất có 73 thức chính). Trong 18 bài quyền này ông lấy “Thất Thập Nhị Huyền Công” làm căn bản, lấy “Thập Bát Chưởng Công”, “Lục Bộ Thần Công” để ghép đan xen vào thành 18 bài quyền theo thức tự từ thấp lên cao, riêng bộ La Hán Thần Công ông để vào chương trình Thượng Đẳng và đặt tên cho môn võ này là môn “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền”.

    Ngày 03/11/2008 (tức ngày 06/10 năm Mậu Tý), lão Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh tạ thế, hưởng dương 109 tuổi. Ông mất đi để lại cho các thế hệ sau một kho tàng tài liệu về võ thuật; từ các bí kíp võ thuật của Bắc phái như “Côn Lôn”, “Cửu Ngũ Tam Vương”, “Xà Quyền“… cho đến tài liệu về võ học của phái “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền” và cả những kinh nghiệm mà ông đã đúc rút ra trong suốt cuộc đời phiêu bạt giang hồ của mình.
    Nhớ lại hồi nhỏ, khoảng năm 1969, tôi mới 15 tuổi, có dịp được thọ giáo môn Võ Lâm Côn Luân Bắc phái của Bác Sáu. Thời chúng tôi thọ giáo, Lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh bảo các môn sinh không được gọi là thầy, mà gọi là Bác Sáu. Đây là một duyên may, tôi thích học võ, nhưng học Judo không được vì không đủ tiền sắm bộ võ phục. Một anh bạn rủ tôi học võ ở hẻm Vườn Chuối, đối diện Trường Trung học Nông Lâm Súc Cần Thơ (cũ) nay là hẻm 58 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chỉ quần đùi, ở trần là tập được, không cần võ phục. Thêm một điều rất đặc biệt của Bác Sáu là nếu võ sinh là học sinh thì được miễn phí, Bác Sáu chỉ lấy học phí của những người có làm việc hoặc người lớn. Hai điều kiện này quá phù hợp với đám học sinh nghèo như bọn tôi.

    Trong thời gian học võ với Bác Sáu, các võ sinh được học tập với thời khóa biểu tự do, không có giờ học phổ thông thì cứ đến tập. Dần dần các võ sinh mới tự ổn định giờ tập luyện. Số giờ học không hạn chế, mệt thì nghỉ. Học tập bảy ngày trong tuần, không nhất thiết phải nghỉ Chủ nhật.

    Trong quá trình học tập, ngoài các bài võ, đôi khi Bác Sáu giảng dạy thêm cho chúng tôi về võ lý, đạo đức của võ sinh. Chúng tôi thường thấy Bác Sáu cặm cụi ghi ghi, chép chép vào các quyển tập. Rồi sau đó, các quyển này được chuyền tay cho các võ sinh chép lại tại chỗ hoặc mượn về nhà chép. Chỗ nào chưa hiểu thì hỏi, Bác Sáu giải thích rất cặn kẻ. Anh bạn tôi là một người siêng năng nên chép được rất nhiều di bút của Bác Sáu. Trong đó có nhiều bài võ của nhiều dòng võ La Hán, Tứ linh, Bát tiên, Mai hoa quyền… Nhiều bài lý luận về các nguyên tắc học võ, dạy võ, nhận định thế võ đúng hay sai,… Bác Sáu đã soạn nhiều sách võ thuật được xuất bản trước năm 1975. Trong đó, nổi tiếng nhất là quyển Thất thập nhị huyền công và Thập bát La Hán quyền, xuất bản năm 1971.

    Bác Sáu chính là người đã hệ thống hóa các thế căn bản của môn võ cổ truyền Việt Nam. Theo sách Võ Cổ Truyền Việt Nam của Liên đoàn Võ Cổ Truyền Việt Nam, xuất bản năm 2011, nếu thống kê sẽ thấy có trên hai phần ba các thế võ căn bản, còn gọi là căn bản công, tên gọi có một phần khác nhau, nhưng động tác trùng khớp với 72 thế căn bản mà Bác Sáu đã soạn trong sách trên.

    Picture10.jpg

    Phương pháp tập luyện của Bác Sáu có lẽ cũng có một không hai ở Việt Nam, mà cũng có thể cả quốc tế, đó là đấu quyền. Nếu như các phái võ khác chỉ có bài quyền riêng lẽ, hoặc đấu nhau cùng lúc vài ba thế. Bác Sáu lại dạy từng cặp bài quyền đối nhau. Hai võ sinh, mỗi người một bài võ đấu luyện với nhau. Đây là một trong những phương pháp huấn luyện võ thuật tuyệt vời, tạo hứng thú cho võ sinh, giúp quen đòn dạn thế trong chiến đấu. Sau một thời gian tập luyện sẽ trở thành phản xạ tức thời.

    Bác Sáu có rất nhiều đồ đệ thành danh trong và ngoài nước, kể cả ở môn phái võ khác. Điển hình là anh Nguyễn Văn Phước (Phu Nguyen), Việt kiều Canada, hiện là Bát đẳng huyền đai, Phó Tổng Thư ký Tae Kwon Do hệ phái WTF (World Taekwondo Federation), phụ trách Châu Á.

    Tôi và người bạn miệt mài tập võ cho đến năm 1973 thì bạn tôi qua đời. Thêm vào đó, bận việc học, tôi phải nghỉ tập để hoàn tất việc học phổ thông.

    Rồi sau năm 1975, thời gian khoảng từ năm 1987 - 1990 tôi có tham gia huấn luyện Võ lâm. Nhưng phần lớn thời gian còn lại, vì chuyện học hành, làm việc, sinh kế quá bận rộn, nên tôi không chuyên tâm đến chuyện võ nghệ. Gần đây, sắp đến tuổi về hưu, công việc giảm, tôi mới có dịp đọc lại các di bút của Bác Sáu, do các bạn sưu tầm trước và sau năm 1975, giao lại cho tôi. Một số khám phá mới mà tôi hồi nhỏ, hoặc không hiểu hoặc không để ý đến.

    Có lẽ Bác Sáu đã đạt đỉnh cao của võ thuật. Với triết lý, học võ cũng là học làm người, không tấn công trước mà lấy nhẫn làm đầu, áp dụng võ thuật theo cách của người Việt xưa là lấy nhu chế cương.

    Xin trích nguyên văn một đoạn trong di bút của Bác Sáu, được viết tại Cần Thơ, khoảng năm 1988: “… Tự vệ - thể thao - đạo hạnh, đào tạo người học cho k
    ỳ được cả nghề lẫn nết. Không chiến đấu cũng đặng khỏe mạnh, thể xác sung mãn, tinh thần có tác phong đạo đức.

    Bởi vì coi quyền thuật là môn giáo luyện về cơ thể. Trong đó, có những cử động cương nhu, khí lực biến chuyển thân thể. Khi dạy, động kình phát chiêu, đầy chưởng. Đó là làm cho động mạch, điều hòa hơi thở để bồi dưỡng sức khỏe, tăng cường khí lực, sung mãn tinh thần. Già bảy tám mươi còn sức lao động. Đó là môn võ chú trọng về ba điểm chính: ích cho nước, thuận cho nhà, lợi cho dân…...

    ….. Không có võ nào mà không chiến đấu. Là trường hợp cây muốn lặng mà gió không muốn ngừng mới có. Bởi vì võ Bắc phái luyện về di ảnh kỳ hình, lấy nhu áp cương. Nếu háo chiến thì thua bệnh viện, thắng nhà tù. Như vậy sao gọi là võ đạo được.

    Lối nhẫn nhịn của Bắc phái tối thượng. Bởi vì không nghiên cứu tấn công trước ai khi gây chiến, mà đứng chờ tối đa, nếu bãi chiến càng tốt. Vì cách di ảnh, khi bị ai tấn công, chỉ lắc lư một cái thì xuất nhập như quỷ thần. Nếu biết tấn công trước thì họ chết, như ta cũng chết tù. Thế nên, không biết đòn tấn công trước ai là chờ đợi cho hòa, càng tốt….”.

    Xin mạn phép vài dòng, cũng có thể suy nghĩ chưa thật thấu đáo, để tưởng niệm con người tài ba xuất chúng trong làng võ thuật Việt Nam, Lão Võ sư Đoàn Tâm Ảnh. Chúc hương hồn Bác Sáu an lạc ở cõi vĩnh hằng./.
    Khải Đăng

    Bắc Giang vốn thuộc xứ Kinh Bắc ngàn năm văn hiến, thời phong kiến đã có người 58 thi đỗ đại khoa làm rạng rỡ truyền thống khoa bảng và hiếu học của quê hương. Về mặt chiến lược quân sự, các triều đại phong kiến xưa đều quan tâm tới vùng đất này, vì nó nằm trên con đường thiên sứ nối kinh đô Thăng Long với phương Bắc, vì thế vùng đất này cũng được coi là một trong 4 trấn quan trọng của Kinh thành Thăng Long.

    Là vùng đất phên dậu che chắn cho kinh thành Thăng Long, có nhiệm vụ ngăn chặn các thế lực ngoại xâm và xâm chiếm nước ta, cho nên Bắc Giang cũng là miền đất thượng võ, sản sinh ra nhiều nhân tài có công giúp dân giúp nước, giữ gìn non sông đất nước. Đó là các nhân vật lịch sử như: Thân Thiệu Thái, Thân Cảnh Phúc ở triều Lý (Thế kỷ XI), là Hán Quận công Thân Công Tài, Cẩm Quận Công Trần Đình Ngọc, Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc ở triều Lê; Giáp Văn Trận, Giáp Văn Tường, Nguyễn Văn Thịnh (Cai Vàng), Hoàng Hoa Thám ở thời Nguyễn. Đó là những con người tiêu biểu vang tiếng trong lịch sử. Còn biết bao các vị Quận công, Hầu tước, biết bao ông Đề, ông Lãnh khác ở khắp các làng quê mà ngày nay dân gian vẫn truyền tụng công tích và thờ phụng ở chốn đình trung. Tất cả những con người ấy, với những hành trang đẹp đẽ ấy đã làm giàu cho kho tàng phương ngôn xứ Bắc: “Trai cầu vồng Yên Thế…”, “Đô vật Cẩm Bào…”, “Đấu vật Song Khê…”... các vùng đất ấy, cho đến ngày nay vẫn là niềm tự hào về truyền thống văn vật của quê hương Bắc Giang.Truyền thống thượng võ là nét đẹp của Bắc Giang, để phát huy truyền thống này ở khắp các làng quê trong tỉnh đã gắn kết các yếu tố thượng võ vào trong các lễ hội hàng năm, như ở lễ hội Cầu Vồng với tinh thần “Trai cầu Vồng Yên Thế”, ở lễ hội Xương Giang với tinh thần của hào khí Xương Giang muôn đời oanh liệt, ở lễ hội Phồn Xương (Yên Thế) với tinh thần khởi nghĩa Yên Thế muôn đời bất diệt,... và các lễ hội khác như hội Từ Hả (Lục Ngạn), hội Tòng Lệnh (Lục Nam), hội Bơi chải (An Châu), hội Bơi chải Làng Mai (Hiệp Hoà)... đều phản ánh tinh thần thượng võ của một miền xứ Bắc.

    Trong những năm qua, ngành thể dục thể thao của tỉnh đã tiến hành điều tra nghiên cứu tìm hiểu về tinh thần truyền thống thượng võ của Bắc Giang, kết quả điều tra nghiên cứu đã khẳng định rõ Bắc Giang cũng là miền đất thượng võ và có một dòng võ Yên Thế, có điều dòng võ này đang có nguy cơ mai một vì các võ sư ở các lò võ hiện còn rất ít và các làng này dấu tích rất còn mờ nhạt. Do đó cũng có thể nói rằng các lò võ cổ đến nay vẫn chưa được xác định chính xác. Vì thế cũng thật khó tin rằng: ở một vùng đất như ở Bắc Giang là miền đất có cả hàng trăm vị Quận công, hàng chục ông Đề, hàng trăm ông Lãnh, toàn là các võ tướng cầm quân đánh giặc, bất khuất kiên cường, vang danh trong sử sách mà lại không rõ học võ thuật ở đâu. Chẳng lẽ cả trăm người đó lại kéo nhau đến tỉnh khác để học quyền, cước, binh khí, võ thuật? Nhất định phải có chỗ dạy, có lò võ ở chính miền đất này, thế nhưng xưa nay vẫn chưa tìm ra dấu tích.



    Hoàng Hoa Thám người lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Yên Thế (1885 - 1913)

    Thật may mắn, một ngày đầu xuân năm 2008, chúng tôi có điều kiện trở lại điều tra khảo sát vùng Yên Thế đã gặp anh Lư Dũng, người dân tộc Nùng ở xã Tam Hiệp. Cũng vô tình mà anh Dũng cung cấp cho chúng tôi một tài liệu cổ. Đó là quyển sách nhỏ khổ 12cm x 6, 5cm gồm 61 tờ bằng 112 trang. Đây là quyển sách chữ Hán. Trong sách này mỗi trang có khoảng 6 dòng, mỗi dòng 15 chữ được viết trên giấy Lệnh hội (một loại giấy dó mỏng, mềm, rất tốt). Chữ viết chân phương dễ đọc. Bìa sách đã được đóng lại bằng loại giấy vỏ bao xi măng. Gáy sách không phải là dùng giấy dó se lại để khâu như truyền thống mà đóng kẹp bằng 2 sợi dây đồng. Các trang của sách đã qua sử dụng nên nhiều tờ quăn, mòn, rách tờ đôi. Tuy văn bản có bị quăn rách, nhưng may thay nội dung vẫn còn tương đối đầy đủ có thể đọc xem tốt.

    Qua xem xét, chúng tôi thấy quyển sách này có hai nội dung. Một là để xem một vài môn thuật số cổ như: xem ngày giờ tốt xấu, xem tướng, xem tay, xem chân giò gà, hướng dẫn thuật bấm độn Hàn Tín. Nội dung thứ hai liên quan đến một tổ chức võ lâm ở Yên Thế được thể hiện qua bài văn tế tổ sư võ phái. Qua bài văn này chúng tôi biết đó là bài văn soạn ra vào năm Thành Thái thứ 6 (1894).

    Anh Lư Dũng cho biết: Các cụ gia đình anh xưa có biết chữ Hán, sách vở để lại nhiều; về sau các cụ già qua đời không ai trong con cháu học chữ Hán nữa nên không ai biết số sách đó nói gì. Vì vậy có người anh ở Hữu Lũng về xin, gia đình đã cho gần hết, chỉ giữ lại vài quyển mỏng, trong số đó có quyển sách nêu trên, các cụ dặn giữ cẩn thận, chỉ giao cho người cần giao. Vì thế mà quyển sách còn tới hôm nay.

    Xét thấy nội dung bài văn tế võ lâm có liên quan tới dòng võ ở Yên Thế cũ, chúng tôi có hỏi anh Lư Dũng đôi điều liên quan đến võ thuật thì anh Dũng nói rằng: Trước đây, các cụ trong họ đều giỏi võ. Vào thời cụ Đề Thám đánh Pháp, có một cụ làm nghề dạy học chữ Hán, ta gọi là thầy Đồ có lên chốn này mở lò dạy võ. Họ nào cũng có người biết võ, truyền lại cho con cháu theo phương pháp bí truyền (truyền kín) không truyền ra ngoài. Chuyện kể, một hôm cụ nội anh đi qua Cầu Trắng (Nhã Nam) trên người có đeo túi tiền to, bất thình lình có 6, 7 tên cướp xông ra tấn công cướp của. Một tay giữ túi tiền, một tay thế thủ, đánh lại. Mấy tên cướp đã có vũ khí tấn công cụ mà không lại, thậm chí còn bị cụ đánh cho chạy cả. Chuyện này trong họ vẫn còn truyền.

    Anh Dũng cũng cho biết, hiện nay trong họ vẫn còn một số người biết võ song lâu ngày không luyện nên có biểu diễn cũng không điêu luyện. Bản thân anh Lư Dũng cũng biết nhiều bài võ được cha chú truyền dạy, nhưng cũng chưa đấu với ai bao giờ. Theo anh các bài cổ của các cụ truyền đều có, mỗi bài có một số miếng, mỗi miếng lại có một cái tên gọi theo tiếng dân tộc của anh. Chúng tôi đã đề nghị anh cho mang sách về để nghiên cứu, anh đồng ý và anh là người biết thuốc Nam, nên anh còn cắt cho thang thuốc về để uống cho khoẻ.

    Chúng tôi nghĩ rằng, một lò võ xưa được mở ra là lò của một họ. Võ xưa là rất cần và rất quý nên các cụ của các họ rất trân trọng. Không phải ai cũng truyền mà phải truyền cho người có tâm đức và có chí. Học võ là để tự vệ chứ không phải để đánh người. Do đó học phải có lò, có bài bản. Lò võ phải có thày, có tôn sư, có môn sinh…Tổ sư của một môn phái võ lâm hàng năm phải tổ chức tế lễ. Với quan niệm như thế, hơn nữa nhận thấy ý nghĩa của tập sách giúp cho việc tìm hiểu về truyền thống thượng võ của Yên Thế xưa nên chúng tôi lược dịch, để giới thiệu nội dung bài Văn tế Võ Lâm ở Yên Thế xưa mà chúng tôi mới sưu tầm được để các nhà nghiên cứu văn hoá cùng độc giả tham khảo.

    “ Văn tế võ lâm "

    Ngày 22 Việt, Quý Mão, tức ngày 01 Nhâm Tý, tháng năm Kỷ Nguyệt Kiến Kỷ Dậu, năm Giáp Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894).

    Tế chủ là Nguyễn Văn... cùng cả họ, kính cẩn dâng bánh, xôi, rượu, hương hoa các thứ cùng trầu cau, xin được kính cáo tới các vị: Hoàng Lục Nguyễn chưởng, Chân y xứ giả, Từ lâm Đại tướng, Võ lâm đại thần, Giám độ đại thần

    Giáng xuống nơi này.

    Xin được kính các vị tôn thần là các bậc thông minh chính trực, biến hoá vô cùng, khi cầu thì ứng, khi cảm được thì thông. Tài y nắm lĩnh; cấp giao xuống chốn linh thiêng; quỷ không giám đoạt; vong hồn thì yên vui; con cháu được phú quý; phúc lộc dồi dào.

    Cúi mong các vị hưởng lấy.

    Nay căn cứ.

    Ở xã Xa Khuê, tổng Phương Hạnh, châu Lương Sơn, tỉnh Phương Lâm, nước Đại Nam hiếu chủ là... và cả họ.

    Cúi xin được tiến một vị chân linh vì có Lệnh lang ở vận Trung nguyên là vị quan đất ấy mắc tội, vào lúc tốt thời có chân y, tài hoá, khí dụng các vật tiến dâng xin kể dưới đây:

    Áo gấm vuông một bức, toà thi 1 toà, áo một chiếc, khăn 1 chiếc. Khăn vuông 1 đôi, áo dài một chiếc. Khăn 1 chiếc, yếm một chiếc, hình nhân một người, quạt một cái, gối vuông 1 chiếc, điếu 1 cái, bàn 1 cái.

    Hộp trầu một hộp, phức một đôi, nồi đồng 1 cái, mâm đồng một chiếc, thau đồng 1 chiếc. ấm chuyên 1 cái, chén sứ một bộ. Hầu bao 1 cái, bát tàu một đôi, chén tàu một đôi, bát chiết yên 1 đôi, nậm 1 cái, trâu một thủ, bò một thủ, lợn 1 con, gà một con, vịt một con, ngan 1 con, mèo 1 con, chó 1 con, chiếu 1 cái, dao 1 con, khiên 1 cái, đột 1 cái, kiều 1 cái, cày 1 cái, bừa 1 cái, mai 1 cái, kim ngân vàng mã 100.

    Tất cả các thứ cứ xin các vị ở Địa phủ là các bậc Diêm la, Chưởng chân y sứ giả, Võ Lâm Đại thần giao phó tới hồn... là 1 vị chân linh đem về nơi âm trạch dùng mãi các thứ đó. Nếu gửi người nào vô danh không được có ý tranh chiếm, không được có ý chiếm đoạt.

    Xin cung kính các vị

    Hoàng Lục Nguyễn chưởng, Chân y sứ giả, Võ lâm đại thần, Giám độ đại thần chứng minh cho sự hóa chân hương.

    Cứ mong sự chứng minh.

    Qua bài văn tế võ lâm trên, chúng tôi thấy rằng đây là một văn bản có ý nghĩa cho việc tìm hiểu truyền thống thượng võ của Bắc Giang. Nó là một văn bản cách ngày nay đã hơn 100 năm, cùng thời mà Hoàng Hoa Thám phất cờ chống Pháp; lại là văn bản có ở đất cụ đề vì thế nó sẽ gợi mở cho chúng ta có thể tìm hiểu thêm nhiều điều về truyền thống thượng võ ngay trên mảnh đất cụ Đề, đúng như câu ca xưa rằng:

    Đất này là đất cụ Đề

    Tây lên thì có, Tây về thì không. /.

    Theo báo Bắc Giang

    Võ cổ truyền Yên Thế - Phát hiện tư liệu về võ cổ truyền Yên Thế

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Bắc Giang vốn thuộc xứ Kinh Bắc ngàn năm văn hiến, thời phong kiến đã có người 58 thi đỗ đại khoa làm rạng rỡ truyền thống khoa bảng và hiếu học của quê hương. Về mặt chiến lược quân sự, các triều đại phong kiến xưa đều quan tâm tới vùng đất này, vì nó nằm trên con đường thiên sứ nối kinh đô Thăng Long với phương Bắc, vì thế vùng đất này cũng được coi là một trong 4 trấn quan trọng của Kinh thành Thăng Long.

    Là vùng đất phên dậu che chắn cho kinh thành Thăng Long, có nhiệm vụ ngăn chặn các thế lực ngoại xâm và xâm chiếm nước ta, cho nên Bắc Giang cũng là miền đất thượng võ, sản sinh ra nhiều nhân tài có công giúp dân giúp nước, giữ gìn non sông đất nước. Đó là các nhân vật lịch sử như: Thân Thiệu Thái, Thân Cảnh Phúc ở triều Lý (Thế kỷ XI), là Hán Quận công Thân Công Tài, Cẩm Quận Công Trần Đình Ngọc, Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc ở triều Lê; Giáp Văn Trận, Giáp Văn Tường, Nguyễn Văn Thịnh (Cai Vàng), Hoàng Hoa Thám ở thời Nguyễn. Đó là những con người tiêu biểu vang tiếng trong lịch sử. Còn biết bao các vị Quận công, Hầu tước, biết bao ông Đề, ông Lãnh khác ở khắp các làng quê mà ngày nay dân gian vẫn truyền tụng công tích và thờ phụng ở chốn đình trung. Tất cả những con người ấy, với những hành trang đẹp đẽ ấy đã làm giàu cho kho tàng phương ngôn xứ Bắc: “Trai cầu vồng Yên Thế…”, “Đô vật Cẩm Bào…”, “Đấu vật Song Khê…”... các vùng đất ấy, cho đến ngày nay vẫn là niềm tự hào về truyền thống văn vật của quê hương Bắc Giang.Truyền thống thượng võ là nét đẹp của Bắc Giang, để phát huy truyền thống này ở khắp các làng quê trong tỉnh đã gắn kết các yếu tố thượng võ vào trong các lễ hội hàng năm, như ở lễ hội Cầu Vồng với tinh thần “Trai cầu Vồng Yên Thế”, ở lễ hội Xương Giang với tinh thần của hào khí Xương Giang muôn đời oanh liệt, ở lễ hội Phồn Xương (Yên Thế) với tinh thần khởi nghĩa Yên Thế muôn đời bất diệt,... và các lễ hội khác như hội Từ Hả (Lục Ngạn), hội Tòng Lệnh (Lục Nam), hội Bơi chải (An Châu), hội Bơi chải Làng Mai (Hiệp Hoà)... đều phản ánh tinh thần thượng võ của một miền xứ Bắc.

    Trong những năm qua, ngành thể dục thể thao của tỉnh đã tiến hành điều tra nghiên cứu tìm hiểu về tinh thần truyền thống thượng võ của Bắc Giang, kết quả điều tra nghiên cứu đã khẳng định rõ Bắc Giang cũng là miền đất thượng võ và có một dòng võ Yên Thế, có điều dòng võ này đang có nguy cơ mai một vì các võ sư ở các lò võ hiện còn rất ít và các làng này dấu tích rất còn mờ nhạt. Do đó cũng có thể nói rằng các lò võ cổ đến nay vẫn chưa được xác định chính xác. Vì thế cũng thật khó tin rằng: ở một vùng đất như ở Bắc Giang là miền đất có cả hàng trăm vị Quận công, hàng chục ông Đề, hàng trăm ông Lãnh, toàn là các võ tướng cầm quân đánh giặc, bất khuất kiên cường, vang danh trong sử sách mà lại không rõ học võ thuật ở đâu. Chẳng lẽ cả trăm người đó lại kéo nhau đến tỉnh khác để học quyền, cước, binh khí, võ thuật? Nhất định phải có chỗ dạy, có lò võ ở chính miền đất này, thế nhưng xưa nay vẫn chưa tìm ra dấu tích.



    Hoàng Hoa Thám người lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Yên Thế (1885 - 1913)

    Thật may mắn, một ngày đầu xuân năm 2008, chúng tôi có điều kiện trở lại điều tra khảo sát vùng Yên Thế đã gặp anh Lư Dũng, người dân tộc Nùng ở xã Tam Hiệp. Cũng vô tình mà anh Dũng cung cấp cho chúng tôi một tài liệu cổ. Đó là quyển sách nhỏ khổ 12cm x 6, 5cm gồm 61 tờ bằng 112 trang. Đây là quyển sách chữ Hán. Trong sách này mỗi trang có khoảng 6 dòng, mỗi dòng 15 chữ được viết trên giấy Lệnh hội (một loại giấy dó mỏng, mềm, rất tốt). Chữ viết chân phương dễ đọc. Bìa sách đã được đóng lại bằng loại giấy vỏ bao xi măng. Gáy sách không phải là dùng giấy dó se lại để khâu như truyền thống mà đóng kẹp bằng 2 sợi dây đồng. Các trang của sách đã qua sử dụng nên nhiều tờ quăn, mòn, rách tờ đôi. Tuy văn bản có bị quăn rách, nhưng may thay nội dung vẫn còn tương đối đầy đủ có thể đọc xem tốt.

    Qua xem xét, chúng tôi thấy quyển sách này có hai nội dung. Một là để xem một vài môn thuật số cổ như: xem ngày giờ tốt xấu, xem tướng, xem tay, xem chân giò gà, hướng dẫn thuật bấm độn Hàn Tín. Nội dung thứ hai liên quan đến một tổ chức võ lâm ở Yên Thế được thể hiện qua bài văn tế tổ sư võ phái. Qua bài văn này chúng tôi biết đó là bài văn soạn ra vào năm Thành Thái thứ 6 (1894).

    Anh Lư Dũng cho biết: Các cụ gia đình anh xưa có biết chữ Hán, sách vở để lại nhiều; về sau các cụ già qua đời không ai trong con cháu học chữ Hán nữa nên không ai biết số sách đó nói gì. Vì vậy có người anh ở Hữu Lũng về xin, gia đình đã cho gần hết, chỉ giữ lại vài quyển mỏng, trong số đó có quyển sách nêu trên, các cụ dặn giữ cẩn thận, chỉ giao cho người cần giao. Vì thế mà quyển sách còn tới hôm nay.

    Xét thấy nội dung bài văn tế võ lâm có liên quan tới dòng võ ở Yên Thế cũ, chúng tôi có hỏi anh Lư Dũng đôi điều liên quan đến võ thuật thì anh Dũng nói rằng: Trước đây, các cụ trong họ đều giỏi võ. Vào thời cụ Đề Thám đánh Pháp, có một cụ làm nghề dạy học chữ Hán, ta gọi là thầy Đồ có lên chốn này mở lò dạy võ. Họ nào cũng có người biết võ, truyền lại cho con cháu theo phương pháp bí truyền (truyền kín) không truyền ra ngoài. Chuyện kể, một hôm cụ nội anh đi qua Cầu Trắng (Nhã Nam) trên người có đeo túi tiền to, bất thình lình có 6, 7 tên cướp xông ra tấn công cướp của. Một tay giữ túi tiền, một tay thế thủ, đánh lại. Mấy tên cướp đã có vũ khí tấn công cụ mà không lại, thậm chí còn bị cụ đánh cho chạy cả. Chuyện này trong họ vẫn còn truyền.

    Anh Dũng cũng cho biết, hiện nay trong họ vẫn còn một số người biết võ song lâu ngày không luyện nên có biểu diễn cũng không điêu luyện. Bản thân anh Lư Dũng cũng biết nhiều bài võ được cha chú truyền dạy, nhưng cũng chưa đấu với ai bao giờ. Theo anh các bài cổ của các cụ truyền đều có, mỗi bài có một số miếng, mỗi miếng lại có một cái tên gọi theo tiếng dân tộc của anh. Chúng tôi đã đề nghị anh cho mang sách về để nghiên cứu, anh đồng ý và anh là người biết thuốc Nam, nên anh còn cắt cho thang thuốc về để uống cho khoẻ.

    Chúng tôi nghĩ rằng, một lò võ xưa được mở ra là lò của một họ. Võ xưa là rất cần và rất quý nên các cụ của các họ rất trân trọng. Không phải ai cũng truyền mà phải truyền cho người có tâm đức và có chí. Học võ là để tự vệ chứ không phải để đánh người. Do đó học phải có lò, có bài bản. Lò võ phải có thày, có tôn sư, có môn sinh…Tổ sư của một môn phái võ lâm hàng năm phải tổ chức tế lễ. Với quan niệm như thế, hơn nữa nhận thấy ý nghĩa của tập sách giúp cho việc tìm hiểu về truyền thống thượng võ của Yên Thế xưa nên chúng tôi lược dịch, để giới thiệu nội dung bài Văn tế Võ Lâm ở Yên Thế xưa mà chúng tôi mới sưu tầm được để các nhà nghiên cứu văn hoá cùng độc giả tham khảo.

    “ Văn tế võ lâm "

    Ngày 22 Việt, Quý Mão, tức ngày 01 Nhâm Tý, tháng năm Kỷ Nguyệt Kiến Kỷ Dậu, năm Giáp Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894).

    Tế chủ là Nguyễn Văn... cùng cả họ, kính cẩn dâng bánh, xôi, rượu, hương hoa các thứ cùng trầu cau, xin được kính cáo tới các vị: Hoàng Lục Nguyễn chưởng, Chân y xứ giả, Từ lâm Đại tướng, Võ lâm đại thần, Giám độ đại thần

    Giáng xuống nơi này.

    Xin được kính các vị tôn thần là các bậc thông minh chính trực, biến hoá vô cùng, khi cầu thì ứng, khi cảm được thì thông. Tài y nắm lĩnh; cấp giao xuống chốn linh thiêng; quỷ không giám đoạt; vong hồn thì yên vui; con cháu được phú quý; phúc lộc dồi dào.

    Cúi mong các vị hưởng lấy.

    Nay căn cứ.

    Ở xã Xa Khuê, tổng Phương Hạnh, châu Lương Sơn, tỉnh Phương Lâm, nước Đại Nam hiếu chủ là... và cả họ.

    Cúi xin được tiến một vị chân linh vì có Lệnh lang ở vận Trung nguyên là vị quan đất ấy mắc tội, vào lúc tốt thời có chân y, tài hoá, khí dụng các vật tiến dâng xin kể dưới đây:

    Áo gấm vuông một bức, toà thi 1 toà, áo một chiếc, khăn 1 chiếc. Khăn vuông 1 đôi, áo dài một chiếc. Khăn 1 chiếc, yếm một chiếc, hình nhân một người, quạt một cái, gối vuông 1 chiếc, điếu 1 cái, bàn 1 cái.

    Hộp trầu một hộp, phức một đôi, nồi đồng 1 cái, mâm đồng một chiếc, thau đồng 1 chiếc. ấm chuyên 1 cái, chén sứ một bộ. Hầu bao 1 cái, bát tàu một đôi, chén tàu một đôi, bát chiết yên 1 đôi, nậm 1 cái, trâu một thủ, bò một thủ, lợn 1 con, gà một con, vịt một con, ngan 1 con, mèo 1 con, chó 1 con, chiếu 1 cái, dao 1 con, khiên 1 cái, đột 1 cái, kiều 1 cái, cày 1 cái, bừa 1 cái, mai 1 cái, kim ngân vàng mã 100.

    Tất cả các thứ cứ xin các vị ở Địa phủ là các bậc Diêm la, Chưởng chân y sứ giả, Võ Lâm Đại thần giao phó tới hồn... là 1 vị chân linh đem về nơi âm trạch dùng mãi các thứ đó. Nếu gửi người nào vô danh không được có ý tranh chiếm, không được có ý chiếm đoạt.

    Xin cung kính các vị

    Hoàng Lục Nguyễn chưởng, Chân y sứ giả, Võ lâm đại thần, Giám độ đại thần chứng minh cho sự hóa chân hương.

    Cứ mong sự chứng minh.

    Qua bài văn tế võ lâm trên, chúng tôi thấy rằng đây là một văn bản có ý nghĩa cho việc tìm hiểu truyền thống thượng võ của Bắc Giang. Nó là một văn bản cách ngày nay đã hơn 100 năm, cùng thời mà Hoàng Hoa Thám phất cờ chống Pháp; lại là văn bản có ở đất cụ đề vì thế nó sẽ gợi mở cho chúng ta có thể tìm hiểu thêm nhiều điều về truyền thống thượng võ ngay trên mảnh đất cụ Đề, đúng như câu ca xưa rằng:

    Đất này là đất cụ Đề

    Tây lên thì có, Tây về thì không. /.

    Theo báo Bắc Giang

    Kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long, người hâm mộ Việt cùng nhau chia sẻ những hình ảnh của Lý Tiểu Long với nhiều lời chúc sinh nhật.

    Mặc dù đã qua đời từ lâu nhưng tên tuổi Lý Tiểu Long vẫn sống mãi trong lòng người hâm mộ trên khắp thế giới. Cứ mỗi lần kỷ niệm ngày sinh nhật của huyền thoại, những tín đồ yêu võ đều nhớ đến và chia sẻ những hình ảnh của ông. Với những gì đã cống hiến, Lý Tiểu Long đã trở thành một tượng đài vững chắc trong lòng người hâm mộ võ thuật.

    Nhiều hình ảnh chúc mừng sinh nhật Lý Tiểu Long được chia sẻ

    Cộng đồng võ thuật Việt cũng “rần rần” chia sẻ những hình ảnh của Lý Tiểu Long cùng nhiều lời chúc mừng sinh nhật. Độc giả Y.N gửi lời chúc đến Lý Tiểu Long rằng: “Cảm ơn những cống hiến của Lý Tiểu Long cho võ thuật, chúc mừng sinh nhật một huyền thoại.”


    Người hâm mộ chia sẻ lời chúc trên mạng xã hội Facebook

    Mặc dù đã ra đi hơn 40 năm nhưng cái tên Lý Tiểu Long vẫn mãi là huyền thoại trong làng điện ảnh cũng như là thần tượng của rất nhiều thế hệ trên toàn thế giới. Thương hiệu “cú đấm 1 inch” cùng những triết lý trong môn võ Triệt quyền đạo của ông vẫn luôn là di sản vô giá mà Lý Tiểu Long đã để lại cho đời sau.



    Một trang xã hội về môn võ Triệt Quyền Đạo gửi lời chúc đến người sáng lập ra môn võ – Lý Tiểu Long

    Lý Tiểu Long bắt đầu sự nghiệp điện ảnh của mình từ năm 1966. Tên tuổi của ông gây được tiếng vang lớn và trở thành một biểu tượng mới trên màn ảnh qua các bộ phim kinh điển như: Đường sơn đại huynh (1971), Tinh võ môn (1972), Mãnh long quá giang (1972), Long tranh hổ đấu (1973)… Khi nhắc đến Lý Tiểu Long, khán giả sẽ nghĩ đến ông với những côn nhị khúc đầy biến ảo, những cú đấm chết người hay những cú song phi không thể đỡ nổi.

    Có thể bạn quan tâm: Clip chúc mừng sinh nhật của Lý Tiểu Long

    Quang Phong (Tổng hợp)
    nguồn: http://www.vothuat.vn/vo-thuat-cuoc-song/nguoi-ham-mo-viet-gui-nhieu-loi-chuc-sinh-nhat-den-ly-tieu-long.html

    Cộng đồng mạng kỉ niệm ngày sinh nhật ngôi sao võ thuật Lý Tiểu Long

    Posted at  tháng 9 10, 2018  |  in  Huyền-thoại-võ-thuật  |  Read More»

    Kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long, người hâm mộ Việt cùng nhau chia sẻ những hình ảnh của Lý Tiểu Long với nhiều lời chúc sinh nhật.

    Mặc dù đã qua đời từ lâu nhưng tên tuổi Lý Tiểu Long vẫn sống mãi trong lòng người hâm mộ trên khắp thế giới. Cứ mỗi lần kỷ niệm ngày sinh nhật của huyền thoại, những tín đồ yêu võ đều nhớ đến và chia sẻ những hình ảnh của ông. Với những gì đã cống hiến, Lý Tiểu Long đã trở thành một tượng đài vững chắc trong lòng người hâm mộ võ thuật.

    Nhiều hình ảnh chúc mừng sinh nhật Lý Tiểu Long được chia sẻ

    Cộng đồng võ thuật Việt cũng “rần rần” chia sẻ những hình ảnh của Lý Tiểu Long cùng nhiều lời chúc mừng sinh nhật. Độc giả Y.N gửi lời chúc đến Lý Tiểu Long rằng: “Cảm ơn những cống hiến của Lý Tiểu Long cho võ thuật, chúc mừng sinh nhật một huyền thoại.”


    Người hâm mộ chia sẻ lời chúc trên mạng xã hội Facebook

    Mặc dù đã ra đi hơn 40 năm nhưng cái tên Lý Tiểu Long vẫn mãi là huyền thoại trong làng điện ảnh cũng như là thần tượng của rất nhiều thế hệ trên toàn thế giới. Thương hiệu “cú đấm 1 inch” cùng những triết lý trong môn võ Triệt quyền đạo của ông vẫn luôn là di sản vô giá mà Lý Tiểu Long đã để lại cho đời sau.



    Một trang xã hội về môn võ Triệt Quyền Đạo gửi lời chúc đến người sáng lập ra môn võ – Lý Tiểu Long

    Lý Tiểu Long bắt đầu sự nghiệp điện ảnh của mình từ năm 1966. Tên tuổi của ông gây được tiếng vang lớn và trở thành một biểu tượng mới trên màn ảnh qua các bộ phim kinh điển như: Đường sơn đại huynh (1971), Tinh võ môn (1972), Mãnh long quá giang (1972), Long tranh hổ đấu (1973)… Khi nhắc đến Lý Tiểu Long, khán giả sẽ nghĩ đến ông với những côn nhị khúc đầy biến ảo, những cú đấm chết người hay những cú song phi không thể đỡ nổi.

    Có thể bạn quan tâm: Clip chúc mừng sinh nhật của Lý Tiểu Long

    Quang Phong (Tổng hợp)
    nguồn: http://www.vothuat.vn/vo-thuat-cuoc-song/nguoi-ham-mo-viet-gui-nhieu-loi-chuc-sinh-nhat-den-ly-tieu-long.html

    Anh hùng xạ điêu của Việt Nam
    Nhắc đến giới “võ lâm” Việt Nam, không thể không kể tên cụ Cử Tốn (1861 - 1949), người được những bậc lão làng hiện tại tôn sùng.

    Cụ Cử Tốn tên thật là Nguyễn Đình Trọng, người vùng Tây Hồ (Hà Nội) hiện nay. Ông sinh ra trong dòng họ võ tướng, 18 tuổi đã đỗ kỳ thi Hương (cử võ) sau đó cũng đoạt luôn ngôi đầu kỳ thi Hội (Phó bảng võ).
    Đáng tiếc là đến kỳ thi Đình, do gia đình có việc đột xuất nên ông phải bỏ và không đoạt được danh hiệu cao nhất. Tuy nhiên, tài năng của cụ Cử Tốn mà đặc biệt là khả năng bắn cung, đã sớm được truyền đến tai vua Tự Đức.

    Theo lời võ sư Nguyễn Văn Thắng, Chưởng môn phái Thăng Long Võ Đạo kể, ngày đó vua Tự Đức cho tổ chức cuộc thi bắn cung Cửu Phụng trước Nghị Tiềm. Tham gia cuộc thi này đều là những võ tướng, nhân tài giỏi bắn cung nhất cả nước, bao gồm cụ Cử Tốn.

    Dù còn trẻ và chưa có kinh nghiệm ở những nơi đông người, trang nghiêm song cụ Cử Tốn đã rất bình tĩnh để bắn liền lúc 9 mũi tên đi trúng hồng tâm.

    Khả năng bắn cung chuẩn xác và cực nhanh của cụ Cử Tốn đã khiến tất cả, trong đó có vua Tự Đức phải nể phục. Sau đó, vua liền phong cho ông danh hiệu Xạ năng quán quốc.

    Tuy nhiên tài năng bắn cung của cụ Cử Tốn không chỉ dừng lại ở đó. Trong Gia phả dòng họ Nguyễn Đình có ghi chép lại về tài năng của ông:

    “Đương thời, dù là con ngựa bất kham đến đâu cụ Cử Tốn cũng trị được. Không chỉ thế, ngồi trên mình ngựa bắn cung cũng tuyệt vời. Mỗi lần đi săn cụ Cử Tốn chỉ bắn chim bay không thèm bắn chim đậu”.

    Sau này, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng từng muốn thử thách cụ Cử Tốn bằng cách yêu cầu ông trổ tài bắn cung. Chúng chỉ lên ngọn cây nơi có nhiều con chim đang đậu, chỉ định cụ phải bắn trúng 1 con rồi sau đó rung cây, xong mới được bắn.

    Đáng tiếc chiêu trò này của thực dân Pháp không làm khó được cụ Cử Tốn. Khi lũ chim nháo nhác bay đi, cụ đã kịp bắn hạ con chim được chỉ định trước đó.



    Cụ Cử Tốn - huyền thoại võ thuật Việt Nam.

    Thương thuật “vô đối” hạ gục 10 tên cướp giỏi võ

    Ngoài bắn cung, cụ Cử Tốn còn tinh thông võ thuật tay không cận chiến và tất cả các loại vũ khí. Trong đó, ông đặc biệt giỏi thương thuật đến mức “không đối thủ”.

    Khi đang trấn thủ ở Lục Đầu Giang, cụ Cử Tốn lúc đó mới ngoài 40 tuổi, đã khiến bè lũ hắc đạo vùng này không thể tác oai, tác quái. Vì thù ghét cụ, đã có khoảng 10 tên cướp võ nghệ cao cường hợp sức lại, định mai phục ở vùng rừng vắng vẻ Đèo Keo để tập kích.

    Quả thật, lũ cướp đã chờ được cơ hội khi cụ đi một mình để ra tay. Song dù khi đó cụ Cử Tốn chỉ có tay không, vẫn đánh nhau ác liệt và chiếm tiên cơ trước lũ cướp.

    Đến khi cụ cướp được một thanh giáo từ đối thủ, thì thế cục nhanh chóng ngã ngũ. Hai tên cướp được cho là đã bỏ mạng dưới mũi thương của cụ Cử Tốn.

    Vì không muốn cuộc chiến kéo dài, tổn thất thêm sinh mạng nên sau đó, cụ Cử Tốn đã tìm cách thoát thân, nhảy xuống sông Lục Đầu Giang rồi lặn một hơi mất tăm.


    Cướp lương thảo của thực dân Pháp

    Sau này khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, cụ Cử Tốn lúc đó không còn làm quan mà đã lui về, mở lò võ từ lâu.

    Một lần, ông quyết định cùng các học trò đánh chiếm lương thực đang trên đường vận chuyển. Trong quá trình đánh nhau ác liệt, cụ Cử Tốn dính thương nặng ở chân rồi sau đó bị thọt.

    Thực dân Pháp sau quá trình điều tra, đã nghi ngờ lò võ của cụ Cử Tốn là những người ra tay cướp lương thảo.

    Nhưng do không có chứng cứ, chúng đã tìm ra cách để đối phó, dẹp lò võ của cụ. Từ đó, một đấu trường đẫm máu, sát nhân đã được chúng dựng lên, kêu gọi các võ sĩ từ khắp nơi trên thế giới đến Việt Nam chiến đấu.

    Chúng tôi sẽ chuyển đến độc giả phần “Võ đài đẫm máu và chiến thắng oanh liệt của võ Việt Nam” vào sáng mai.

    Cụ Cử Tốn một mình hạ 10 tên cướp mệnh danh anh hùng xạ điêu của Việt Nam

    Posted at  tháng 9 10, 2018  |  in  Huyền-thoại-võ-thuật  |  Read More»

    Anh hùng xạ điêu của Việt Nam
    Nhắc đến giới “võ lâm” Việt Nam, không thể không kể tên cụ Cử Tốn (1861 - 1949), người được những bậc lão làng hiện tại tôn sùng.

    Cụ Cử Tốn tên thật là Nguyễn Đình Trọng, người vùng Tây Hồ (Hà Nội) hiện nay. Ông sinh ra trong dòng họ võ tướng, 18 tuổi đã đỗ kỳ thi Hương (cử võ) sau đó cũng đoạt luôn ngôi đầu kỳ thi Hội (Phó bảng võ).
    Đáng tiếc là đến kỳ thi Đình, do gia đình có việc đột xuất nên ông phải bỏ và không đoạt được danh hiệu cao nhất. Tuy nhiên, tài năng của cụ Cử Tốn mà đặc biệt là khả năng bắn cung, đã sớm được truyền đến tai vua Tự Đức.

    Theo lời võ sư Nguyễn Văn Thắng, Chưởng môn phái Thăng Long Võ Đạo kể, ngày đó vua Tự Đức cho tổ chức cuộc thi bắn cung Cửu Phụng trước Nghị Tiềm. Tham gia cuộc thi này đều là những võ tướng, nhân tài giỏi bắn cung nhất cả nước, bao gồm cụ Cử Tốn.

    Dù còn trẻ và chưa có kinh nghiệm ở những nơi đông người, trang nghiêm song cụ Cử Tốn đã rất bình tĩnh để bắn liền lúc 9 mũi tên đi trúng hồng tâm.

    Khả năng bắn cung chuẩn xác và cực nhanh của cụ Cử Tốn đã khiến tất cả, trong đó có vua Tự Đức phải nể phục. Sau đó, vua liền phong cho ông danh hiệu Xạ năng quán quốc.

    Tuy nhiên tài năng bắn cung của cụ Cử Tốn không chỉ dừng lại ở đó. Trong Gia phả dòng họ Nguyễn Đình có ghi chép lại về tài năng của ông:

    “Đương thời, dù là con ngựa bất kham đến đâu cụ Cử Tốn cũng trị được. Không chỉ thế, ngồi trên mình ngựa bắn cung cũng tuyệt vời. Mỗi lần đi săn cụ Cử Tốn chỉ bắn chim bay không thèm bắn chim đậu”.

    Sau này, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng từng muốn thử thách cụ Cử Tốn bằng cách yêu cầu ông trổ tài bắn cung. Chúng chỉ lên ngọn cây nơi có nhiều con chim đang đậu, chỉ định cụ phải bắn trúng 1 con rồi sau đó rung cây, xong mới được bắn.

    Đáng tiếc chiêu trò này của thực dân Pháp không làm khó được cụ Cử Tốn. Khi lũ chim nháo nhác bay đi, cụ đã kịp bắn hạ con chim được chỉ định trước đó.



    Cụ Cử Tốn - huyền thoại võ thuật Việt Nam.

    Thương thuật “vô đối” hạ gục 10 tên cướp giỏi võ

    Ngoài bắn cung, cụ Cử Tốn còn tinh thông võ thuật tay không cận chiến và tất cả các loại vũ khí. Trong đó, ông đặc biệt giỏi thương thuật đến mức “không đối thủ”.

    Khi đang trấn thủ ở Lục Đầu Giang, cụ Cử Tốn lúc đó mới ngoài 40 tuổi, đã khiến bè lũ hắc đạo vùng này không thể tác oai, tác quái. Vì thù ghét cụ, đã có khoảng 10 tên cướp võ nghệ cao cường hợp sức lại, định mai phục ở vùng rừng vắng vẻ Đèo Keo để tập kích.

    Quả thật, lũ cướp đã chờ được cơ hội khi cụ đi một mình để ra tay. Song dù khi đó cụ Cử Tốn chỉ có tay không, vẫn đánh nhau ác liệt và chiếm tiên cơ trước lũ cướp.

    Đến khi cụ cướp được một thanh giáo từ đối thủ, thì thế cục nhanh chóng ngã ngũ. Hai tên cướp được cho là đã bỏ mạng dưới mũi thương của cụ Cử Tốn.

    Vì không muốn cuộc chiến kéo dài, tổn thất thêm sinh mạng nên sau đó, cụ Cử Tốn đã tìm cách thoát thân, nhảy xuống sông Lục Đầu Giang rồi lặn một hơi mất tăm.


    Cướp lương thảo của thực dân Pháp

    Sau này khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, cụ Cử Tốn lúc đó không còn làm quan mà đã lui về, mở lò võ từ lâu.

    Một lần, ông quyết định cùng các học trò đánh chiếm lương thực đang trên đường vận chuyển. Trong quá trình đánh nhau ác liệt, cụ Cử Tốn dính thương nặng ở chân rồi sau đó bị thọt.

    Thực dân Pháp sau quá trình điều tra, đã nghi ngờ lò võ của cụ Cử Tốn là những người ra tay cướp lương thảo.

    Nhưng do không có chứng cứ, chúng đã tìm ra cách để đối phó, dẹp lò võ của cụ. Từ đó, một đấu trường đẫm máu, sát nhân đã được chúng dựng lên, kêu gọi các võ sĩ từ khắp nơi trên thế giới đến Việt Nam chiến đấu.

    Chúng tôi sẽ chuyển đến độc giả phần “Võ đài đẫm máu và chiến thắng oanh liệt của võ Việt Nam” vào sáng mai.

    About-Privacy Policy-Contact us
    Copyright © 2013 Võ thuật Cổ Truyền - Võ Cổ Truyền Việt Nam - tin tức liên đoàn Võ thuật cổ truyền. Distributed By Võ thuật cổ truyền Việt Nam | https://banhngot.vn by https://banhngot.vn/ cung cấp Giỏ quà tết Bình Dương
    Proudly Powered by Võ Cổ truyền Việt Nam Phát triển xây dựng nội sung Bánh ngọtViệt Nam Bánh kem Hương vị Việt #banhngotvn Xem nhiều mẫu bánh sinh nhật võ thuật Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương Xem nhiều Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương
    back to top