• Featured

    Chia sẻ thông tin kiến thức, phương pháp tập luyện, chế độ dinh dưỡng cần thiết võ cổ truyền

  • Featured

    Don't miss these 10 Things if you are going for Picnic.

  • Articles

    iPhone 6 Will Look Like

  • Articles

    Solar Powered UAVs To Replace Satellites

  • Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch-sử-võ-thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
    Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch-sử-võ-thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
    Trung Quốc là một quốc gia có nền văn minh lâu đời chứa ẩn trong đó một hệ thống triết học, vũ trụ quan và nhân sinh quan thâm thuý, đồng thời còn là cái nôi của một nền võ thuật và y học kỳ lạ, nhưng cũng rất cần thiết cho nhân loại.

    Khí công - Công phu là vấn đề không kém phần quan trọng được nghiên cứu và khảo luận từ lâu. Ngày nay ở Trung Quốc có hơn 3000 trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Khí công - Công phu, bao gồm nhiều môn phái và môn sinh trên toàn quốc.Các trung tâm khoa học hiện đại cũng tham gia nghiên cứu về Khí công - Công phu.

    Tuy là một vấn đề quan trọng đối với sức khoẻ, hạnh phúc và tiềm năng của con người, nhưng Khí công - Công phu cũng như nhiều lĩnh vực khác vẫn chưa đi đến một học thuyết hoàn chỉnh và phổ cập đi sâu vào lĩnh vực này. Còn biết bao nhiêu vấn đề nan giải được đặt ra. Thêm nữa, trong quá trình lịch sử Trung Quốc cách đặt vấn đề và chiết giải nó về phương pháp và khái niệm có một sự khác nhau và có sự cách biệt với khoa học hiện đại mang đặc tính của nền văn minh Tây phương.

    Con đường vượt qua sự bí truyền, tâm truyền, khắc phục được sự thất truyền để hiểu thấu đáo Khí Công -Công Phu đồng thời lại diễn giải dưới ánh sáng của Khoa học hiện đại để chỉ ra được bản chất của nó và phổ biến rộng rãi thật là khó khăn.

    Muốn thấu hiểu được điều đó, cần phải đạt được những điều kiện tối thiểu sau:
    1 - Hiểu rõ triết học Trung Quốc, nhất là triết lý Kinh Dịch và tư tưởng Lão giáo;
    2 - Hiểu rõ lịch sử Trung Quốc qua các thời đại;
    3 - Hiểu rõ Đông Y học và thành công trong thực hành;
    4 - Tự bản thân phải luyện Khí Công - Công Phu đạt được tới khả năng nào đó, để chứng nghiệm bổ khuyết lý thuyết đồng thời chứng minh được luận thuyết;
    5 - Hiểu rõ vật lý, sinh học, y học Tây phương;
    6 - Hiểu rõ triết hoc hiện đại.

    Chưa nói đến biết bao sự liên quan khác và vấn đề ngôn ngữ.

    Từng đó điều kiện đặt ra và yêu cầu bắt buộc đối với chúng ta là vô cùng khó khăn, một tập thể, một trung tâm, một hệ thống chưa chắc đã làm nổi, huống chi là một con người.
    Với từng đó những khó khăn, phức tạp, rất có thể vấn đề Khí Công - Công phu mãi mãi chỉ là những khảo cứu để tiến gần chân lý mà thôi.

    Những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực Khí Công - Công Phu có thể là những vấn đề sau:

    Bản chất Khí Công - Công phu là gì?
    Sự luân chuyển Khí trong cơ thể ra sao và liên quan như thế nào với cơ thể?
    Từ khí chuyển thành Công phu như thế nào?
    Các khả năng của Khí và Công Phu.
    Luyện tập Khí Công - Công Phu thế nào.v..v..v....
    Có một vấn đề hết sức có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay là sự nghiên cứu Khí Công cho phép nhân loại tìm một phương pháp Dưỡng Sinh để chống lại bệnh tật và tuổi già, đó là mối quan tâm rất lớn.

    Trên thế giới hiện nay, ngoài ba bệnh nan y là:
    - Thần kinh: Biết bao người mắc bệnh suy nhược thần kinh đến các chứng Hysteri.......
    - Ung thư: Một căn bệnh khó phát hiện sớm, đến khi phát hiện được thì quá muộn, cơ may sống rất mỏng manh.
    - Tim mạch: Các chứng bệnh huyết áp cao, nhối máu cơ tim, giãn tĩnh mạch, sơ cứng động mạch, gây ra không biết bao nhiêu cái chết đột ngột, hay xuất huyến não làm nhiều người trở thành tàn phế suốt đời.

    Ngoài ra còn biết bao chứng bệnh phức tạp, mà từ em bé đến người già đều có thể mắc phải, làm ảnh hưởng tới cuộc sống và hạnh phúc của mọi người.

    Chằng hạn, hiện nay bệnh AIDS, một hiểm hoạ ghê gớm mà con người đang phải đương đầu, mọi phương pháp trị liệu đưa ra đều chưa tỏ ra có hiệu lực, trong khi đó số lượng bệnh nhân tăng từng ngày từng giờ ở các nước.

    Các tổng kết ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, riêng bệnh tật làm ảnh hưởng tới năng suất, thời gian lao động rất lớn. Hơn nữa lượng tiền đổ vào để chữa chạt cũng rất lớn. Cho nên trong tương lai phương pháp Khí Công - Công Phu chữa bệnh và tự chữa bệnh sẽ đóng góp rất lớn cho nền y học thế giới.

    Như chúng ta đã từng biết, Khí Công - Công Phu gắn liền với võ thuật. Bất cứ ai học võ đều phải qua quá trình rèn luyện Khí Công - Nội Công - quyền thuật - binh khí.
    Khí công thực chất ra đời trước võ thuật, gắn liền với Thiền học, với Đạo Phật, Yoga....và các phương pháp dưỡng sinh đạo dẫn, luyện trường sinh bất lão. Đến khi truyền tới Trung Quốc, Khí công mới được hoàn thiện và tách ra thành một môn độc lập, nhưng tất cả các môn khác đều lấy đó làm cơ sở.

    Người Trung Quốc tự hào có một nền võ thuật Khí công lâu đời đạt nhiều thành tựu. Như Giáo sư Tiền Học Sâm, cha đẻ của ngành tên lửa Trung Quốc đã nói: "Trong hoàn cảnh hiện nay người Trung Quốc khó lòng đột phá vào khoa học cơ bản, vốn đã nằm trong tay người phương Tây. Trong tương lai người Trung Quốc muốn so tài với thế giới chỉ có hai con đường hoặc nghiên cứu Trung Y (y học cổ truyền) hoặc là nghiên cứu Khí công".

    Hay giáo sư Trần Lý An, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đài Loai, Nguyên chủ tịch Uỷ ban Khoa học Nhà nước khẳng định: "Nghiên cứu Khí công là con đường duy nhất để người Trung Quốc đoạt được giải Nobel".

    Hiện tại trên toàn Trung Quốc có hơn 3000 trung tâm nghiên cứu Khí công - Công phu và con số này ngày càng nhiều.Cùng với các dòng võ thuật Châu Á tràn sang Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, các môn Khí Công - Công phu để lại không ít ngạc nhiên cho người Tây Phương.

    Khí công ngày nay tuy có vẻ gạt bỏ được một phần nào màu sắc huyền bí, nhưng lại gạt bỏ mất phần nào quan trọng nhất, tức là cái gốc bản chất, khả năng luyện tập. Hiện tại lại thiên về phần ngọn, thất đáng tiếc. Việc đi làm tìm lại các nguồn, các nghiên cứu và kết quả của cổ nhân là một vấn đề hết sức cần thiết và các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đạt được những kết quả đáng quan tâm. Hơn nữa họ đã chọn hướng đi là áp dụng vào việc chữa bệnh và tự chữa bệnh cũng như Dưỡng sinh là hướng đi cần thiết và mang nhiều ý nghĩa thiết thực.

    Khí công Trung Hoa - nền tảng võ thuật Trung Quốc

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Trung Quốc là một quốc gia có nền văn minh lâu đời chứa ẩn trong đó một hệ thống triết học, vũ trụ quan và nhân sinh quan thâm thuý, đồng thời còn là cái nôi của một nền võ thuật và y học kỳ lạ, nhưng cũng rất cần thiết cho nhân loại.

    Khí công - Công phu là vấn đề không kém phần quan trọng được nghiên cứu và khảo luận từ lâu. Ngày nay ở Trung Quốc có hơn 3000 trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Khí công - Công phu, bao gồm nhiều môn phái và môn sinh trên toàn quốc.Các trung tâm khoa học hiện đại cũng tham gia nghiên cứu về Khí công - Công phu.

    Tuy là một vấn đề quan trọng đối với sức khoẻ, hạnh phúc và tiềm năng của con người, nhưng Khí công - Công phu cũng như nhiều lĩnh vực khác vẫn chưa đi đến một học thuyết hoàn chỉnh và phổ cập đi sâu vào lĩnh vực này. Còn biết bao nhiêu vấn đề nan giải được đặt ra. Thêm nữa, trong quá trình lịch sử Trung Quốc cách đặt vấn đề và chiết giải nó về phương pháp và khái niệm có một sự khác nhau và có sự cách biệt với khoa học hiện đại mang đặc tính của nền văn minh Tây phương.

    Con đường vượt qua sự bí truyền, tâm truyền, khắc phục được sự thất truyền để hiểu thấu đáo Khí Công -Công Phu đồng thời lại diễn giải dưới ánh sáng của Khoa học hiện đại để chỉ ra được bản chất của nó và phổ biến rộng rãi thật là khó khăn.

    Muốn thấu hiểu được điều đó, cần phải đạt được những điều kiện tối thiểu sau:
    1 - Hiểu rõ triết học Trung Quốc, nhất là triết lý Kinh Dịch và tư tưởng Lão giáo;
    2 - Hiểu rõ lịch sử Trung Quốc qua các thời đại;
    3 - Hiểu rõ Đông Y học và thành công trong thực hành;
    4 - Tự bản thân phải luyện Khí Công - Công Phu đạt được tới khả năng nào đó, để chứng nghiệm bổ khuyết lý thuyết đồng thời chứng minh được luận thuyết;
    5 - Hiểu rõ vật lý, sinh học, y học Tây phương;
    6 - Hiểu rõ triết hoc hiện đại.

    Chưa nói đến biết bao sự liên quan khác và vấn đề ngôn ngữ.

    Từng đó điều kiện đặt ra và yêu cầu bắt buộc đối với chúng ta là vô cùng khó khăn, một tập thể, một trung tâm, một hệ thống chưa chắc đã làm nổi, huống chi là một con người.
    Với từng đó những khó khăn, phức tạp, rất có thể vấn đề Khí Công - Công phu mãi mãi chỉ là những khảo cứu để tiến gần chân lý mà thôi.

    Những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực Khí Công - Công Phu có thể là những vấn đề sau:

    Bản chất Khí Công - Công phu là gì?
    Sự luân chuyển Khí trong cơ thể ra sao và liên quan như thế nào với cơ thể?
    Từ khí chuyển thành Công phu như thế nào?
    Các khả năng của Khí và Công Phu.
    Luyện tập Khí Công - Công Phu thế nào.v..v..v....
    Có một vấn đề hết sức có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay là sự nghiên cứu Khí Công cho phép nhân loại tìm một phương pháp Dưỡng Sinh để chống lại bệnh tật và tuổi già, đó là mối quan tâm rất lớn.

    Trên thế giới hiện nay, ngoài ba bệnh nan y là:
    - Thần kinh: Biết bao người mắc bệnh suy nhược thần kinh đến các chứng Hysteri.......
    - Ung thư: Một căn bệnh khó phát hiện sớm, đến khi phát hiện được thì quá muộn, cơ may sống rất mỏng manh.
    - Tim mạch: Các chứng bệnh huyết áp cao, nhối máu cơ tim, giãn tĩnh mạch, sơ cứng động mạch, gây ra không biết bao nhiêu cái chết đột ngột, hay xuất huyến não làm nhiều người trở thành tàn phế suốt đời.

    Ngoài ra còn biết bao chứng bệnh phức tạp, mà từ em bé đến người già đều có thể mắc phải, làm ảnh hưởng tới cuộc sống và hạnh phúc của mọi người.

    Chằng hạn, hiện nay bệnh AIDS, một hiểm hoạ ghê gớm mà con người đang phải đương đầu, mọi phương pháp trị liệu đưa ra đều chưa tỏ ra có hiệu lực, trong khi đó số lượng bệnh nhân tăng từng ngày từng giờ ở các nước.

    Các tổng kết ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, riêng bệnh tật làm ảnh hưởng tới năng suất, thời gian lao động rất lớn. Hơn nữa lượng tiền đổ vào để chữa chạt cũng rất lớn. Cho nên trong tương lai phương pháp Khí Công - Công Phu chữa bệnh và tự chữa bệnh sẽ đóng góp rất lớn cho nền y học thế giới.

    Như chúng ta đã từng biết, Khí Công - Công Phu gắn liền với võ thuật. Bất cứ ai học võ đều phải qua quá trình rèn luyện Khí Công - Nội Công - quyền thuật - binh khí.
    Khí công thực chất ra đời trước võ thuật, gắn liền với Thiền học, với Đạo Phật, Yoga....và các phương pháp dưỡng sinh đạo dẫn, luyện trường sinh bất lão. Đến khi truyền tới Trung Quốc, Khí công mới được hoàn thiện và tách ra thành một môn độc lập, nhưng tất cả các môn khác đều lấy đó làm cơ sở.

    Người Trung Quốc tự hào có một nền võ thuật Khí công lâu đời đạt nhiều thành tựu. Như Giáo sư Tiền Học Sâm, cha đẻ của ngành tên lửa Trung Quốc đã nói: "Trong hoàn cảnh hiện nay người Trung Quốc khó lòng đột phá vào khoa học cơ bản, vốn đã nằm trong tay người phương Tây. Trong tương lai người Trung Quốc muốn so tài với thế giới chỉ có hai con đường hoặc nghiên cứu Trung Y (y học cổ truyền) hoặc là nghiên cứu Khí công".

    Hay giáo sư Trần Lý An, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đài Loai, Nguyên chủ tịch Uỷ ban Khoa học Nhà nước khẳng định: "Nghiên cứu Khí công là con đường duy nhất để người Trung Quốc đoạt được giải Nobel".

    Hiện tại trên toàn Trung Quốc có hơn 3000 trung tâm nghiên cứu Khí công - Công phu và con số này ngày càng nhiều.Cùng với các dòng võ thuật Châu Á tràn sang Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, các môn Khí Công - Công phu để lại không ít ngạc nhiên cho người Tây Phương.

    Khí công ngày nay tuy có vẻ gạt bỏ được một phần nào màu sắc huyền bí, nhưng lại gạt bỏ mất phần nào quan trọng nhất, tức là cái gốc bản chất, khả năng luyện tập. Hiện tại lại thiên về phần ngọn, thất đáng tiếc. Việc đi làm tìm lại các nguồn, các nghiên cứu và kết quả của cổ nhân là một vấn đề hết sức cần thiết và các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đạt được những kết quả đáng quan tâm. Hơn nữa họ đã chọn hướng đi là áp dụng vào việc chữa bệnh và tự chữa bệnh cũng như Dưỡng sinh là hướng đi cần thiết và mang nhiều ý nghĩa thiết thực.

    VÕ BỊ VÀ BINH CHẾ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ 15 TỚI THẾ KỶ 18

    Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh, Bình Định Vương Lê Lợi rất coi trọng chất lượng quân đội. Năm 1427 chỉ còn chờ hạ thành Đông Quan, quân đội tuy rất quen chiến trận, mà vẫn phải tổ chức tập trận thủy chiến. Cũng lúc này, để xây dựng đội thị vệ, bộ chỉ huy khởi nghĩa cho tuyển con em của dân chúng giàu có, thân thể khỏe mạnh, tinh thông võ nghệ, tinh thần gan dạ, mỗi viên thiếu úy phải tuyển 200 người, kẻ nào nhát sợ thì không dùng. Quân luật rất nghiêm, các võ quan được lệnh ngày thường không được tự ý giết binh sĩ phạm pháp nhưng khi ra trận mà trái lệnh thì chém trước tâu sau. Lại ban ra mười điều quân luật và ba điều răn các quan võ.

    Năm 1428 kháng chiến thắng lợi, vua Lê Thái Tổ cho quân của cả 5 vệ tổng thao diễn biểu dương lực lượng, sau đó giảm quân số từ 35 vạn xuống còn 10 vạn ; chia làm 5 phiên lần lượt thay nhau 4 phiên về làm ruộng, chỉ giữ một phiên gồm 2 vạn tại ngũ làm quân thường trực. Số quân ấy ít, song trong cả nước số quân nhân phục viên biết võ nghệ quân sự rất đông lại vẫn thường xuyên luyện tập võ nghệ nên khi cần Nhà nước có thể huy động một đạo quân thiện chiến rất lớn.

    Chế độ binh chế được xây dựng chu đáo ngay từ thời Lê sơ, về sau thời Lê trung hưng, vẫn theo tổ chức cũ. Cuối năm 1428 nhà Lê đặt quy chế về cờ xí, nghi trượng cho các quân, chiến khí và thuyền ghe : trung đội cờ vàng, thượng đội cờ đỏ, hạ đội cờ trắng. Mỗi vệ một lá cờ lớn của chủ tướng. Mỗi quân một lá cờ hạng trung, 10 lá cờ đội và 40 lá cờ nhỏ. Thuyền chiến dùng vào hỏa công 10 chiếc, thuyền nhỏ đi tuần thám hai chiếc. Ống phun lửa loại đại tướng quân một chiếc, loại lớn 10 chiếc, loại trung 10 chiếc và loại nhỏ 80 chiếc. Nỏ mạnh 50 cái, câu liêm 50 cái, giáo dài 50 cái, phi liêm 40 cái, mộc mỗi người một chiếc. Phi tiêu (thủ tiễn) hạng nhất dùng mỗi người một chiếc, hạng nhì dùng mỗi người 3 chiếc ; dao to mỗi người 1 con. Mỗi quân và mỗi đội đều có một người thư lại biên chép.

    Quân đội nhà Lê ở giai đoạn đầu vua Lê Thái Tổ chia làm 6 quân ngự tiền và 5 quân đạo. Quân ngự tiền đóng ở kinh đô bảo vệ kinh thành, quân các đạo đóng ở địa phương. Các triều vua tiếp theo ngày càng hoàn chỉnh hệ thống quân đội, gồm thân binh hay cấm binh bảo vệ kinh đô, cung điện nhà vua, và ngoại binh trấn giữ các xứ.

    Quân đội phải thường xuyên tập võ nghệ và trận pháp, lại phải thao diễn để nâng cao trình độ chiến đấu. Năm 1434 vua Lê Thái Tổ ra sắc lệnh cho các quân ngự tiền và quân năm đạo đúng ngày 20 tháng giêng tập trung ở kinh thành để thao diễn gọi là đại tập quân kỳ. Riêng quân các đạo Thanh Hóa trở vào Nam, vì đường xa được tập trung ở bản trấn để diễn tập. Các vua sau đó, đặt việc diễn tập hàng năm này thành lệ thường. Ngoài ra thỉnh thoảng Nhà nước còn tổ chức diễn tập riêng từng binh chủng. Chẳng hạn năm 1435, nhà vua đi xem vệ quân năm đạo tập trận lục chiến, khi về lại duyệt thủy binh tập thủy chiến ở sông Nhị Hà. Cũng năm ấy, trong khi quân các đạo điểm duyệt tại bản trấn, thì các quân ngự tiền được giảng tập võ nghệ ở sân rồng nơi cung điện. Nhà vua chẳng những trực tiếp điểm duyệt quân đội, còn trực tiếp xem quân đội luyện tập. Chẳng hạn năm 1435 nhà vua đến bến Đông Tân xem năm quân thi bơi, năm 1437 vua đến trường đua xem tập võ nghệ, năm 1438 và 1439 cho các quân vào sân điện Giảng Võ tập tượng trận…
    Năm 1467 vua Lê Thánh Tông ban bố quân lệnh gồm 31 điều về thủy trận, 32 điều về tượng trận, 27 điều về mã trận và 42 điều về bộ trận cho quân túc vệ kinh sư, đồng thời nhà vua nhấn mạnh “phàm đã có quốc gia tất phải có võ bị”. Do đó quy định cụ thể ngày tập cho quân đội : ngày rằm hằng tháng binh lính đến phiên thay đổi, thì chỉ lưu một số để canh giữ, còn bao nhiêu người phải tập trung tập điều lệnh.

    Năm 1467 nhà vua lệnh cho các vệ, các ti Thần-võ, Du-nỗ, Thần-tí, Vũ-lâm và Ngũ-oai : mỗi khi quân sĩ đến phiên túc trực, đều thay đổi từng ban chuyên tập võ nghệ ; binh sĩ ở vệ Ngũ oai và các vệ ở các đạo ngoài kinh thành đều được nghỉ việc sai phái về tạp dịch, liệu định số người canh giữ, còn bao nhiêu phải chuyên tập võ nghệ, ban nào tập xong, quan sẽ duyệt lại và thưởng phạt theo lệ định. Nhà nước quy định thành lệ tất cả quân sĩ cứ 3 năm phải qua một kỳ khảo hạch về võ nghệ để kiểm tra kết quả luyện tập và động viên tinh thần luyện tập của quân sĩ : cứ đến mùa đông từng kỳ, các quan khảo xét sự giảng tập của quân thủy, quân bộ, quân thị hậu và quân ngoài các đạo ; nhân đấy định cách thức thưởng phạt : binh sĩ nào thắng luôn 4 tao, được thưởng 1 chiếc áo và 1 quan 5 tiền sử tiền. Nếu 2 tao thắng 1 tao bình, được thưởng 1 chiếc áo. Nếu 2 tao thắng, 2 tao bình thì thì được thưởng 6 tiền sử tiền. Nếu 1 tao thắng 3 tao bình thì được thưởng 3 tiền sử tiền ; nếu 4 tao đều bình thì được cấp cho tiền cơm và 20 đồng sử tiền. Ngược lại binh sĩ nào thua cũng phải phạt như thế.

    Với tính chất thưởng phạt vật chất cụ thể, mọi binh lính đều tự giác học tập để giành thành tích cao về võ nghệ. Và từ việc tập luyện ấy, các võ sĩ, lực sĩ, dũng sĩ, tráng sĩ rất được trọng dụng. Khi xét định chế độ quân ngũ, quân kinh sư được đặt biệt chú ý, trong đó các lực sĩ được phiên vào 10 ti (mỗi ti 100 người) túc trực ở điện Kim Quang ; ở cẩm y vệ có 10 ti gồm những dũng sĩ và 18 ti gồm những tráng sĩ ; ở Kim Ngô vệ có 14 ti gồm những võ sĩ và 4 ti gồm những tráng sĩ. Như vậy chỉ số võ sĩ, lực sĩ, dũng sĩ, tráng sĩ ở 56 ti trên đã lên tới 5600 người rồi. Những người lính này được tập luyện võ nghệ đều đặn và kiểm tra sức khỏe thường xuyên. Năm 1499 vua Lê Hiến Tông sai các chỉ huy ở Cẩm y vệ quy định thưởng phạt đối với các lực sĩ, dũng sĩ, võ sĩ kiểm tra võ nghệ đạt hay không đạt. Đồng thời, nhà vua chuẩn y lời tâu của thượng thư Bộ binh lập thành lệ các lực sĩ, dũng sĩ, võ sĩ ai ốm nặng được về quê điều trị 10 ngày, khi khỏi bệnh phải làm đơn khai nộp ở bộ binh để trung quan và quan khoa đài cùng xem xét, nếu sức vóc mạnh khỏe thì được trở lại chân lực sĩ, võ sĩ, dũng sĩ ở bản vệ ti ; nếu không thì sung vào quân điện tiền. Rõ ràng những người lính này được triều đình quản lý chặt chẽ. Đến năm 1509 ngoài 1.000 lực sĩ túc trực ở điện Kim Quang lại đặt thêm ti Phi Võ gồm 100 lực sĩ túc trực ở cung Đoan Khang, bổ nhiệm Nguyễn Tông làm Đô Phi võ lực sĩ nội sứ. Năm sau (1510) đặt thêm hai vệ Thiên võ và Thánh oai (ở cấp trên vệ Cẩm y và vệ Kim ngô), mỗi vệ có 8 ti, đều túc trực ở điện Kim Quang. Số lực sĩ bảo vệ vua rất nhiều.

    Năm 1467 Nhà nước còn sai quan văn thông thạo kinh sách đến giảng dạy việc luyện tập và đọc sách cho những bộ binh và kỵ binh có tiếng khỏe mạnh, dũng cảm.

    Về vũ khí, trong qui chế về chiến đấu năm 1428, ta biết quân đội nhà Lê được trang bị vũ khí phòng ngự là mộc, và vũ khí tấn công gồm vũ khí đánh gần như câu liêm giáo dài, dao to và vũ khí đánh xa gồm phi liêm, thủ tiễn, nỏ mạnh và ống phun lửa nhiều cỡ. Những vũ khí ấy đều do Nhà nước độc quyền chế tạo, rồi phân phối về các đơn vị và các địa phương. Năm 1469 vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụ cấm trong nước không ai được cất dấu đồ binh khí. Trong quân đội, nếu khí giới có hao mòn khuyết mẻ đều đem đến kho võ khí để tu tạo lại theo như quy thức, không ai được tự tiện đem đến các nơi nhà công, nhà lính ở ngoài để sửa chữa hoặc làm mới. Ai trái lệnh sẽ bị luận vào tội lưu khống chỉ vũ khí. Quân trang cũng được quy định : những thứ áo giáp mũ trụ để làm cho dung nghi quân sĩ được hùng mạnh như nón thủy ma ; nón sơn đỏ là thứ nón của thân quân đội túc trực để bảo vệ kinh thành, cấm nhân dân mua bán các thứ nón ấy.
    Thời Lê trung hưng vẫn giữ về cơ bản, chỉ thay đổi chi tiết : các thứ cờ xí, kiếm, kích, giáo, mộc, đao, súng, thuốc đạn đều do binh phiên cấp phát theo lệ. Các viên quản quân được cấp một thanh gươm. Các thứ binh khí không thường dùng như máy bắn đá, súng báng gỗ, súng bọc da, tên có lửa, thuốc lửa, đạn lửa, thuốc mù đều cấm chế tạo. Các viên quản binh có thể giữ một hai khẩu súng riêng, còn súng khác và cả ngựa đều không được chứa cất. Các cục làm súng đều thu hẹp, chỉ cho người các xã am hiểu được ứng dụng chế tạo. Cấm các phố phường, các dinh cư và tư nhân nuôi thợ làm súng bán riêng.

    Trang phục quân đội cũng được quy định để phân biệt với dân, phân biệt quân ở kinh và quân ở các trấn. Đầu thời Lê sơ, thủy quân đội nón thủy ma và nón sơn đỏ, đời Hồng thuận chế thêm kiểu mũ đỏ có cánh phượng đỏ dát vàng cho quân hai vệ Thiên vũ, Thanh uy. Thời Lê trung hưng áo mũ quân thị hậu đều bằng gai do binh phiên phát để may, còn áo mũ của quân các trấn thì bằng da trâu sơn đỏ. Do đó, trấn thủ các xứ, và các chợ ở kinh thành đều phải nộp 100 tấm da trâu.

    Mạc Đăng Dung vừa lập ra nhà Mạc năm trước thì năm sau 1528 tiến hành chấn chỉnh ngay chế độ quân đội, phỏng theo điều lệ đời Hồng Đức (1470 – 1497) xây dựng qui chế về danh hiệu các vệ, các sở, các ti, tên chức quan, số nhân viên và số quan lính trong kinh đô và ngoài các hộ thuộc năm phủ. Nhà Mạc đặt thêm vệ Hưng quốc và vệ Chiêu vũ, cùng với hai vệ Cẩm y và Kim ngô có trước thành bốn vệ, Lại chia người bổ vào các ti trong mỗi vệ, mỗi ti đặt một chỉ huy sứ, 1 chỉ huy đồng tri, 1 chỉ huy thiên sư, 10 trung hiệu, 1 thư ký, 1.100 tráng sĩ, chia làm 22 ban, Ban chia làm 5 giáp, mỗi giáp đặt một người làm giáp thủ, luân phiên vào trực.

    Năm 1532 nhà Mạc cấm các xứ trong ngoài không ai được cầm giáo mác và binh khí ở đường xá. Từ đấy người buôn bán và người đi đường đều đi tay không. Như vậy binh khí thời Mạc chỉ dùng vào việc quân sự, lưu hành trong quân đội.

    Do chiến tranh Mạc – Lê thường xuyên xảy ra nên võ nghệ càng được chú trọng nhiều khi phụ nữ cũng tham gia chiến trận, nhất là vợ các tướng lĩnh. Sử ghi năm 1571 Trương Trà là tướng nhà Lê đánh nhau với giặt, bị Nghĩa Sơn bắn chết, vợ Trương Trà là Trần thị cải trang làm đàn ông, ra trận đốc chiến, bắn chết được Nghĩa Sơn. Năm sau 1572, trong trận khác, Ngô Thị Ngọc Lâm là thị tì của Nguyễn Hoàng đã lập mưu dụ giết được Lập Bảo là tướng nhà Mạc. Cả sau cuộc tranh chấp Mạc – Lê, năm 1600 Phan Ngạn ngờ Văn Khuê làm phản, sai người bắt giết đi, vợ Văn Khuê là Nguyễn Thị Niên muốn báo thù chồng, bèn khuyến khích sĩ tốt, chiêu mộ người ai lấy được đầu Phan Ngạn sẽ trọng thưởng. Ngạn giận lắm, tự đốc sức thuyền chở binh lính tiến lên trước, bị trúng đạn chết.

    Nhà Lê sau khi trung hưng vẫn tiếp tục chính sách quân sự thời trước. Năm 1595, trên bến Thảo Tân, đoạn sông Nhị, ở phía Nam kinh thành, mùa xuân vừa tổ chức thi Hội thì mùa thu tổ chức duyệt quân sĩ rất lớn, số quân lính có tới hơn 12 vạn, để ấn định ngạch lính, lính cũ ở trong kinh và ngoài các đạo chỉ giữ lại người khỏe, còn người già yếu thì thải bớt, năm này nhà vua cũng cho tuyển lính để bổ sung.

    Trong cuộc tranh chấp Mạc – Lê, căn cứ nhà Lê ở vùng Thanh Nghệ nên cả sau đó nhà Lê chỉ lấy lính ở Thanh Nghệ, cấp cho ruộng công và ưu đãi cho chức sắc. Tiếp sang thế kỷ XVII cuộc tranh chấp Trịnh – Nguyễn càng thúc đẩy thêm mạnh việc rèn tập võ nghệ.

    Quân đội thời Lê trung hưng do bắt nguồn ở Thanh Nghệ. Sau khi thắng Mạc rồi được giữ lại đóng ở Kinh đô để bảo vệ Hoàng thành, còn lính ở các trấn chỉ có ngạch thôi, khi có việc mới tập họp, xong việc lại về làm ruộng. Năm 1721 chúa Trịnh định lại ngạch lính cả Thanh Nghệ và bốn trấn đều chọn 5 suất đinh lấy một người, phải kén người mạnh khỏe.

    Lính mới tuyển ở các địa phương, về sau theo lời bàn của Nguyễn Công Hãng, đầu năm 1724 tập trung về Kinh thành để luyện tập và thao diễn. Cuộc duyệt binh lần này có hơn vạn lính mới tuyển hàng ngũ tề chỉnh, được chúa Trịnh ban thưởng. Từ đây thành lệ, tháng 2 hàng năm đều cử hành lễ đại duyệt binh trọng thể với nghi thức chúa Trịnh thống suất quan quân các doanh, trang bị đầy đủ nhung phục và khí giới, đặt đàn tràng cáo tế ở lầu ngũ long, chiếu theo phương thức mở cờ, bắn sáng làm chấn động dung nghi quân sĩ.

    Quân lính từ năm 1722 ngoài quyền lợi vật chất và tập luyện võ nghệ, người nào thông hiểu nghĩa lý văn chương còn được tính phép cùng các sĩ tử thi hương, nếu gặp kỳ thi viết chữ, tính toán và khoa thi võ cũng được phép thi khảo ở ngay kinh đô.

    Năm 1740 Triều đình hạ lệnh : Phàm người nào có mưu lược, biết võ khỏe mạnh, có thể dùng vào việc cầm quân thì không câu nệ về tư cách phẩm trật, được đề cử tên từng người để Triều đình sẽ theo tài năng bổ sung. Đồng thời con cháu của bầy tôi có công người nào có sức mạnh, chiến đấu khỏe, sẽ cấp cho lương bổng rồi cho đi quân thứ.

    Cũng năm ấy, Nhà nước còn kén thêm binh thủy, chọn những người khỏe mạnh ở Sơn Nam, Sơn Tây và Kinh Bắc cho thuộc vào đội ngũ lính thủy và cấp cho thuyền công, mỗi thuyền 10 người, lại cho ưu binh Thanh Nghệ xen vào hướng dẫn, để thao diễn luyện tập quân thường trực đã nhiều, nhưng vì phải đánh dẹp luôn ở các nơi nên vẫn không đủ lính để điều khiển. Cùng năm 1740, còn hạ lệnh kén hương binh, chia thành đội ngũ luyện tập, khi cần sẽ trưng dụng.

    Những quan lại cao cấp còn có cận vệ giỏi võ. Chẳng hạn Nguyễn Khản là một đại thần, trong đám thủ hạ có một người Bắc quốc vốn giỏi thuật đánh kiếm. Năm 1784 khi kiêu binh vây dinh của Khản, y thấy động liền tuốt gươm ra cửa chặn đánh, chém và làm bị thương nhiều người. Bọn kiêu binh cũng giỏi võ, kéo đến, chém người Bắc quốc thành đống thịt vụn nát như bùn, rồi kéo vào dinh Khản, phá nhà cửa.

    Nhà Tây Sơn lập nghiệp từ trong khởi nghĩa nông dân chống cả chúa Nguyễn và chúa Trịnh, lại đánh tan cả xâm lược Xiêm và Thanh. Bộ chỉ huy nghĩa quân khi nắm được quyền binh ở Triều đình vẫn giữ được tất cả những gì tích cực, quân đội Tây Sơn là đội nghĩa quân thạo võ nghệ và kỷ luật chặt chẽ.

    Theo qui chế quân sự nhà Lê, quân đội gồm có 5 đạo quân, giờ đây vua Quang Trung tổ chức thêm những đội quân đặc biệt gọi là Tả bật, Hữu bật, Ngũ chế, Càn thanh, Thiên cán, Thiên trường, Hổ đôn, Hổ hầu, Thị Lân, Thị Loan, mỗi quân gồm năm bậc là sư-lữ-tốt-lượng-ngũ như xưa, ở các phủ, huyện thì quân đội chia từng đạo cơ và đội, đạo thống cơ, cơ thống đội, Triều vua Thái Đức, Nguyễn Nhạc mộ lính, sang triều Quang Trung Nguyễn Huệ tuyển lính theo chính sách chung.

    Hết

    Mai Văn Muôn
    tìm hiểu Võ thuật tập 8, 1991

    Hào khí võ Việt - chí khí làm trai tiếp nối tinh thần võ thuật nước nhà

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    VÕ BỊ VÀ BINH CHẾ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ 15 TỚI THẾ KỶ 18

    Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh, Bình Định Vương Lê Lợi rất coi trọng chất lượng quân đội. Năm 1427 chỉ còn chờ hạ thành Đông Quan, quân đội tuy rất quen chiến trận, mà vẫn phải tổ chức tập trận thủy chiến. Cũng lúc này, để xây dựng đội thị vệ, bộ chỉ huy khởi nghĩa cho tuyển con em của dân chúng giàu có, thân thể khỏe mạnh, tinh thông võ nghệ, tinh thần gan dạ, mỗi viên thiếu úy phải tuyển 200 người, kẻ nào nhát sợ thì không dùng. Quân luật rất nghiêm, các võ quan được lệnh ngày thường không được tự ý giết binh sĩ phạm pháp nhưng khi ra trận mà trái lệnh thì chém trước tâu sau. Lại ban ra mười điều quân luật và ba điều răn các quan võ.

    Năm 1428 kháng chiến thắng lợi, vua Lê Thái Tổ cho quân của cả 5 vệ tổng thao diễn biểu dương lực lượng, sau đó giảm quân số từ 35 vạn xuống còn 10 vạn ; chia làm 5 phiên lần lượt thay nhau 4 phiên về làm ruộng, chỉ giữ một phiên gồm 2 vạn tại ngũ làm quân thường trực. Số quân ấy ít, song trong cả nước số quân nhân phục viên biết võ nghệ quân sự rất đông lại vẫn thường xuyên luyện tập võ nghệ nên khi cần Nhà nước có thể huy động một đạo quân thiện chiến rất lớn.

    Chế độ binh chế được xây dựng chu đáo ngay từ thời Lê sơ, về sau thời Lê trung hưng, vẫn theo tổ chức cũ. Cuối năm 1428 nhà Lê đặt quy chế về cờ xí, nghi trượng cho các quân, chiến khí và thuyền ghe : trung đội cờ vàng, thượng đội cờ đỏ, hạ đội cờ trắng. Mỗi vệ một lá cờ lớn của chủ tướng. Mỗi quân một lá cờ hạng trung, 10 lá cờ đội và 40 lá cờ nhỏ. Thuyền chiến dùng vào hỏa công 10 chiếc, thuyền nhỏ đi tuần thám hai chiếc. Ống phun lửa loại đại tướng quân một chiếc, loại lớn 10 chiếc, loại trung 10 chiếc và loại nhỏ 80 chiếc. Nỏ mạnh 50 cái, câu liêm 50 cái, giáo dài 50 cái, phi liêm 40 cái, mộc mỗi người một chiếc. Phi tiêu (thủ tiễn) hạng nhất dùng mỗi người một chiếc, hạng nhì dùng mỗi người 3 chiếc ; dao to mỗi người 1 con. Mỗi quân và mỗi đội đều có một người thư lại biên chép.

    Quân đội nhà Lê ở giai đoạn đầu vua Lê Thái Tổ chia làm 6 quân ngự tiền và 5 quân đạo. Quân ngự tiền đóng ở kinh đô bảo vệ kinh thành, quân các đạo đóng ở địa phương. Các triều vua tiếp theo ngày càng hoàn chỉnh hệ thống quân đội, gồm thân binh hay cấm binh bảo vệ kinh đô, cung điện nhà vua, và ngoại binh trấn giữ các xứ.

    Quân đội phải thường xuyên tập võ nghệ và trận pháp, lại phải thao diễn để nâng cao trình độ chiến đấu. Năm 1434 vua Lê Thái Tổ ra sắc lệnh cho các quân ngự tiền và quân năm đạo đúng ngày 20 tháng giêng tập trung ở kinh thành để thao diễn gọi là đại tập quân kỳ. Riêng quân các đạo Thanh Hóa trở vào Nam, vì đường xa được tập trung ở bản trấn để diễn tập. Các vua sau đó, đặt việc diễn tập hàng năm này thành lệ thường. Ngoài ra thỉnh thoảng Nhà nước còn tổ chức diễn tập riêng từng binh chủng. Chẳng hạn năm 1435, nhà vua đi xem vệ quân năm đạo tập trận lục chiến, khi về lại duyệt thủy binh tập thủy chiến ở sông Nhị Hà. Cũng năm ấy, trong khi quân các đạo điểm duyệt tại bản trấn, thì các quân ngự tiền được giảng tập võ nghệ ở sân rồng nơi cung điện. Nhà vua chẳng những trực tiếp điểm duyệt quân đội, còn trực tiếp xem quân đội luyện tập. Chẳng hạn năm 1435 nhà vua đến bến Đông Tân xem năm quân thi bơi, năm 1437 vua đến trường đua xem tập võ nghệ, năm 1438 và 1439 cho các quân vào sân điện Giảng Võ tập tượng trận…
    Năm 1467 vua Lê Thánh Tông ban bố quân lệnh gồm 31 điều về thủy trận, 32 điều về tượng trận, 27 điều về mã trận và 42 điều về bộ trận cho quân túc vệ kinh sư, đồng thời nhà vua nhấn mạnh “phàm đã có quốc gia tất phải có võ bị”. Do đó quy định cụ thể ngày tập cho quân đội : ngày rằm hằng tháng binh lính đến phiên thay đổi, thì chỉ lưu một số để canh giữ, còn bao nhiêu người phải tập trung tập điều lệnh.

    Năm 1467 nhà vua lệnh cho các vệ, các ti Thần-võ, Du-nỗ, Thần-tí, Vũ-lâm và Ngũ-oai : mỗi khi quân sĩ đến phiên túc trực, đều thay đổi từng ban chuyên tập võ nghệ ; binh sĩ ở vệ Ngũ oai và các vệ ở các đạo ngoài kinh thành đều được nghỉ việc sai phái về tạp dịch, liệu định số người canh giữ, còn bao nhiêu phải chuyên tập võ nghệ, ban nào tập xong, quan sẽ duyệt lại và thưởng phạt theo lệ định. Nhà nước quy định thành lệ tất cả quân sĩ cứ 3 năm phải qua một kỳ khảo hạch về võ nghệ để kiểm tra kết quả luyện tập và động viên tinh thần luyện tập của quân sĩ : cứ đến mùa đông từng kỳ, các quan khảo xét sự giảng tập của quân thủy, quân bộ, quân thị hậu và quân ngoài các đạo ; nhân đấy định cách thức thưởng phạt : binh sĩ nào thắng luôn 4 tao, được thưởng 1 chiếc áo và 1 quan 5 tiền sử tiền. Nếu 2 tao thắng 1 tao bình, được thưởng 1 chiếc áo. Nếu 2 tao thắng, 2 tao bình thì thì được thưởng 6 tiền sử tiền. Nếu 1 tao thắng 3 tao bình thì được thưởng 3 tiền sử tiền ; nếu 4 tao đều bình thì được cấp cho tiền cơm và 20 đồng sử tiền. Ngược lại binh sĩ nào thua cũng phải phạt như thế.

    Với tính chất thưởng phạt vật chất cụ thể, mọi binh lính đều tự giác học tập để giành thành tích cao về võ nghệ. Và từ việc tập luyện ấy, các võ sĩ, lực sĩ, dũng sĩ, tráng sĩ rất được trọng dụng. Khi xét định chế độ quân ngũ, quân kinh sư được đặt biệt chú ý, trong đó các lực sĩ được phiên vào 10 ti (mỗi ti 100 người) túc trực ở điện Kim Quang ; ở cẩm y vệ có 10 ti gồm những dũng sĩ và 18 ti gồm những tráng sĩ ; ở Kim Ngô vệ có 14 ti gồm những võ sĩ và 4 ti gồm những tráng sĩ. Như vậy chỉ số võ sĩ, lực sĩ, dũng sĩ, tráng sĩ ở 56 ti trên đã lên tới 5600 người rồi. Những người lính này được tập luyện võ nghệ đều đặn và kiểm tra sức khỏe thường xuyên. Năm 1499 vua Lê Hiến Tông sai các chỉ huy ở Cẩm y vệ quy định thưởng phạt đối với các lực sĩ, dũng sĩ, võ sĩ kiểm tra võ nghệ đạt hay không đạt. Đồng thời, nhà vua chuẩn y lời tâu của thượng thư Bộ binh lập thành lệ các lực sĩ, dũng sĩ, võ sĩ ai ốm nặng được về quê điều trị 10 ngày, khi khỏi bệnh phải làm đơn khai nộp ở bộ binh để trung quan và quan khoa đài cùng xem xét, nếu sức vóc mạnh khỏe thì được trở lại chân lực sĩ, võ sĩ, dũng sĩ ở bản vệ ti ; nếu không thì sung vào quân điện tiền. Rõ ràng những người lính này được triều đình quản lý chặt chẽ. Đến năm 1509 ngoài 1.000 lực sĩ túc trực ở điện Kim Quang lại đặt thêm ti Phi Võ gồm 100 lực sĩ túc trực ở cung Đoan Khang, bổ nhiệm Nguyễn Tông làm Đô Phi võ lực sĩ nội sứ. Năm sau (1510) đặt thêm hai vệ Thiên võ và Thánh oai (ở cấp trên vệ Cẩm y và vệ Kim ngô), mỗi vệ có 8 ti, đều túc trực ở điện Kim Quang. Số lực sĩ bảo vệ vua rất nhiều.

    Năm 1467 Nhà nước còn sai quan văn thông thạo kinh sách đến giảng dạy việc luyện tập và đọc sách cho những bộ binh và kỵ binh có tiếng khỏe mạnh, dũng cảm.

    Về vũ khí, trong qui chế về chiến đấu năm 1428, ta biết quân đội nhà Lê được trang bị vũ khí phòng ngự là mộc, và vũ khí tấn công gồm vũ khí đánh gần như câu liêm giáo dài, dao to và vũ khí đánh xa gồm phi liêm, thủ tiễn, nỏ mạnh và ống phun lửa nhiều cỡ. Những vũ khí ấy đều do Nhà nước độc quyền chế tạo, rồi phân phối về các đơn vị và các địa phương. Năm 1469 vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụ cấm trong nước không ai được cất dấu đồ binh khí. Trong quân đội, nếu khí giới có hao mòn khuyết mẻ đều đem đến kho võ khí để tu tạo lại theo như quy thức, không ai được tự tiện đem đến các nơi nhà công, nhà lính ở ngoài để sửa chữa hoặc làm mới. Ai trái lệnh sẽ bị luận vào tội lưu khống chỉ vũ khí. Quân trang cũng được quy định : những thứ áo giáp mũ trụ để làm cho dung nghi quân sĩ được hùng mạnh như nón thủy ma ; nón sơn đỏ là thứ nón của thân quân đội túc trực để bảo vệ kinh thành, cấm nhân dân mua bán các thứ nón ấy.
    Thời Lê trung hưng vẫn giữ về cơ bản, chỉ thay đổi chi tiết : các thứ cờ xí, kiếm, kích, giáo, mộc, đao, súng, thuốc đạn đều do binh phiên cấp phát theo lệ. Các viên quản quân được cấp một thanh gươm. Các thứ binh khí không thường dùng như máy bắn đá, súng báng gỗ, súng bọc da, tên có lửa, thuốc lửa, đạn lửa, thuốc mù đều cấm chế tạo. Các viên quản binh có thể giữ một hai khẩu súng riêng, còn súng khác và cả ngựa đều không được chứa cất. Các cục làm súng đều thu hẹp, chỉ cho người các xã am hiểu được ứng dụng chế tạo. Cấm các phố phường, các dinh cư và tư nhân nuôi thợ làm súng bán riêng.

    Trang phục quân đội cũng được quy định để phân biệt với dân, phân biệt quân ở kinh và quân ở các trấn. Đầu thời Lê sơ, thủy quân đội nón thủy ma và nón sơn đỏ, đời Hồng thuận chế thêm kiểu mũ đỏ có cánh phượng đỏ dát vàng cho quân hai vệ Thiên vũ, Thanh uy. Thời Lê trung hưng áo mũ quân thị hậu đều bằng gai do binh phiên phát để may, còn áo mũ của quân các trấn thì bằng da trâu sơn đỏ. Do đó, trấn thủ các xứ, và các chợ ở kinh thành đều phải nộp 100 tấm da trâu.

    Mạc Đăng Dung vừa lập ra nhà Mạc năm trước thì năm sau 1528 tiến hành chấn chỉnh ngay chế độ quân đội, phỏng theo điều lệ đời Hồng Đức (1470 – 1497) xây dựng qui chế về danh hiệu các vệ, các sở, các ti, tên chức quan, số nhân viên và số quan lính trong kinh đô và ngoài các hộ thuộc năm phủ. Nhà Mạc đặt thêm vệ Hưng quốc và vệ Chiêu vũ, cùng với hai vệ Cẩm y và Kim ngô có trước thành bốn vệ, Lại chia người bổ vào các ti trong mỗi vệ, mỗi ti đặt một chỉ huy sứ, 1 chỉ huy đồng tri, 1 chỉ huy thiên sư, 10 trung hiệu, 1 thư ký, 1.100 tráng sĩ, chia làm 22 ban, Ban chia làm 5 giáp, mỗi giáp đặt một người làm giáp thủ, luân phiên vào trực.

    Năm 1532 nhà Mạc cấm các xứ trong ngoài không ai được cầm giáo mác và binh khí ở đường xá. Từ đấy người buôn bán và người đi đường đều đi tay không. Như vậy binh khí thời Mạc chỉ dùng vào việc quân sự, lưu hành trong quân đội.

    Do chiến tranh Mạc – Lê thường xuyên xảy ra nên võ nghệ càng được chú trọng nhiều khi phụ nữ cũng tham gia chiến trận, nhất là vợ các tướng lĩnh. Sử ghi năm 1571 Trương Trà là tướng nhà Lê đánh nhau với giặt, bị Nghĩa Sơn bắn chết, vợ Trương Trà là Trần thị cải trang làm đàn ông, ra trận đốc chiến, bắn chết được Nghĩa Sơn. Năm sau 1572, trong trận khác, Ngô Thị Ngọc Lâm là thị tì của Nguyễn Hoàng đã lập mưu dụ giết được Lập Bảo là tướng nhà Mạc. Cả sau cuộc tranh chấp Mạc – Lê, năm 1600 Phan Ngạn ngờ Văn Khuê làm phản, sai người bắt giết đi, vợ Văn Khuê là Nguyễn Thị Niên muốn báo thù chồng, bèn khuyến khích sĩ tốt, chiêu mộ người ai lấy được đầu Phan Ngạn sẽ trọng thưởng. Ngạn giận lắm, tự đốc sức thuyền chở binh lính tiến lên trước, bị trúng đạn chết.

    Nhà Lê sau khi trung hưng vẫn tiếp tục chính sách quân sự thời trước. Năm 1595, trên bến Thảo Tân, đoạn sông Nhị, ở phía Nam kinh thành, mùa xuân vừa tổ chức thi Hội thì mùa thu tổ chức duyệt quân sĩ rất lớn, số quân lính có tới hơn 12 vạn, để ấn định ngạch lính, lính cũ ở trong kinh và ngoài các đạo chỉ giữ lại người khỏe, còn người già yếu thì thải bớt, năm này nhà vua cũng cho tuyển lính để bổ sung.

    Trong cuộc tranh chấp Mạc – Lê, căn cứ nhà Lê ở vùng Thanh Nghệ nên cả sau đó nhà Lê chỉ lấy lính ở Thanh Nghệ, cấp cho ruộng công và ưu đãi cho chức sắc. Tiếp sang thế kỷ XVII cuộc tranh chấp Trịnh – Nguyễn càng thúc đẩy thêm mạnh việc rèn tập võ nghệ.

    Quân đội thời Lê trung hưng do bắt nguồn ở Thanh Nghệ. Sau khi thắng Mạc rồi được giữ lại đóng ở Kinh đô để bảo vệ Hoàng thành, còn lính ở các trấn chỉ có ngạch thôi, khi có việc mới tập họp, xong việc lại về làm ruộng. Năm 1721 chúa Trịnh định lại ngạch lính cả Thanh Nghệ và bốn trấn đều chọn 5 suất đinh lấy một người, phải kén người mạnh khỏe.

    Lính mới tuyển ở các địa phương, về sau theo lời bàn của Nguyễn Công Hãng, đầu năm 1724 tập trung về Kinh thành để luyện tập và thao diễn. Cuộc duyệt binh lần này có hơn vạn lính mới tuyển hàng ngũ tề chỉnh, được chúa Trịnh ban thưởng. Từ đây thành lệ, tháng 2 hàng năm đều cử hành lễ đại duyệt binh trọng thể với nghi thức chúa Trịnh thống suất quan quân các doanh, trang bị đầy đủ nhung phục và khí giới, đặt đàn tràng cáo tế ở lầu ngũ long, chiếu theo phương thức mở cờ, bắn sáng làm chấn động dung nghi quân sĩ.

    Quân lính từ năm 1722 ngoài quyền lợi vật chất và tập luyện võ nghệ, người nào thông hiểu nghĩa lý văn chương còn được tính phép cùng các sĩ tử thi hương, nếu gặp kỳ thi viết chữ, tính toán và khoa thi võ cũng được phép thi khảo ở ngay kinh đô.

    Năm 1740 Triều đình hạ lệnh : Phàm người nào có mưu lược, biết võ khỏe mạnh, có thể dùng vào việc cầm quân thì không câu nệ về tư cách phẩm trật, được đề cử tên từng người để Triều đình sẽ theo tài năng bổ sung. Đồng thời con cháu của bầy tôi có công người nào có sức mạnh, chiến đấu khỏe, sẽ cấp cho lương bổng rồi cho đi quân thứ.

    Cũng năm ấy, Nhà nước còn kén thêm binh thủy, chọn những người khỏe mạnh ở Sơn Nam, Sơn Tây và Kinh Bắc cho thuộc vào đội ngũ lính thủy và cấp cho thuyền công, mỗi thuyền 10 người, lại cho ưu binh Thanh Nghệ xen vào hướng dẫn, để thao diễn luyện tập quân thường trực đã nhiều, nhưng vì phải đánh dẹp luôn ở các nơi nên vẫn không đủ lính để điều khiển. Cùng năm 1740, còn hạ lệnh kén hương binh, chia thành đội ngũ luyện tập, khi cần sẽ trưng dụng.

    Những quan lại cao cấp còn có cận vệ giỏi võ. Chẳng hạn Nguyễn Khản là một đại thần, trong đám thủ hạ có một người Bắc quốc vốn giỏi thuật đánh kiếm. Năm 1784 khi kiêu binh vây dinh của Khản, y thấy động liền tuốt gươm ra cửa chặn đánh, chém và làm bị thương nhiều người. Bọn kiêu binh cũng giỏi võ, kéo đến, chém người Bắc quốc thành đống thịt vụn nát như bùn, rồi kéo vào dinh Khản, phá nhà cửa.

    Nhà Tây Sơn lập nghiệp từ trong khởi nghĩa nông dân chống cả chúa Nguyễn và chúa Trịnh, lại đánh tan cả xâm lược Xiêm và Thanh. Bộ chỉ huy nghĩa quân khi nắm được quyền binh ở Triều đình vẫn giữ được tất cả những gì tích cực, quân đội Tây Sơn là đội nghĩa quân thạo võ nghệ và kỷ luật chặt chẽ.

    Theo qui chế quân sự nhà Lê, quân đội gồm có 5 đạo quân, giờ đây vua Quang Trung tổ chức thêm những đội quân đặc biệt gọi là Tả bật, Hữu bật, Ngũ chế, Càn thanh, Thiên cán, Thiên trường, Hổ đôn, Hổ hầu, Thị Lân, Thị Loan, mỗi quân gồm năm bậc là sư-lữ-tốt-lượng-ngũ như xưa, ở các phủ, huyện thì quân đội chia từng đạo cơ và đội, đạo thống cơ, cơ thống đội, Triều vua Thái Đức, Nguyễn Nhạc mộ lính, sang triều Quang Trung Nguyễn Huệ tuyển lính theo chính sách chung.

    Hết

    Mai Văn Muôn
    tìm hiểu Võ thuật tập 8, 1991

    Khảo sát folklore, dân tộc học, truyền thuyết dân gian. Thương, giáo, lao, có hình dạng tương tự và cùng với tên nỏ, cung, rìu, v.v. ... là những vũ khí đã được xử dụng thường xuyên của người Việt thời thượng cổ. Để được đầy đủ hơn cho công việc tìm hiểu nguồn gốc bản địa của những vũ khí truyền thống này, chúng ta không thể bỏ qua lĩnh vực khảo cổ và những tài liệu ở các lĩnh vực thuộc khoa học xã hội và nhân văn khác.

    Khảo cổ học thời thượng cổ Việt Nam đã được phân ra những giai đoạn có khung niên đại (dựa theo sách Lịch Sử Việt Nam tập I) như sau :

    -Thời đại đồ đá cũ : khoảng 300 ngàn năm về trước (di tích ở núi Đọ và văn hóa Sơn Vi hậu kỳ thời đá cũ ).

    -Thời đại đồ đá giữa : 10 ngàn năm trước nay (văn hóa Hòa Bình, nghề nông đã xuất hiện).

    -Thời đại đồ đá mới : 5 ngàn năm trước nay : văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Bầu Chó, văn hóa Hạ Long.

    -Thời đại đồ đồng thau :4 ngàn năm trước nay (văn hóa Phùng Nguyên).3 ngàn năm – 2.5 ngàn năm : Văn Hóa Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ. (1)


    Ngay từ thời đại đồ đá cũ, người Việt cổ đã biết dùng đá làm những công cụ chặt, nạo, rìu tay, ghè đẽo thô sơ tìm thấy núi Đọ (Thanh Hóa) cách nay ba trăm ngàn năm hay những công cụ bằng đá cuội ở vùng đồi núi Vĩnh Phúc Yên, Phú-thọ, (văn hóa Sơn Vi), cách nay trên dưới ba chục ngàn năm, hậu kỳ đồ đá cũ.

    Truyền thống kỹ thuật và văn hóa đá cuội Việt Nam được tiếp nối với hai nền văn hóa Hòa-bình (thuộc thời đại đá giữa) và văn hóa Bắc-sơn (thuộc buổi đầu thời đại đá mới).

    Bên cạnh kỹ thuật ghè đẽo, người Việt cổ đã phát minh kỹ thuật mài, tạo nên những chiếc rìu Bắc-sơn (rìu tứ giác mài lưỡi) nổi tiếng thời đại đồ đá mới. một số lưỡi dáo hay thương hoặc lao và mũi tên đá. Văn hóa Bắc-sơn là một trong những văn hoá có rìu mài sớm ởtrên thế giới. Tiến sĩ Wilhelm G. Solheim, giáo sư Nhân Chủng Học trường đại học Hawaii, nhận xét :”Tôi cho rằng những công cụ bằng đá dẽo có cạnh sắc tìm thấy ởphía bắc Úc châu và được định tuổi bằng Carbon 14 là hai chục ngàn năm trước Tây lịch đều thuộc nguồn gốc Hòa Bình “. (2).

    Trình độ phát triển vũ khí ở thời đại đồ đá tại Việt Nam nhìn chung, ngoại trừ rìu đá, vẫn còn ít ỏi về kiểu loại, và sự thô sơ của kỹ thuật cùng tính năng của nó. Những vũ khí này dù kỹ thuật chế tác có đạt tới bước phát triển cuối cùng của kỹ nghệ đồ đá, thì cũng vẫn bị chất liệu đá hạn chế khá nhiều độ sắc nhọn, hướng cải tiến và diện sử dụng.

    Tuy nhiên, cần ghi nhận ở đây điểm quan trọng là : một sở trường, một thiên hướng, một thị hiếu nữa, trong việc chọn lựa, sáng tạo và sử dụng vũ khí của tiền nhân người Việt đã được khẳng định ở thời đại đồ đá để rồi sau sẽ được nhân bội lên trong việc trực tiếp kế thừa và phát triển mạnh mẽ ở những thời đại đồ đồng, đồ sắt sau này, góp phần tạo nên những vũ khí truyền thống. Đó là sở trường, thiên hướng, thị hiếu dùng cung nỏ tên, rìu búa và giáo lao (thương) làm vũ khí chủ đạo.

    Và chính vì thế mà chúng ta có thể thấy thêm một đặc điểm thứ hai của tình trạng vũ khí ở bước này là : chưa có sự phân hóa, chuyển hóa rạch ròi và phổ biến giữa vũ khí và công cụ. Cây rìu, cung tên, ngọn giáo, ở thời kỳ này, lúc là công cụ để chặt bổ, săn bắn, lúc là vũ khí để đâm phóng, đánh bổ, hoặc vừa là công cụ vừa là vũ khí. Trong tình trạng này cũng chung cho cả những khí vật bằng chất liệu mà lòng đất không thể gìn giữ tới nay cho chúng ta hình dáng của nó, nhưng theo qui luật chung, hiển nhiên cũng tồn tại ở bước này. Đó là những gậy, búa, mũi nhọn, lao ... bằng tre, bằng gỗ, v.v...

    Tài liệu khảo cổ học thời đại đồ đồng thau thuộc văn hoá Đông-sơn (Thanh Hóa, Bắc Việt) cho thấy rằng trong khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Tây lịch, vũ khí của tổ tiên người Việt đã phát triển lên một mức và có một vai trò quan trọng đáng kể. Sự tăng tiến về số lượng và sự phong phú về kiểu dạng khai quật được phản ảnh rõ ràng sự phát triển của vũ khí ở bước này. Bên cạnh những vũ khí chủ đạo, kế thừa và phát triển trực tiếp từ những vũ khí thời đồ đá, là cung nỏ tên, lao giáo và rìu búa, (những vũ khí này chẳng những còn để lại những bằng cứ là vật chất, mà còn để lại đầy đủ bằng hình ảnh qua những nét chạm khắc trên các trống đồng, thạp đồng) còn nở rộ một loạt dáng kiểu vũ khí khác nhau khá phong phú. Có thể nói những thành phần vũ khí cơ bản của bộ binh trước khi có hỏa khí, đều đã thấy xuất hiện ở giai đoạn này. Đó là các loại vũ khí tấn công tầm xa như cung nỏ và lao, đánh tầm gần như thương, dáo, mác, rìu búa, dao găm, đoản kiếm, qua, và vũ khí phòng ngự như hộ tâm phiến, khiên, mộc, v.v....

    Nguyên liệu mới của những vũ khí này là một điều kiện rất cơ bản làm nẩy sinh một loại thuộc tính ưu việt của vũ khí. Đồng thau cùng với trình độ hiểu biết cao về kỹ thuật đúc cho phép sản xuất hàng loạt (Trường hợp điển hình là kho đầu mũi tên đồng ở thành Cổ-Loa, kinh đô của nhà nước Âu Lạc, khoảng mười ngàn mũi tên), tăng cường độ sắc nhọn của vũ khí và nhất là tạo điều kiện cho cho sự gia công cải tiến vũ khí, phát huy nhiều tính năng và tác dụng của vũ khí (đầu mũi tên đồng có hơn một chục loại, lao, giáo, dao găm, rìu chiến cũng có nhiều dáng vẻ khác nhau, có thể vừa đâm vừa chém và mũi tên bắn ra không lấy lại được, ...).

    Kết quả của những bài tính toán học và thực nghiệm cho thấy rằng với sức nặng của đầu mũi tên đồng Cổ Loa, thì phải có một chuôi tên dài từ 80 phân đến một mét mới có thể bắn tên đi ở tình trạng tốt nhất (độ dài này tính theo tỷ trọng của tre). Một chiếc tên như thế cho phép giả thiết rằng, ngoài cây cung là phương tiện phóng tên chắc chắn, còn có thể có cả hình thức nỏ máy để phóng tên nữa (3). (Một số hình ảnh chạm khắc trên trống đồng, những tài liệu dân tộc học và truyền thuyết vùng Cổ Loa cũng phù hợp với điều giả thiết này.) Sách Việt Kiệu Thư chép Man động xưa ở nước Nam Việt thời Tần rất mạnh, về phép dùng nỏ thì lại càng giỏi lắm, mỗi phát tên bằng đồng xuyên qua hơn chục người (4).

    Những tài liệu ở một ngôi mộ Việt Khê thời đồ đồng cũng cung cấp những số liệu chính xác về những cây dáo, cây lao, thương : cán có độ dài lên tới hai mét ba mươi bẩy phân, đường kính cán tương đối nhỏ, khoảng một phân rưỡi, nhưng bù lại, được lựa chọn từ loại cây có thớ dọc, dẻo dai, có độ bền cao và được cạp thêm một khoảng gần sát luỡi bằng mây sợi chẻ mỏng. Cán giáo còn được sơn bóng đẹp với nước sơn ta từng khoanh màu vàng và màu đen xen kẽ.

    Như vậy, ba vũ khí chủ đạo của người Việt cổ là : mũi tên, giáo lao hay thương và lưỡi rìu, và có nguồn gốc bản địa, sản xuất ngay tại chỗ. Giáo sư Wilhelm G. Solheim đã viết :

    “Quan niệm cổ điển về thời tiền sử cho rằng kỹ thuật vùng Đông Nam Á là kết quả của những làn sóng di dân từ phương Bắc mang tới. Ngược lại, tôi cho rằng vào thời đại đầu đồ đá mới , nền văn hóa Bắc Trung Hoa gọi là Ngưỡng Thiều là một phần của nền văn hoá Hòa Bình đã tỏa lên Bắc Trung Hoa vào khoảng sáu hay bẩy ngàn năm trước Tây lịch”.

    “Tôi cho rằng nền văn hóa mà sau này được gọi là văn hóa Long Sơn vẫn thường được coi là phát triển từ Ngưỡng Thiều • Bắc Trung Hoa rồi lan ra miền Đông và Đông Nam, thì trái lại thực ra đã khai sinh • Nam Trung Hoa và di chuyển lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều bắt nguồn từ gốc văn hóa Hòa Bình”.

    Mặt khác, tên gọi Nam Á (Austroasiatic) là thuật ngữ nhân chủng học và ngôn ngữ học bao gồm khu vực Đông Nam Á và Châu Á Hải Đảo kể cả phía Nam Trung Hoa mà một phần chủng tộc này được cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt (Điền Việt, Dương Việt, U Việt, Mân Việt, Đông Việt, Lạc Việt,...) sinh sống từ khu vực phía Nam sông Dương Tử đổ xuống phía nam, họp thành những khối cư dân lớn có những tiếng nói thuộc ngữ hệ Mon-Khmer, Việt-Mường và Malayo-Polynesian, những dân tộc thời tiền sử chủ yếu sống nông nghiệp, săn bắn đánh cá, dùng thuyền bè di chuyển trên sông rạch, biển cả, ăn mắm (chưa biết ăn xì dầu), ở nhà sàn, nhà mái cong, xâm vẽ mình, mặc: áo chui đầu (poncho), sà-rông, váy , v.v...khác với nhóm dân tộc thời tiền sử chủ yếu sống du mục, chăn nuôi với đồng cỏ mông mênh phía Bắc và Tây Bắc, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.

    Khi xưa tiếng Hán đang còn đóng khung ở vùng phía bắc sông Hoàng Hà, sông Vị Hà thì nó chưa thể có nhiều những từ nêu lên tên gọi của những sản vật mà chỉ phương nam mới có, do đó có sự vay mượn, ảnh hưởng qua lại các thuật ngữ vùng Nam Á. Những danh từ chỉ thực vật như cảm lãm (trám), phù lưu (trầu), ba la mật (mít) v.v... chắc chắn là những danh từ vay mượn các ngôn ngữ vùng nhiệt đới. Để chỉ sông, phía bắc, người Hán gọi là Hà, nhưng từ sông Dương Tử trở về nam lại gọi là Giang. Theo các nhà địa danh học : Giang ( 江) là một từ người Hán vay mượn, rất dễ dàng gợi cho ta nghĩ đến Kion (Miến), Kon (Katu), Karan (Mơ-nông), Krong (Chàm), Không ( Mường), Hông (Khả), Krông (Bà Na), Khung (Thái), Sôngal (Mã Lai), cũng như nghĩ đến Sông trong tiếng Việt (Việt Miên Lào có chung con sông là Mê-kông).

    Có khi chiều ảnh hưởng chỉ đi theo một dường thẳng đơn giản, từ bên này sang bên kia, nhưng cũng nhiều khi mũi tên có thể đi đường vòng từ A sang B, rồi lại từ B quay trở lại A. Đó là trường hợp của nỏ, thứ vũ khí phương Namta gọi là Ná. (So sánh với Na của người Mường, người Chức, Nả của người La-Ha (Mưng La) , Hna của người Bà Na, Na của người Ê Đê, dọc Trường Sơn, Mnaá của người Sơ Đăng, Sa Na của người Kơ-ho, Snao của người Raglai, Na của người Mạ Nam Tây-nguyên, Hnaá của người Gia Rai, S-Na của người Miên, Sơ-Na của người Srê, hay Sna của người Chàm Phan Rang, Phan Rí , Ná của người Thái Trắng, Pna của người Mã Lai , v.v. ...), có nhiều cơ sở để có thể khẳng định chính từ tên gọi loại vũ khí này mà được nhập vào vốn từ vựng của người Trung Hoa, sản sinh ra tiếng Hán có cách đọc Hán Việt cổ là Nổhay Hán Việt hiện nay là Nõ, (chữ Nõ [弩] tổng hợp của thanh phù Nô [ 奴] (như Nô Bộc) đứng trên chữ Cung tượng hình [弓] rồi lại quay trở về Việt Nam được đọc theo Nôm là Nỏ. Nỏ là một phát minh của người phương nam (6).





    Sách Lĩnh Nam Chích Quái chép truyện Triệu Đà sai con là Trọng Thủy đánh cắp nỏ thần phương nam của An Dương Vuơng Thục Phán.

    Cái Rìu của tổ tiên chúng ta cũng có một sự tích lý thú, được đặt thành tên dân tộc: Về ý nghĩa của tộc danh Việt, lâu nay một số người dựa trên dạng chữ Hán hiện đại [越] có chứa bộ tẩu [走] của chữ này để giải thích rằng Việt nghĩa là chạy, vượt. Thực ra chữ Việt trong Hán tự đã trải qua nhiều cách viết rất khác nhau, đây là tên gọi có từ lâu đời (họ Việt[粤] –thường, chủng Bách Việt được nhắc đến trong sử Bắc từ rất sớm).

    Theo Bình Nguyên Lộc (7), việt [钺] vốn là tên gọi một loại công cụ kiêm vũ khí rất đặc thù của người Việt cổ : cái rìu. Như chúng ta đã biết, khảo cổ học đã tìm được ở khắp nơi trong địa bàn cư trú của người Việt cổ rất nhiều loại rìu với các nguyên liệu khác nhau (đá, đồng, sắt) như rìu đá có tay cầm, rìu đồng hình tứ giác, rìu đồng lưỡi xéo. Trong ngôn ngữ Nam-Á cổ đại, rìu hay dìu có lẽ đã được phát âm là “uỵt” hoặc một âm gì đó tương tự (các truyền thuyết Mường gọi vua Việt là Bua Dịt hay Dịt Dàng). Khi tiếp xúc với người phương Nam, tổ tiên người Hán, với tính cách du mục vốn có, đã rất chú ý đến loại công cụ có thể được dùng như vũ khí này, coi nó là đặc trưng quan trọng của ngưòi phương Nam nên đã gọi họ là bọn Rìu : “Uỵt” được phiên âm qua tiếng Hán cổ (tiếng Quảng Đông-vùng Bách Việt), rồi từ tiếng Hán lại phiên âm trở lại theo cách đọc Hán-Việt thành Việt. Chính cái vật chất là cái rìu lưõi xéo có cán đã là nguyên mẫu để tổ tiên người Trung Hoa, khi tiếp xúc với phương Nam, đã mô phỏng theo đó mà tạo nên chữ Việt nguyên thủy. Còn trong tiếng Việt, chữ”Uỵt” nguyên thủy ở bản địa đã trải qua nhiều biến đổi ngữ âm để có được bộ mặt của chữ rìu hiện nay cùng với cả một họ các từ gần nghĩa : rìu , rèn, rào, dao , rựa , ... Bên cạnh đó, cho đến gần đây vẫn có một chữ Việt với tư cách danh từ chung có nghĩa là rìu ; nó xuất hiện trong kết hợp phủ việt (phủ = búa, việt = rìu), tương tự giống trường hợp chữ Ná người Hán mượn rồi trở về ta là chữ Nỏ.

    Cung nỏ Bách Việt - Võ công Hoa Sơn Qua Khảo Cổ và Cổ tích

    Ở phía Nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, dọc theo hai dòng sông Minh Giang và Tả Giang là những vách đá của dẫy Hoa Sơn dài hàng trăm cây số còn lưu lại nhiều bích họa được thực hiện từ thời xa xưa ghi lại sinh hoạt , kể cả chiến tranh và võ thuật thời thượng cổ của một dân tộc thiểu số miền Nam Trung Quốc, dân tộc Choang. Hiện người ta còn đếm được khoảng trên 50 bức bích họa lớn nhỏ khác nhau trên nền tranh vách đá thẳng đứng bên các dòng sông uốn khúc tại đây ; có bức dài tới 130 mét, cao 40 mét ghi vẽ chạm khắc trên mặt đá khoảng 3000 người và vật với những tư thế luyện võ và chiến đấu tay không hay sử dụng binh khí của tổ tiên người Choang ở Hoa Nam. Nổi tiếng nhất là tấm bích họa ở gần thành Ninh Minh, Hoa Sơn.

    Sách Ninh Minh Châu Chí ghi : Núi Hoa Sơn cách thành 50 dặm, trong vách đá đứng dựng có những hình người màu đỏ, tất cả đều trần truồng, hoặc to hoặc nhỏ, hoặc cầm giáo gậy hoặc cưỡi ngựa; trước khi có loạn, sắc màu sáng sủa, loạn qua rồi màu sắc ảm đạm. Men theo bờ sông, một con đường giữa hai bờ sông, trên vách đã hình vẽ như thế có nhiều.

    Nói về những hình võ trên vách đá Hoa Sơn, sách Võ Thuật Thần Kỳ của Trịnh Cần và Điền Vân Thanh viết : Tranh vách đá Hoa Sơn vẽ người đường nét đơn giản, chắc khỏe, động tác chiêu thức rõ ràng, phát lực tràn trề. Thần thái thì oai võ, phần lớn đứng mã bộ và thế tấn nửa mã bộ, linh hoạt ẩn hiện, sinh động như thật.

    Vật phẩm trong tranh vách đá ở Hoa Sơn cũng tạo hình sống động, kết cấu nghiêm ngặt, có trống đồng, đao có vòng ở đầu (hoàn thủ đao), trường thương, phiêu ném (thủ phiêu) mã tấu, kiếm, nỏ núi (sơn nỗ), tên tre v.v... đủ nói lên tình hình phát triển võ thuật của dân tộc Choang Quảng Tây thời ấy đã hừng hực, khí giới dùng trong võ thuật cũng phức tạp, đa dạng.

    Ngoài những thứ kể trên ra, trong nhóm tượng ở Ninh Minh Hoa Sơn có một con vật bốn chân tướng mạo như chó sói một tay cầm phi đà (quả cân ném, một kiểu lưu tinh chùy), lưng đeo bảo kiếm, hai chân gập gối dạng ra khuỵu xuống, ưỡn ngực, đè hông thành tấn mã bộ vững vàng trầm chắc. Xem ra có lẽ đó là vật tổ của dân Choang có võ công thật phi phàm.

    Võ công trên vách đá Hoa Sơn của dân tộc Choang đã là nguồn cảm hứng dồi dào cho tác giả Kim Dung tạo dựng những tình tiết độc đáo trong các bộ tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng sau này.

    Choang là một sắc tộc thiểu số ở Trung Quốc có số nhân khẩu lớn nhất, 23 triệu người theo thống kê năm 1982, trong đó khoảng 22 triệu người sinh sống tập trung tại Quảng Tây, số còn lại sống rải rác tại các miền Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam, Quảng Đông, v.v. . . thuộc miền nam Trung Quốc.



    Các tiếp giáp với Việt Nam là các tỉnh Quảng Đông,Quảng Tây, Vân Nam.



    Cũng như dân tộc Việt Nam, dân tộc Choang là một chi phái của Bách Việt xa xưa mà cổ thư thường đề cập về dân tộc này với những tên khác nhau, ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, như Bộc, Ấu, Việt, Mai, Liêu, Choang, Đặng, Ô-hử, Tổn Tử, , Sản Lý, Bách Bộc, Cửu Khốn, v.v. . .. Đến thời nhà Minh, người Trung Quốc gọi tên dân tộc Choang là người Lang. Tên gọi Choang hay Trang là từ có âm Zhuang thời nhà Tống. Người Choang cũng sinh sống nhiều tại các tỉnh Cao Bằng , Lạng Sơn của Việt Nam, và theo Hoàng Xuân Hãn, được ta phân biệt các sắc dân ấy bằng tên họ như họ Hoàng, họ Vi, họ Nùng, họ Chu, họ Giáp, v.v. . .

    Ở Vân Nam(TQ), người Choang còn được gọi là người Băng Long (ngày xưa người Hán gọi họ là Bộc nhân). Người Choang Vân Nam xưa nay tính dũng cảm, thích võ. Họ gọi võ thuật do tổ tiên truyền lại là tả quyền vì khi tỉ thí võ công, trái đấm tay trái là trái đấm mãnh liệt cuối cùng quyết định thắng bại (tả quyền định thắng bại), họ dùng bài võ cổ truyền linh hoạt và đa biến để nghênh chiến đối phương, nhè lúc đối thủ không phòng bị cuối cùng dùng tay trái ra tuyệt chiêu mà đắc thắng chắc chắn.

    Theo sách Kinh Thư, một cổ sử do Khổng Tử san định, tổ tiên người Choang (Vi, Bộc) được xem là một trong những nhóm Bách Việt đã hợp tác với Chu Võ Vương tạo một liên minh quân sự để tiêu diệt vua Trụ thành lập nhà Tây Chu (1134-770 trước tây lịch). Trong sách Thượng Thư do Nhượng Tống dịch và chú giải có đoạn ghi : Vua (Chu Vũ Vương) nói : Hỡi các chúa các nước bạn ta! Hỡi các quan coi việc ! Nào Tư Đồ, Tư Mã, Tư Không, Á Lữ, Sư Thị, Thiên Phu Trưởng ! Cùng người các xứ Dung, Thục Khương, Mao, Vi, Lô, Bành, Bộc ! Giơ mác lên ! Dựng đứng ngọn giáo ! Ta thề đây !.

    Ngày nay, những người Choang ở Quảng Tây tự xưng tên dân tộc mình với khoảng 20 tên gọi khác nhau, thông dụng nhất là Bố Choang, Bố Thổ, Bố Ỷ, Bố Bản, Bố Việt, v.v. . . với ý nghĩa là dân bản địa ở đây. Từ BỐ hay PO, BẾ, . . . làm chúng ta liên tưởng trực tiếp đến ngôn ngữ có nguồn gốc Nam Á . Ví dụ các dân tộc ở Việt Nam, Chăm có tên gọi như Bố Cái Đại Vương (Việt), Po Romé, Po Nagar(Chăm), hay Poropudua (Indonesia), . . . hoặc tên họ như Bố Thuận, Bế Khắc Thiệu, Bố Xuân Hội . . .

    Dân tộc Choang Quảng Tây có tiếng nói riêng, thuộc ngữ tộc Choang-Đồng, ngữ chi Tày-Nùng, và dĩ nhiên, trong sự giao lưu đồng hóa của người Hán, ngôn ngữ Choang cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngữ hệ Hán-Tạng. Giống như phương cách cấu tạo chữ Nôm của Việt Nam, dân tộc Choang đã sử dụng chữ Hán, cách nay cả ngàn năm, để tạo thành chữ riêng của họ, gọi là Thổ Tục Tự để ký âm tiếng nói địa phương của họ, cho đến ngày nay ca khúc dân gian và sách bùa chú vẫn còn sử dụng thứ chữ nầy để ghi chép. Có điều là dân tộc này có quá nhiều phương ngữ nên cách viết và ghi chép không thống nhất nhau cho nên chỉ được dùng trong một phạm vi rất hạn hẹp. Ngày nay họ bắt đầu dùng mẫu tự Latin để ký âm tiếng nói của họ.

    Theo di tích khai quật được, dân tộc nầy còn có một lịch sử cổ xa xưa hơn nữa. Thí dụ: Thời Đồ đá cũ có thi hài của giống người "Liễu giang" mang đầy đủ nét đặc trưng của dân tộc Choang ngày nay. Thời Đồ đá mới tại di chỉ Ngoạ Bì Nham ở thành phố Quế Lâm, có đào thấy xương cốt của một giống người tương tự như tướng mạo người Choang hiện tại. Chứng cớ này cho thấy 50 ngàn năm trước đây dân tộc Choang đã có mặt và sinh sống trong vùng này.
    Do sự áp bức và cai trị đồng hóa của người Hán, người Choang đã nhiều lần nổi dậy chống đối suốt quá trình lịch sử cho đến cuối thế kỷ 19.

    Hậu Hán Thư ghi : Đời Linh-đế, năm thứ ba hiệu Kiến-ninh (năm 170 sau Công nguyên), viên thái thú Uất-lâm là Cốc Vĩnh đã xâm chiếm đất đai Ô-hử (Quảng Tây), đặt thành 7 huyện, cư dân gồm hơn 10 vạn người. Thế là dân Ô-hử bắt đầu bị chính quyền Đông Hán áp bức, bóc lột . . . Năm 178, (Quang Hòa thứ nhất) tháng giêng, nhân dân Hợp-phố Giao-chỉ, Ô-hử, đã nổi dậy, lôi kéo theo cả hàng vạn nhân dân hai quận Cửu Châu, Nhật Nam, khắp nơi nổi dậy đánh chiếm các quận huyện (Hậu Hán Thư q.8, 6a - q.116, 8b).

    Sách Lịch Sử Chế Độ Phong Kiến Việt Nam ghi thêm : Tình hình ở Nam Trung quốc còn là gần như không khi nào dược yên luôn trong ba ngày huống chi tình hình ở Giao châu vì vậy mâu thuẫn giữa nhân dân và bọn thống trị phong kiến thực dân lại càng thêm sâu sắc. Khởi nghĩa của nhân dân mỗi khi có cơ hội thuận tiện liền nổ ra ngay.

    Tân Đường Thư (q.80, 11a) cho biết năm 819 người Man Hoàng động (thuộc tộc Choang -TG) lại nổi loạn . . .

    Sử cũ ghi những cuộc khởi nghĩa mà người Hán gọi là giặc như giặc Hoàng Cân thời Đông Hán, giặc Hoàng Sào thời nhà Đường, giặc Nùng Chí Cao thời Tống, giặc Hồng Tú Toàn thời Mãn Thanh, . . đều là những cuộc quật khởi của người Choang chống người Hán cai trị . Hoàng Cân cũng nhừ Hồng Tú Toàn đã lập đạo Thái Bình. Theo sử gia Phan Khoang , Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn, thời Thanh đã thu phục được 16 tỉnh ở Hoa Nam lập thành nhà nước độc lập kéo dài 15 năm (1850-1864) đóng đô ở Nam Kinh (Thiên Kinh).

    Ở Việt Nam thời Lê Sơ tại tỉnh Cao Bằng có một sự kiện lịch sử liên quan tới cung nỏ của người Choang được ghi trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí : Đời Lê Thuận Thiên, đầu mục thiên thần là Bế Khắc Thiệu nghe tin thổ tù Nông Đắc Thái được thần cho cung tên bằng đồng, hễ bắn phát nào là tin, không phát nào là không trúng, bèn cho người mời Đắc Thái đến, cho làm Võ Kính Tướng quân, rồi đánh thuốc độc giết đi, chiếm lấy cung tên. Khắc Thiệu tự cho là được quỉ thần giúp sức, bèn có ý hùng cứ. Lê Thái Tổ tự làm tướng đi đánh, Khắc Thiệu giương cung bắn, không thấy ứng nghiệm, nên bị Lê Thái tổ bắt được.

    Chúng ta chưa đủ điều kiện để thăm dò, khảo sát những vách đá dọc theo bờ các sông Mãng, sông Hiến, sông Cổn , sông Huề chảy qua tỉnh Cao Bằng, nơi sinh tụ đông đảo người Choang ở Việt Nam, để kiếm tìm, phát hiện di tích của tổ tiên người Choang và biết đâu ta củng có thể tìm được di sản võ công của họ như đã thấy tại Hoa Sơn miền nam Trung quốc.

    Người Choang, ngoài mặt nhân chủng học, về phong tục học, có nhiều điểm khác người Hán nhưng lại giống người Việt phương nam, ví dụ tục nhuộm răng đen, xâm mình, . . . , hoặc những chuyện kể dân gian. Dưới đây chỉ nêu ra một vài chuyện liên quan tới cung nỏ, như Thần Tiễn Thủ Hậu Nghệ, Thần Cung Bảo Kiếm.

    Thần Tiễn Thủ Hậu Nghệ

    (Lược trích từ Lịch Sử Trung Quốc Năm Ngàn Năm của Lâm Hán Đạt và Tào Dư Chương, do Trần Ngọc Thuận dịch)

    Hậu Nghệ, thủ lãnh người Man Di (ngôn từ miệt thị của người Hán gọi người Bách Việt phương nam), là tay thiện xạ thường bắn trăm phát trúng cả trăm. Thần thoại kể rằng, thời cổ trên không có tới mười mặt trời, mặt đất nóng như thiêu, làm cháy hết hoa mầu. Mọi người xin Hậu Nghệ nghĩ cách giải quyết. Hậu Nghệ giương cung bắn liền mấy phát, làm chín mặt trời rụng xuống, chỉ để lại một mặt trời như ngày nay. Vì vậy, khí hậu trái đất trở nên ôn hòa, không còn khô hạn nữa. Lại nói thời cổ trên các dòng sông có nhiều thủy quái, thường gây nên sóng gió, tạo thành thủy tai, làm ngập hết hoa mầu, nhấn chìm người và gia súc. Hậu Nghệ lại dùng cung tên, bắn giết hết quái vật, mang lại cho dân tộc cuộc sống yên bình.

    Những thần thoại đó chứng tỏ tài bắn cung của Hậu Nghệ rất cao cường, được mọi người công nhận.



    Chú thích
    (1) Uỷ Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, LỊCH SỬVIỆT NAM tập I, Hà Nội, nhà xb KHXH, 1971, trang 87.
    (2) Wilhelm G. Solheim , New Light on a Forgotten Past, National Geographic, Vol. 139, No. 3 , March 1971, page 339.
    (3) Hùng Vương Dựng Nước , tập 4, Hà Nội, nxb KHXH, 1974, trang 292-299.
    (4) Dẫn theo Trần Quốc Vượng-Hà Văn Tấn, Lịch Sử Chế Độ Phong Kiến Việt Nam. Tập 1, Hà Nội, Giáo Dục, 1960, trang 26.
    (5) Wilhelm G. Solheim, đã dẫn, trang 339.
    (6) Phan Quỳnh, Non Bộ Trong Lịch Sử Việt Nam, Đặc san VOVINAM Việt Võ Đạo, Đại Hội Thế Giới tháng 8 năm 2000 tại California USA, trang 58- 72.
    (7) Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam , Saigon, Bách Bộc xb, 1971, Xuân Thu in lại tại Hoa Kỳ, trang 154-157, 784-787.

    Các loại binh khí chiến đấu của người Việt cổ đại

    Posted at  tháng 11 14, 2019  |  in  Văn-hóa-võ-thuật  |  Read More»

    Khảo sát folklore, dân tộc học, truyền thuyết dân gian. Thương, giáo, lao, có hình dạng tương tự và cùng với tên nỏ, cung, rìu, v.v. ... là những vũ khí đã được xử dụng thường xuyên của người Việt thời thượng cổ. Để được đầy đủ hơn cho công việc tìm hiểu nguồn gốc bản địa của những vũ khí truyền thống này, chúng ta không thể bỏ qua lĩnh vực khảo cổ và những tài liệu ở các lĩnh vực thuộc khoa học xã hội và nhân văn khác.

    Khảo cổ học thời thượng cổ Việt Nam đã được phân ra những giai đoạn có khung niên đại (dựa theo sách Lịch Sử Việt Nam tập I) như sau :

    -Thời đại đồ đá cũ : khoảng 300 ngàn năm về trước (di tích ở núi Đọ và văn hóa Sơn Vi hậu kỳ thời đá cũ ).

    -Thời đại đồ đá giữa : 10 ngàn năm trước nay (văn hóa Hòa Bình, nghề nông đã xuất hiện).

    -Thời đại đồ đá mới : 5 ngàn năm trước nay : văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Bầu Chó, văn hóa Hạ Long.

    -Thời đại đồ đồng thau :4 ngàn năm trước nay (văn hóa Phùng Nguyên).3 ngàn năm – 2.5 ngàn năm : Văn Hóa Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ. (1)


    Ngay từ thời đại đồ đá cũ, người Việt cổ đã biết dùng đá làm những công cụ chặt, nạo, rìu tay, ghè đẽo thô sơ tìm thấy núi Đọ (Thanh Hóa) cách nay ba trăm ngàn năm hay những công cụ bằng đá cuội ở vùng đồi núi Vĩnh Phúc Yên, Phú-thọ, (văn hóa Sơn Vi), cách nay trên dưới ba chục ngàn năm, hậu kỳ đồ đá cũ.

    Truyền thống kỹ thuật và văn hóa đá cuội Việt Nam được tiếp nối với hai nền văn hóa Hòa-bình (thuộc thời đại đá giữa) và văn hóa Bắc-sơn (thuộc buổi đầu thời đại đá mới).

    Bên cạnh kỹ thuật ghè đẽo, người Việt cổ đã phát minh kỹ thuật mài, tạo nên những chiếc rìu Bắc-sơn (rìu tứ giác mài lưỡi) nổi tiếng thời đại đồ đá mới. một số lưỡi dáo hay thương hoặc lao và mũi tên đá. Văn hóa Bắc-sơn là một trong những văn hoá có rìu mài sớm ởtrên thế giới. Tiến sĩ Wilhelm G. Solheim, giáo sư Nhân Chủng Học trường đại học Hawaii, nhận xét :”Tôi cho rằng những công cụ bằng đá dẽo có cạnh sắc tìm thấy ởphía bắc Úc châu và được định tuổi bằng Carbon 14 là hai chục ngàn năm trước Tây lịch đều thuộc nguồn gốc Hòa Bình “. (2).

    Trình độ phát triển vũ khí ở thời đại đồ đá tại Việt Nam nhìn chung, ngoại trừ rìu đá, vẫn còn ít ỏi về kiểu loại, và sự thô sơ của kỹ thuật cùng tính năng của nó. Những vũ khí này dù kỹ thuật chế tác có đạt tới bước phát triển cuối cùng của kỹ nghệ đồ đá, thì cũng vẫn bị chất liệu đá hạn chế khá nhiều độ sắc nhọn, hướng cải tiến và diện sử dụng.

    Tuy nhiên, cần ghi nhận ở đây điểm quan trọng là : một sở trường, một thiên hướng, một thị hiếu nữa, trong việc chọn lựa, sáng tạo và sử dụng vũ khí của tiền nhân người Việt đã được khẳng định ở thời đại đồ đá để rồi sau sẽ được nhân bội lên trong việc trực tiếp kế thừa và phát triển mạnh mẽ ở những thời đại đồ đồng, đồ sắt sau này, góp phần tạo nên những vũ khí truyền thống. Đó là sở trường, thiên hướng, thị hiếu dùng cung nỏ tên, rìu búa và giáo lao (thương) làm vũ khí chủ đạo.

    Và chính vì thế mà chúng ta có thể thấy thêm một đặc điểm thứ hai của tình trạng vũ khí ở bước này là : chưa có sự phân hóa, chuyển hóa rạch ròi và phổ biến giữa vũ khí và công cụ. Cây rìu, cung tên, ngọn giáo, ở thời kỳ này, lúc là công cụ để chặt bổ, săn bắn, lúc là vũ khí để đâm phóng, đánh bổ, hoặc vừa là công cụ vừa là vũ khí. Trong tình trạng này cũng chung cho cả những khí vật bằng chất liệu mà lòng đất không thể gìn giữ tới nay cho chúng ta hình dáng của nó, nhưng theo qui luật chung, hiển nhiên cũng tồn tại ở bước này. Đó là những gậy, búa, mũi nhọn, lao ... bằng tre, bằng gỗ, v.v...

    Tài liệu khảo cổ học thời đại đồ đồng thau thuộc văn hoá Đông-sơn (Thanh Hóa, Bắc Việt) cho thấy rằng trong khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Tây lịch, vũ khí của tổ tiên người Việt đã phát triển lên một mức và có một vai trò quan trọng đáng kể. Sự tăng tiến về số lượng và sự phong phú về kiểu dạng khai quật được phản ảnh rõ ràng sự phát triển của vũ khí ở bước này. Bên cạnh những vũ khí chủ đạo, kế thừa và phát triển trực tiếp từ những vũ khí thời đồ đá, là cung nỏ tên, lao giáo và rìu búa, (những vũ khí này chẳng những còn để lại những bằng cứ là vật chất, mà còn để lại đầy đủ bằng hình ảnh qua những nét chạm khắc trên các trống đồng, thạp đồng) còn nở rộ một loạt dáng kiểu vũ khí khác nhau khá phong phú. Có thể nói những thành phần vũ khí cơ bản của bộ binh trước khi có hỏa khí, đều đã thấy xuất hiện ở giai đoạn này. Đó là các loại vũ khí tấn công tầm xa như cung nỏ và lao, đánh tầm gần như thương, dáo, mác, rìu búa, dao găm, đoản kiếm, qua, và vũ khí phòng ngự như hộ tâm phiến, khiên, mộc, v.v....

    Nguyên liệu mới của những vũ khí này là một điều kiện rất cơ bản làm nẩy sinh một loại thuộc tính ưu việt của vũ khí. Đồng thau cùng với trình độ hiểu biết cao về kỹ thuật đúc cho phép sản xuất hàng loạt (Trường hợp điển hình là kho đầu mũi tên đồng ở thành Cổ-Loa, kinh đô của nhà nước Âu Lạc, khoảng mười ngàn mũi tên), tăng cường độ sắc nhọn của vũ khí và nhất là tạo điều kiện cho cho sự gia công cải tiến vũ khí, phát huy nhiều tính năng và tác dụng của vũ khí (đầu mũi tên đồng có hơn một chục loại, lao, giáo, dao găm, rìu chiến cũng có nhiều dáng vẻ khác nhau, có thể vừa đâm vừa chém và mũi tên bắn ra không lấy lại được, ...).

    Kết quả của những bài tính toán học và thực nghiệm cho thấy rằng với sức nặng của đầu mũi tên đồng Cổ Loa, thì phải có một chuôi tên dài từ 80 phân đến một mét mới có thể bắn tên đi ở tình trạng tốt nhất (độ dài này tính theo tỷ trọng của tre). Một chiếc tên như thế cho phép giả thiết rằng, ngoài cây cung là phương tiện phóng tên chắc chắn, còn có thể có cả hình thức nỏ máy để phóng tên nữa (3). (Một số hình ảnh chạm khắc trên trống đồng, những tài liệu dân tộc học và truyền thuyết vùng Cổ Loa cũng phù hợp với điều giả thiết này.) Sách Việt Kiệu Thư chép Man động xưa ở nước Nam Việt thời Tần rất mạnh, về phép dùng nỏ thì lại càng giỏi lắm, mỗi phát tên bằng đồng xuyên qua hơn chục người (4).

    Những tài liệu ở một ngôi mộ Việt Khê thời đồ đồng cũng cung cấp những số liệu chính xác về những cây dáo, cây lao, thương : cán có độ dài lên tới hai mét ba mươi bẩy phân, đường kính cán tương đối nhỏ, khoảng một phân rưỡi, nhưng bù lại, được lựa chọn từ loại cây có thớ dọc, dẻo dai, có độ bền cao và được cạp thêm một khoảng gần sát luỡi bằng mây sợi chẻ mỏng. Cán giáo còn được sơn bóng đẹp với nước sơn ta từng khoanh màu vàng và màu đen xen kẽ.

    Như vậy, ba vũ khí chủ đạo của người Việt cổ là : mũi tên, giáo lao hay thương và lưỡi rìu, và có nguồn gốc bản địa, sản xuất ngay tại chỗ. Giáo sư Wilhelm G. Solheim đã viết :

    “Quan niệm cổ điển về thời tiền sử cho rằng kỹ thuật vùng Đông Nam Á là kết quả của những làn sóng di dân từ phương Bắc mang tới. Ngược lại, tôi cho rằng vào thời đại đầu đồ đá mới , nền văn hóa Bắc Trung Hoa gọi là Ngưỡng Thiều là một phần của nền văn hoá Hòa Bình đã tỏa lên Bắc Trung Hoa vào khoảng sáu hay bẩy ngàn năm trước Tây lịch”.

    “Tôi cho rằng nền văn hóa mà sau này được gọi là văn hóa Long Sơn vẫn thường được coi là phát triển từ Ngưỡng Thiều • Bắc Trung Hoa rồi lan ra miền Đông và Đông Nam, thì trái lại thực ra đã khai sinh • Nam Trung Hoa và di chuyển lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều bắt nguồn từ gốc văn hóa Hòa Bình”.

    Mặt khác, tên gọi Nam Á (Austroasiatic) là thuật ngữ nhân chủng học và ngôn ngữ học bao gồm khu vực Đông Nam Á và Châu Á Hải Đảo kể cả phía Nam Trung Hoa mà một phần chủng tộc này được cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt (Điền Việt, Dương Việt, U Việt, Mân Việt, Đông Việt, Lạc Việt,...) sinh sống từ khu vực phía Nam sông Dương Tử đổ xuống phía nam, họp thành những khối cư dân lớn có những tiếng nói thuộc ngữ hệ Mon-Khmer, Việt-Mường và Malayo-Polynesian, những dân tộc thời tiền sử chủ yếu sống nông nghiệp, săn bắn đánh cá, dùng thuyền bè di chuyển trên sông rạch, biển cả, ăn mắm (chưa biết ăn xì dầu), ở nhà sàn, nhà mái cong, xâm vẽ mình, mặc: áo chui đầu (poncho), sà-rông, váy , v.v...khác với nhóm dân tộc thời tiền sử chủ yếu sống du mục, chăn nuôi với đồng cỏ mông mênh phía Bắc và Tây Bắc, thuộc ngữ hệ Hán-Tạng.

    Khi xưa tiếng Hán đang còn đóng khung ở vùng phía bắc sông Hoàng Hà, sông Vị Hà thì nó chưa thể có nhiều những từ nêu lên tên gọi của những sản vật mà chỉ phương nam mới có, do đó có sự vay mượn, ảnh hưởng qua lại các thuật ngữ vùng Nam Á. Những danh từ chỉ thực vật như cảm lãm (trám), phù lưu (trầu), ba la mật (mít) v.v... chắc chắn là những danh từ vay mượn các ngôn ngữ vùng nhiệt đới. Để chỉ sông, phía bắc, người Hán gọi là Hà, nhưng từ sông Dương Tử trở về nam lại gọi là Giang. Theo các nhà địa danh học : Giang ( 江) là một từ người Hán vay mượn, rất dễ dàng gợi cho ta nghĩ đến Kion (Miến), Kon (Katu), Karan (Mơ-nông), Krong (Chàm), Không ( Mường), Hông (Khả), Krông (Bà Na), Khung (Thái), Sôngal (Mã Lai), cũng như nghĩ đến Sông trong tiếng Việt (Việt Miên Lào có chung con sông là Mê-kông).

    Có khi chiều ảnh hưởng chỉ đi theo một dường thẳng đơn giản, từ bên này sang bên kia, nhưng cũng nhiều khi mũi tên có thể đi đường vòng từ A sang B, rồi lại từ B quay trở lại A. Đó là trường hợp của nỏ, thứ vũ khí phương Namta gọi là Ná. (So sánh với Na của người Mường, người Chức, Nả của người La-Ha (Mưng La) , Hna của người Bà Na, Na của người Ê Đê, dọc Trường Sơn, Mnaá của người Sơ Đăng, Sa Na của người Kơ-ho, Snao của người Raglai, Na của người Mạ Nam Tây-nguyên, Hnaá của người Gia Rai, S-Na của người Miên, Sơ-Na của người Srê, hay Sna của người Chàm Phan Rang, Phan Rí , Ná của người Thái Trắng, Pna của người Mã Lai , v.v. ...), có nhiều cơ sở để có thể khẳng định chính từ tên gọi loại vũ khí này mà được nhập vào vốn từ vựng của người Trung Hoa, sản sinh ra tiếng Hán có cách đọc Hán Việt cổ là Nổhay Hán Việt hiện nay là Nõ, (chữ Nõ [弩] tổng hợp của thanh phù Nô [ 奴] (như Nô Bộc) đứng trên chữ Cung tượng hình [弓] rồi lại quay trở về Việt Nam được đọc theo Nôm là Nỏ. Nỏ là một phát minh của người phương nam (6).





    Sách Lĩnh Nam Chích Quái chép truyện Triệu Đà sai con là Trọng Thủy đánh cắp nỏ thần phương nam của An Dương Vuơng Thục Phán.

    Cái Rìu của tổ tiên chúng ta cũng có một sự tích lý thú, được đặt thành tên dân tộc: Về ý nghĩa của tộc danh Việt, lâu nay một số người dựa trên dạng chữ Hán hiện đại [越] có chứa bộ tẩu [走] của chữ này để giải thích rằng Việt nghĩa là chạy, vượt. Thực ra chữ Việt trong Hán tự đã trải qua nhiều cách viết rất khác nhau, đây là tên gọi có từ lâu đời (họ Việt[粤] –thường, chủng Bách Việt được nhắc đến trong sử Bắc từ rất sớm).

    Theo Bình Nguyên Lộc (7), việt [钺] vốn là tên gọi một loại công cụ kiêm vũ khí rất đặc thù của người Việt cổ : cái rìu. Như chúng ta đã biết, khảo cổ học đã tìm được ở khắp nơi trong địa bàn cư trú của người Việt cổ rất nhiều loại rìu với các nguyên liệu khác nhau (đá, đồng, sắt) như rìu đá có tay cầm, rìu đồng hình tứ giác, rìu đồng lưỡi xéo. Trong ngôn ngữ Nam-Á cổ đại, rìu hay dìu có lẽ đã được phát âm là “uỵt” hoặc một âm gì đó tương tự (các truyền thuyết Mường gọi vua Việt là Bua Dịt hay Dịt Dàng). Khi tiếp xúc với người phương Nam, tổ tiên người Hán, với tính cách du mục vốn có, đã rất chú ý đến loại công cụ có thể được dùng như vũ khí này, coi nó là đặc trưng quan trọng của ngưòi phương Nam nên đã gọi họ là bọn Rìu : “Uỵt” được phiên âm qua tiếng Hán cổ (tiếng Quảng Đông-vùng Bách Việt), rồi từ tiếng Hán lại phiên âm trở lại theo cách đọc Hán-Việt thành Việt. Chính cái vật chất là cái rìu lưõi xéo có cán đã là nguyên mẫu để tổ tiên người Trung Hoa, khi tiếp xúc với phương Nam, đã mô phỏng theo đó mà tạo nên chữ Việt nguyên thủy. Còn trong tiếng Việt, chữ”Uỵt” nguyên thủy ở bản địa đã trải qua nhiều biến đổi ngữ âm để có được bộ mặt của chữ rìu hiện nay cùng với cả một họ các từ gần nghĩa : rìu , rèn, rào, dao , rựa , ... Bên cạnh đó, cho đến gần đây vẫn có một chữ Việt với tư cách danh từ chung có nghĩa là rìu ; nó xuất hiện trong kết hợp phủ việt (phủ = búa, việt = rìu), tương tự giống trường hợp chữ Ná người Hán mượn rồi trở về ta là chữ Nỏ.

    Cung nỏ Bách Việt - Võ công Hoa Sơn Qua Khảo Cổ và Cổ tích

    Ở phía Nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, dọc theo hai dòng sông Minh Giang và Tả Giang là những vách đá của dẫy Hoa Sơn dài hàng trăm cây số còn lưu lại nhiều bích họa được thực hiện từ thời xa xưa ghi lại sinh hoạt , kể cả chiến tranh và võ thuật thời thượng cổ của một dân tộc thiểu số miền Nam Trung Quốc, dân tộc Choang. Hiện người ta còn đếm được khoảng trên 50 bức bích họa lớn nhỏ khác nhau trên nền tranh vách đá thẳng đứng bên các dòng sông uốn khúc tại đây ; có bức dài tới 130 mét, cao 40 mét ghi vẽ chạm khắc trên mặt đá khoảng 3000 người và vật với những tư thế luyện võ và chiến đấu tay không hay sử dụng binh khí của tổ tiên người Choang ở Hoa Nam. Nổi tiếng nhất là tấm bích họa ở gần thành Ninh Minh, Hoa Sơn.

    Sách Ninh Minh Châu Chí ghi : Núi Hoa Sơn cách thành 50 dặm, trong vách đá đứng dựng có những hình người màu đỏ, tất cả đều trần truồng, hoặc to hoặc nhỏ, hoặc cầm giáo gậy hoặc cưỡi ngựa; trước khi có loạn, sắc màu sáng sủa, loạn qua rồi màu sắc ảm đạm. Men theo bờ sông, một con đường giữa hai bờ sông, trên vách đã hình vẽ như thế có nhiều.

    Nói về những hình võ trên vách đá Hoa Sơn, sách Võ Thuật Thần Kỳ của Trịnh Cần và Điền Vân Thanh viết : Tranh vách đá Hoa Sơn vẽ người đường nét đơn giản, chắc khỏe, động tác chiêu thức rõ ràng, phát lực tràn trề. Thần thái thì oai võ, phần lớn đứng mã bộ và thế tấn nửa mã bộ, linh hoạt ẩn hiện, sinh động như thật.

    Vật phẩm trong tranh vách đá ở Hoa Sơn cũng tạo hình sống động, kết cấu nghiêm ngặt, có trống đồng, đao có vòng ở đầu (hoàn thủ đao), trường thương, phiêu ném (thủ phiêu) mã tấu, kiếm, nỏ núi (sơn nỗ), tên tre v.v... đủ nói lên tình hình phát triển võ thuật của dân tộc Choang Quảng Tây thời ấy đã hừng hực, khí giới dùng trong võ thuật cũng phức tạp, đa dạng.

    Ngoài những thứ kể trên ra, trong nhóm tượng ở Ninh Minh Hoa Sơn có một con vật bốn chân tướng mạo như chó sói một tay cầm phi đà (quả cân ném, một kiểu lưu tinh chùy), lưng đeo bảo kiếm, hai chân gập gối dạng ra khuỵu xuống, ưỡn ngực, đè hông thành tấn mã bộ vững vàng trầm chắc. Xem ra có lẽ đó là vật tổ của dân Choang có võ công thật phi phàm.

    Võ công trên vách đá Hoa Sơn của dân tộc Choang đã là nguồn cảm hứng dồi dào cho tác giả Kim Dung tạo dựng những tình tiết độc đáo trong các bộ tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng sau này.

    Choang là một sắc tộc thiểu số ở Trung Quốc có số nhân khẩu lớn nhất, 23 triệu người theo thống kê năm 1982, trong đó khoảng 22 triệu người sinh sống tập trung tại Quảng Tây, số còn lại sống rải rác tại các miền Vân Nam, Quý Châu, Hồ Nam, Quảng Đông, v.v. . . thuộc miền nam Trung Quốc.



    Các tiếp giáp với Việt Nam là các tỉnh Quảng Đông,Quảng Tây, Vân Nam.



    Cũng như dân tộc Việt Nam, dân tộc Choang là một chi phái của Bách Việt xa xưa mà cổ thư thường đề cập về dân tộc này với những tên khác nhau, ở Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, như Bộc, Ấu, Việt, Mai, Liêu, Choang, Đặng, Ô-hử, Tổn Tử, , Sản Lý, Bách Bộc, Cửu Khốn, v.v. . .. Đến thời nhà Minh, người Trung Quốc gọi tên dân tộc Choang là người Lang. Tên gọi Choang hay Trang là từ có âm Zhuang thời nhà Tống. Người Choang cũng sinh sống nhiều tại các tỉnh Cao Bằng , Lạng Sơn của Việt Nam, và theo Hoàng Xuân Hãn, được ta phân biệt các sắc dân ấy bằng tên họ như họ Hoàng, họ Vi, họ Nùng, họ Chu, họ Giáp, v.v. . .

    Ở Vân Nam(TQ), người Choang còn được gọi là người Băng Long (ngày xưa người Hán gọi họ là Bộc nhân). Người Choang Vân Nam xưa nay tính dũng cảm, thích võ. Họ gọi võ thuật do tổ tiên truyền lại là tả quyền vì khi tỉ thí võ công, trái đấm tay trái là trái đấm mãnh liệt cuối cùng quyết định thắng bại (tả quyền định thắng bại), họ dùng bài võ cổ truyền linh hoạt và đa biến để nghênh chiến đối phương, nhè lúc đối thủ không phòng bị cuối cùng dùng tay trái ra tuyệt chiêu mà đắc thắng chắc chắn.

    Theo sách Kinh Thư, một cổ sử do Khổng Tử san định, tổ tiên người Choang (Vi, Bộc) được xem là một trong những nhóm Bách Việt đã hợp tác với Chu Võ Vương tạo một liên minh quân sự để tiêu diệt vua Trụ thành lập nhà Tây Chu (1134-770 trước tây lịch). Trong sách Thượng Thư do Nhượng Tống dịch và chú giải có đoạn ghi : Vua (Chu Vũ Vương) nói : Hỡi các chúa các nước bạn ta! Hỡi các quan coi việc ! Nào Tư Đồ, Tư Mã, Tư Không, Á Lữ, Sư Thị, Thiên Phu Trưởng ! Cùng người các xứ Dung, Thục Khương, Mao, Vi, Lô, Bành, Bộc ! Giơ mác lên ! Dựng đứng ngọn giáo ! Ta thề đây !.

    Ngày nay, những người Choang ở Quảng Tây tự xưng tên dân tộc mình với khoảng 20 tên gọi khác nhau, thông dụng nhất là Bố Choang, Bố Thổ, Bố Ỷ, Bố Bản, Bố Việt, v.v. . . với ý nghĩa là dân bản địa ở đây. Từ BỐ hay PO, BẾ, . . . làm chúng ta liên tưởng trực tiếp đến ngôn ngữ có nguồn gốc Nam Á . Ví dụ các dân tộc ở Việt Nam, Chăm có tên gọi như Bố Cái Đại Vương (Việt), Po Romé, Po Nagar(Chăm), hay Poropudua (Indonesia), . . . hoặc tên họ như Bố Thuận, Bế Khắc Thiệu, Bố Xuân Hội . . .

    Dân tộc Choang Quảng Tây có tiếng nói riêng, thuộc ngữ tộc Choang-Đồng, ngữ chi Tày-Nùng, và dĩ nhiên, trong sự giao lưu đồng hóa của người Hán, ngôn ngữ Choang cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngữ hệ Hán-Tạng. Giống như phương cách cấu tạo chữ Nôm của Việt Nam, dân tộc Choang đã sử dụng chữ Hán, cách nay cả ngàn năm, để tạo thành chữ riêng của họ, gọi là Thổ Tục Tự để ký âm tiếng nói địa phương của họ, cho đến ngày nay ca khúc dân gian và sách bùa chú vẫn còn sử dụng thứ chữ nầy để ghi chép. Có điều là dân tộc này có quá nhiều phương ngữ nên cách viết và ghi chép không thống nhất nhau cho nên chỉ được dùng trong một phạm vi rất hạn hẹp. Ngày nay họ bắt đầu dùng mẫu tự Latin để ký âm tiếng nói của họ.

    Theo di tích khai quật được, dân tộc nầy còn có một lịch sử cổ xa xưa hơn nữa. Thí dụ: Thời Đồ đá cũ có thi hài của giống người "Liễu giang" mang đầy đủ nét đặc trưng của dân tộc Choang ngày nay. Thời Đồ đá mới tại di chỉ Ngoạ Bì Nham ở thành phố Quế Lâm, có đào thấy xương cốt của một giống người tương tự như tướng mạo người Choang hiện tại. Chứng cớ này cho thấy 50 ngàn năm trước đây dân tộc Choang đã có mặt và sinh sống trong vùng này.
    Do sự áp bức và cai trị đồng hóa của người Hán, người Choang đã nhiều lần nổi dậy chống đối suốt quá trình lịch sử cho đến cuối thế kỷ 19.

    Hậu Hán Thư ghi : Đời Linh-đế, năm thứ ba hiệu Kiến-ninh (năm 170 sau Công nguyên), viên thái thú Uất-lâm là Cốc Vĩnh đã xâm chiếm đất đai Ô-hử (Quảng Tây), đặt thành 7 huyện, cư dân gồm hơn 10 vạn người. Thế là dân Ô-hử bắt đầu bị chính quyền Đông Hán áp bức, bóc lột . . . Năm 178, (Quang Hòa thứ nhất) tháng giêng, nhân dân Hợp-phố Giao-chỉ, Ô-hử, đã nổi dậy, lôi kéo theo cả hàng vạn nhân dân hai quận Cửu Châu, Nhật Nam, khắp nơi nổi dậy đánh chiếm các quận huyện (Hậu Hán Thư q.8, 6a - q.116, 8b).

    Sách Lịch Sử Chế Độ Phong Kiến Việt Nam ghi thêm : Tình hình ở Nam Trung quốc còn là gần như không khi nào dược yên luôn trong ba ngày huống chi tình hình ở Giao châu vì vậy mâu thuẫn giữa nhân dân và bọn thống trị phong kiến thực dân lại càng thêm sâu sắc. Khởi nghĩa của nhân dân mỗi khi có cơ hội thuận tiện liền nổ ra ngay.

    Tân Đường Thư (q.80, 11a) cho biết năm 819 người Man Hoàng động (thuộc tộc Choang -TG) lại nổi loạn . . .

    Sử cũ ghi những cuộc khởi nghĩa mà người Hán gọi là giặc như giặc Hoàng Cân thời Đông Hán, giặc Hoàng Sào thời nhà Đường, giặc Nùng Chí Cao thời Tống, giặc Hồng Tú Toàn thời Mãn Thanh, . . đều là những cuộc quật khởi của người Choang chống người Hán cai trị . Hoàng Cân cũng nhừ Hồng Tú Toàn đã lập đạo Thái Bình. Theo sử gia Phan Khoang , Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn, thời Thanh đã thu phục được 16 tỉnh ở Hoa Nam lập thành nhà nước độc lập kéo dài 15 năm (1850-1864) đóng đô ở Nam Kinh (Thiên Kinh).

    Ở Việt Nam thời Lê Sơ tại tỉnh Cao Bằng có một sự kiện lịch sử liên quan tới cung nỏ của người Choang được ghi trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí : Đời Lê Thuận Thiên, đầu mục thiên thần là Bế Khắc Thiệu nghe tin thổ tù Nông Đắc Thái được thần cho cung tên bằng đồng, hễ bắn phát nào là tin, không phát nào là không trúng, bèn cho người mời Đắc Thái đến, cho làm Võ Kính Tướng quân, rồi đánh thuốc độc giết đi, chiếm lấy cung tên. Khắc Thiệu tự cho là được quỉ thần giúp sức, bèn có ý hùng cứ. Lê Thái Tổ tự làm tướng đi đánh, Khắc Thiệu giương cung bắn, không thấy ứng nghiệm, nên bị Lê Thái tổ bắt được.

    Chúng ta chưa đủ điều kiện để thăm dò, khảo sát những vách đá dọc theo bờ các sông Mãng, sông Hiến, sông Cổn , sông Huề chảy qua tỉnh Cao Bằng, nơi sinh tụ đông đảo người Choang ở Việt Nam, để kiếm tìm, phát hiện di tích của tổ tiên người Choang và biết đâu ta củng có thể tìm được di sản võ công của họ như đã thấy tại Hoa Sơn miền nam Trung quốc.

    Người Choang, ngoài mặt nhân chủng học, về phong tục học, có nhiều điểm khác người Hán nhưng lại giống người Việt phương nam, ví dụ tục nhuộm răng đen, xâm mình, . . . , hoặc những chuyện kể dân gian. Dưới đây chỉ nêu ra một vài chuyện liên quan tới cung nỏ, như Thần Tiễn Thủ Hậu Nghệ, Thần Cung Bảo Kiếm.

    Thần Tiễn Thủ Hậu Nghệ

    (Lược trích từ Lịch Sử Trung Quốc Năm Ngàn Năm của Lâm Hán Đạt và Tào Dư Chương, do Trần Ngọc Thuận dịch)

    Hậu Nghệ, thủ lãnh người Man Di (ngôn từ miệt thị của người Hán gọi người Bách Việt phương nam), là tay thiện xạ thường bắn trăm phát trúng cả trăm. Thần thoại kể rằng, thời cổ trên không có tới mười mặt trời, mặt đất nóng như thiêu, làm cháy hết hoa mầu. Mọi người xin Hậu Nghệ nghĩ cách giải quyết. Hậu Nghệ giương cung bắn liền mấy phát, làm chín mặt trời rụng xuống, chỉ để lại một mặt trời như ngày nay. Vì vậy, khí hậu trái đất trở nên ôn hòa, không còn khô hạn nữa. Lại nói thời cổ trên các dòng sông có nhiều thủy quái, thường gây nên sóng gió, tạo thành thủy tai, làm ngập hết hoa mầu, nhấn chìm người và gia súc. Hậu Nghệ lại dùng cung tên, bắn giết hết quái vật, mang lại cho dân tộc cuộc sống yên bình.

    Những thần thoại đó chứng tỏ tài bắn cung của Hậu Nghệ rất cao cường, được mọi người công nhận.



    Chú thích
    (1) Uỷ Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, LỊCH SỬVIỆT NAM tập I, Hà Nội, nhà xb KHXH, 1971, trang 87.
    (2) Wilhelm G. Solheim , New Light on a Forgotten Past, National Geographic, Vol. 139, No. 3 , March 1971, page 339.
    (3) Hùng Vương Dựng Nước , tập 4, Hà Nội, nxb KHXH, 1974, trang 292-299.
    (4) Dẫn theo Trần Quốc Vượng-Hà Văn Tấn, Lịch Sử Chế Độ Phong Kiến Việt Nam. Tập 1, Hà Nội, Giáo Dục, 1960, trang 26.
    (5) Wilhelm G. Solheim, đã dẫn, trang 339.
    (6) Phan Quỳnh, Non Bộ Trong Lịch Sử Việt Nam, Đặc san VOVINAM Việt Võ Đạo, Đại Hội Thế Giới tháng 8 năm 2000 tại California USA, trang 58- 72.
    (7) Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam , Saigon, Bách Bộc xb, 1971, Xuân Thu in lại tại Hoa Kỳ, trang 154-157, 784-787.

    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."
    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.

    Về danh xưng “Võ cổ truyền Việt Nam”, theo võ sư Võ Kiểu nguyên tổng thư ký liên đoàn Quyền thuật miền Trung trước 1975: “Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi “võ ta”, là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!” Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng “Võ Ta” bằng tên gọi “võ cổ truyền Việt Nam”có thể “vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa” trong môn võ đẹp này.

    15 16 28 46 958 Lịch sử Võ cổ truyền

    Lịch sử
    Tại Việt Nam, thời Pháp mới chiếm Việt Nam, các hệ phái võ thuật cổ truyền bị thực dân Pháp cấm lưu hành vì những người đứng đầu các phong trào khởi nghĩa chống Pháp đều là người giỏi võ Việt Nam. Khoảng năm 1925, võ cổ truyền Việt Nam được khôi phục song song với các môn võ ngoại quốc khác được đưa vào Việt Nam, như: Quyền Anh (Boxing, Boxe), Thiếu Lâm (Shaolin)…

    Trong giai đoạn này, nhiều võ sư huyền thoại đã để lại danh tiếng: toàn quốc Việt Nam, trước năm 1945, ai cũng nghe danh Tứ Đại Võ Sư là Bái Mùa Cát Quế, đào tạo vô số thanh niên yêu nước sẵn sàng bảo vệ quê hương mến yêu và phụng sự dân tộc, tạo truyền thống thượng võ lan rộng khắp năm châu. Sau năm 1945, cụ Quế có các cao đồ là Sư Tổ Nguyễn văn Quý và Trưởng Tràng là Võ Sư Đặng văn Hinh, kế tiếp là Võ Sư kiêm Giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Quang Lương, Chưởng Môn võ phái Việt Đạo Quán trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đến năm 1975 được bổ nhiệm làm Chưởng Môn Việt Đạo Quán Thế Giới; 3 võ sư còn lại trong 4 đại danh sư kể trên được mệnh danh là “Tam Nhựt” gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa vì có công lớn trong việc khôi phục truyền thống võ Việt Nam trong thời gian này. Mãi đến khi Pháp rời khỏi Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự phục hồi võ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam ( VABA ),và Tổng Hội Võ Sư Nghiên Cứu Và Phổ Biến Võ Học Việt Nam, gọi tắt là Tổng Hội Võ Học Việt Nam. Ba võ sư có công lớn trong giai đoạn này là: Trương Thanh Đăng, sư tổ của võ phái Bình Định Sa Long Cương, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai (được mệnh danh là “Tam Nguyệt”) tiếp nối việc khôi phục và phát triển võ Việt Nam.

    Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 đến năm 1963, Ngô Đình Diệm lại tiếp tục cấm các đoàn võ thuật phát triển (trong đó có võ Việt Nam), vì năm 1960, trong lực lượng tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm thất bại có đoàn võ sĩ Nhu đạo do võ sư Phạm Lợi chỉ huy. Năm 1964, võ thuật được tiếp tục hoạt động, trong đó có võ Việt Nam. Trong giai đoạn này, võ thuật Việt Nam đã lớn mạnh, sánh vai ngang hàng với võ thuật các nước trong khu vực, như: Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Campuchia… Nhiều võ sĩ Việt Nam đã chiến thắng vẻ vang trước nhà vô địch của các nước bạn trong trong khu vực. Bốn võ sư đã có công đào tạo nhiều võ sĩ ưu tú cho làng quyền thuật Việt Nam, nhất là đào tạo nhiều võ sĩ giỏi đại diện cho màu cờ sắc áo Việt Nam chiến thắng vẻ vang nhiều nhà vô địch của các nước bạn, chính là: Từ Thiện Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Bốn võ sư này đã được Tổng Nha Thanh Niên trao tặng Bằng Khen về các thành tích vẻ vang cho đất nước, và từ đó, giới võ thuật gọi bốn võ sư này là “Tứ Tú” (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp “Tam Nhựt” (ba mặt trời) và “Tam Nguyệt” (ba mặt trăng) trong việc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, do tình hình trật tự an ninh còn hỗn loạn, võ thuật Việt Nam tạm ngừng phát triển một thời gian. Năm 1979, nhân sự kiện quân đội Trung Quốc và quân đội Khmer đỏ tấn công Việt Nam, nhà nước Việt Nam đã cho khôi phục hoạt động võ thuật, trong đó có võ thuật cổ truyền Việt Nam, để tập hợp thanh niên rèn luyện tinh thần bất khuất sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau đó, các Liên đoàn võ thuật hình thành để quản lý phong trào võ thuật, trong đó có Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam hình thành năm 1991. Tuy nhiên, do nhiều lý do, từ đó cho đến năm 2007, võ thuật Việt Nam vẫn chưa được nhà nước Việt Nam quan tâm phát triển như những môn võ thuật có thi đấu quốc tế như: Taekwondo, Judo, Karatedo, Wushu, Pencak silat, Boxing, Vovinam…

    Đặc điểm
    Võ thuật cổ truyền Việt Nam thể hiện một số đặc điểm:

    Thường là võ trận, sử dụng trong trận mạc, chiến đấu chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên hoang dã, chống trả và săn bắt hổ, lợn rừng, bảo vệ nhà cửa, làng xóm, chống trộm cướp.
    Thích hợp với nhiều loại địa hình.
    Thực dụng, linh hoạt.
    Dĩ công vi thủ, dĩ nhu chế cương, dĩ đoản chế trường.
    Các bài quyền đều có lời thiệu bằng thơ, phú
    Muốn luyện thành thạo phải luyện với thiên nhiên nơi có khí trong lành, để tăng khí công trong người, khi đó ra đòn sẽ mạnh hơn.
    Một số hệ phái võ thuật cổ truyền Việt Nam
    Miền Bắc
    Hoàng quyền
    Nhất Nam (võ Hét)
    Võ Vật Liễu Đôi
    Thăng Long Võ Đạo
    Nam Hồng Sơn
    Thanh Phong Võ Đạo
    Miền Trung
    Tây Sơn Võ Đạo
    Bình Thái Đạo
    Áo Vải
    Miền Nam
    Bạch Hổ Võ Phái
    Tân Khánh Bà Trà
    Kim Kê
    Thanh Long Võ Đạo
    Tiên Long Quyền Đạo
    Bình Định Sa Long Cương
    Trúc Lâm Thái Hư
    Việt Đạo Quán
    Tây Sơn Bình Định
    Hóa Quyền Đạo [2]
    Hải ngoại
    Sơn Long Quyền Thuật
    Võ Thuật Văn Võ Đạo
    Phượng Long Võ Đạo
    Nam Hổ Quyền
    Hoa Long Võ Đạo
    Tinh Võ Nam Hải
    Võ Khí Thuật
    Thiếu Hổ
    Văn Long Võ Đường
    Minh Tâm Võ Đạo
    Trường Bạch Long
    Võ Kinh Vạn Nam Phái
    Thủy Pháp
    Cây Lau Võ Đường
    Minh Long Tây Sơn Võ Đạo [3]
    Việt Đạo Quán Thế Giới [4]
    Qwankido (Quán Khí Đạo)
    Việt Võ Đạo
    Đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu chú ý đến tác dụng của võ thuật cổ truyền trong việc rèn luyện sức khoẻ vì mục đích dưỡng sinh, trường thọ. Điều đó có nghĩa là đã đến lúc người ta hiểu ra rằng, võ thuật ra đời không chỉ để cho con người có công cụ đấu tranh chống lại thú dữ và kẻ thù bên ngoài mà còn để giúp họ chống lại kẻ thù bên trong cơ thể là bệnh tật.

    Tại Trung quốc, nguyên thuỷ môn Thái Cực Quyền là võ thuật chiến đấu, tương truyền có từ thời Trương Tam Phong (vào khoảng thế kỷ thứ 12) hoặc Vương Tông Nhạc (1733-1795), đã được lưu truyền bởi năm dòng họ (Trần, Dương, Vũ, Ngô, Tôn ). Riêng Thái Cực Quyền của dòng họ Dương, khởi nguồn từ Dương Lộ Thiền (1799-1872) và truyền đến Dương Thủ Trung (1010-1985) thì đến năm 1956 được Trung Hoa Quốc Gia Thể Uỷ của Trung Quốc giản hoá thành bài quyền hoàn toàn vì mục đích tập luyện dưỡng sinh, được gọi là "Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền ". Chẳng bao lâu sau, bài võ dưỡng sinh Thái Cực Quyền này ngày càng được đông đảo các võ sư và người chưa từng tập võ theo tập. Các bài võ dưỡng sinh tiếp theo như Thái Cực Kiếm, Thái Cực Đao, Thái Cực Thương, Đơn phiến, Song phiến... tiếp tục ra đời do được biên soạn từ các bài võ cổ truyền Trung Quốc, đã cùng với bài Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền được phổ biến ra nhiều nước trên thế giới.

    Năm 1983 được chọn là "Năm quốc tế người già" đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam có mục đích dùng Võ hỗ trợ cho Y để phòng chống bệnh tật, phục hồi sức khoẻ đồng thời dùng y học hiện đại và y học cổ truyền lý giải cơ sở khoa học của các động tác kỹ thuật và những hình thức vận động võ thuật nhằm đạt được yêu cầu dưỡng sinh. Người ta nói rằng, từ đây võ thuật công khai xác định đối thủ cần đánh bại là bệnh tật và phong trào tập luyện đẩy lùi bệnh tật được gọi là "Y Võ dưỡng sinh"

    Hiệu ứng rõ nhất của phong trào Y Võ dưỡng sinh nói trên là sự xuất hiện và lan rộng rất nhanh của phong trào tập bài võ dưỡng sinh cổ truyền có tên Thái Cực Trường Sinh, do ông Song Tùng khởi xướng vào năm 1986 ở miền Bắc .

    Theo tài liệu phổ biến của Trung tâm Trường Sinh Đạo (từ năm 1995 chuyển thành trung tâm trực thuộc UNESCO Việt Nam) thì ông Song Tùng lúc 33 tuổi, cơ thể ốm yếu do mang một số bệnh tật, đã được người cậu ruột là ông Hoàng Đình Thực (quê Nghệ Tĩnh) dạy bài võ gia truyền Thái Cực Trường Sinh để chữa bệnh. Tài liệu này khẳng định Thái Cực Trường Sinh là một bài võ cổ truyền có tính dân tộc: "Hơn nửa tháng ở quê nhà, cụ Thực ân cần chỉ dẫn cho học trò Song Tùng cách chạy chữa bằng phép luyện quyền thuật. Võ thuật là rèn luyện thể lực, ứng phó trong mọi tình huống. Luyện hình của bài này là quyền thuật, nhưng khác quyền thuật ở chỗ động tác của bài này chỉ là phương tiện để đạt được đạo. Ai có cơ duyên, đạo sẽ đến. Đạo ở đây là "võ đạo"".

    Theo ý kiến của cụ Song Tùng: "đây là bài Thái Cực Quyền kết hợp với luyện Thiền từ Trung Quốc và Yoga của Ấn Độ truyền bá sang Việt Nam, được cha ông chúng ta "Việt hóa"".

    Càng ngày người ta càng khẳng định tác dụng phòng ngừa và chữa bệnh của võ thuật, đặc biệt là võ cổ truyền, và bắt tay vào việc khai thác để ứng dụng trong tập dưỡng sinh. Ngày nay đất nước chúng ta có hằng triệu người, kể cả những người còn trẻ, mang nhiều bệnh mãn tính chạy chữa bằng thuốc đông, tây y nhiều năm không có kết quả. Hằng năm phải tốn cả triệu mỹ kim nhập thuốc an thần, trấn thống cũng chỉ giúp người bệnh tạm thời vượt qua cơn đau thể xác chớ không chữa khỏi bệnh tật.

    Những bệnh mãn tính ngày càng phát triển này thường là:

    - Loãng xương, thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm dẫn đến tê, bại tay, chân, đau nhức vai, gáy, đau nhức thần kinh toạ,

    - Mất ngủ dẫn đến suy nhược thần kinh, giảm khả năng làm việc,

    - Tăng huyết áp kéo dài dẫn đến tai biến mạch máu não, suy tim, hại thận, tiểu đường, nhồi máu cơ tim, đột quị.

    Nguồn gốc của các bệnh mãn tính trên đều có thể giải quyết triệt để bằng việc tập luyện quyền thuật võ cổ truyền theo những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc đó là:

    1. Thực hành chính xác kỹ thuật vận động đòn, thế, theo cơ cấu kiến thiết bài quyền để giải toả những bế tắc về mặt cơ học,

    2. Áp dụng phương pháp tập luyện hoà hoãn, cương nhu phối triển và lấy nhu làm chủ đạo, để điều chỉnh theo hướng tích cực hoạt động của hệ thần kinh.

    3. Tập trung cao độ ý chí vào việc ghi nhớ, dẫn dắt động tác nhằm tạo ra sự hưng phấn tinh thần để đưa hoạt động huyết mạch vào tình trạng ức chế có lợi cho hoạt động của bộ máy tuần hoàn, hạ thấp huyết áp, giải toả căng thẳng thần kinh, căng cứng cơ bắp (stress), khôi phục trí nhớ.

    4. Hít sâu, thở hết và luân chuyển khí có mục tiêu nhưng tự nhiên, thoải mái để bồi bổ dưỡng khí (oxy) cho máu, thải thoát thán khí (carbonic) ra khỏi máu, gia tăng sự vận động thuận lợi của hoạt động nội tạng và các tuyến nội tiết.

    Trong những bài quyền võ cổ truyền Việt Nam (trước đây gọi là "Võ Ta") có một số bài, đặc biệt có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa và chữa trị các bệnh mãn tính trên như:

    - Xà quyền (đối với các bệnh về cột sống, loãng xương),

    - Phụng Hoàng quyền (đối với các bệnh về thần kinh, rèn luyện phần tiền đình não, làm giảm nguy cơ mất thăng bằng, chóng mặt, ngã té ở người lớn tuổi),

    - Hổ quyền (đối với các bệnh về khớp, duy trì sự cường tráng của cơ thể)

    - Hầu quyền (đối với các bệnh lão hoá về ngũ giác quan và tăng phản ứng nhanh cho mọi lứa tuổi)

    Chính vì vậy, Võ thuật cổ truyền Việt Nam có vai trò rất lớn trong phép tập dưỡng sinh. Cần xây dựng môn Võ dưỡng sinh (L' Art marcial de conserver la sante') thuần tuý dân tộc, trên cơ sở khai thác các yếu tố vừa là Y thuật vừa là Võ học trong các bài quyền Võ cổ truyền Việt Nam, nhằm giúp cho người tập luyện có cuộc sống khoẻ mạnh, vui tươi, phòng tránh bệnh tật và kéo dài tuổi thọ trong sự an lạc.

    Kết thúc bài này, người viết xin mượn mấy câu thơ nhắn gởi của một ai đó trên "mạng" để tặng bạn đọc:

    “Khuôn vàng, thước ngọc người xưa

    Lưu truyền hậu thế vẫn chưa phai mờ

    Khuyên người chớ có thờ ơ

    Theo đó tập luyện đừng chờ đợi chi”

    Lịch sử võ thuật cổ truyền - các môn phái

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."
    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.

    Về danh xưng “Võ cổ truyền Việt Nam”, theo võ sư Võ Kiểu nguyên tổng thư ký liên đoàn Quyền thuật miền Trung trước 1975: “Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi “võ ta”, là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!” Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng “Võ Ta” bằng tên gọi “võ cổ truyền Việt Nam”có thể “vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa” trong môn võ đẹp này.

    15 16 28 46 958 Lịch sử Võ cổ truyền

    Lịch sử
    Tại Việt Nam, thời Pháp mới chiếm Việt Nam, các hệ phái võ thuật cổ truyền bị thực dân Pháp cấm lưu hành vì những người đứng đầu các phong trào khởi nghĩa chống Pháp đều là người giỏi võ Việt Nam. Khoảng năm 1925, võ cổ truyền Việt Nam được khôi phục song song với các môn võ ngoại quốc khác được đưa vào Việt Nam, như: Quyền Anh (Boxing, Boxe), Thiếu Lâm (Shaolin)…

    Trong giai đoạn này, nhiều võ sư huyền thoại đã để lại danh tiếng: toàn quốc Việt Nam, trước năm 1945, ai cũng nghe danh Tứ Đại Võ Sư là Bái Mùa Cát Quế, đào tạo vô số thanh niên yêu nước sẵn sàng bảo vệ quê hương mến yêu và phụng sự dân tộc, tạo truyền thống thượng võ lan rộng khắp năm châu. Sau năm 1945, cụ Quế có các cao đồ là Sư Tổ Nguyễn văn Quý và Trưởng Tràng là Võ Sư Đặng văn Hinh, kế tiếp là Võ Sư kiêm Giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Quang Lương, Chưởng Môn võ phái Việt Đạo Quán trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đến năm 1975 được bổ nhiệm làm Chưởng Môn Việt Đạo Quán Thế Giới; 3 võ sư còn lại trong 4 đại danh sư kể trên được mệnh danh là “Tam Nhựt” gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa vì có công lớn trong việc khôi phục truyền thống võ Việt Nam trong thời gian này. Mãi đến khi Pháp rời khỏi Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự phục hồi võ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam ( VABA ),và Tổng Hội Võ Sư Nghiên Cứu Và Phổ Biến Võ Học Việt Nam, gọi tắt là Tổng Hội Võ Học Việt Nam. Ba võ sư có công lớn trong giai đoạn này là: Trương Thanh Đăng, sư tổ của võ phái Bình Định Sa Long Cương, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai (được mệnh danh là “Tam Nguyệt”) tiếp nối việc khôi phục và phát triển võ Việt Nam.

    Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 đến năm 1963, Ngô Đình Diệm lại tiếp tục cấm các đoàn võ thuật phát triển (trong đó có võ Việt Nam), vì năm 1960, trong lực lượng tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm thất bại có đoàn võ sĩ Nhu đạo do võ sư Phạm Lợi chỉ huy. Năm 1964, võ thuật được tiếp tục hoạt động, trong đó có võ Việt Nam. Trong giai đoạn này, võ thuật Việt Nam đã lớn mạnh, sánh vai ngang hàng với võ thuật các nước trong khu vực, như: Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Campuchia… Nhiều võ sĩ Việt Nam đã chiến thắng vẻ vang trước nhà vô địch của các nước bạn trong trong khu vực. Bốn võ sư đã có công đào tạo nhiều võ sĩ ưu tú cho làng quyền thuật Việt Nam, nhất là đào tạo nhiều võ sĩ giỏi đại diện cho màu cờ sắc áo Việt Nam chiến thắng vẻ vang nhiều nhà vô địch của các nước bạn, chính là: Từ Thiện Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Bốn võ sư này đã được Tổng Nha Thanh Niên trao tặng Bằng Khen về các thành tích vẻ vang cho đất nước, và từ đó, giới võ thuật gọi bốn võ sư này là “Tứ Tú” (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp “Tam Nhựt” (ba mặt trời) và “Tam Nguyệt” (ba mặt trăng) trong việc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, do tình hình trật tự an ninh còn hỗn loạn, võ thuật Việt Nam tạm ngừng phát triển một thời gian. Năm 1979, nhân sự kiện quân đội Trung Quốc và quân đội Khmer đỏ tấn công Việt Nam, nhà nước Việt Nam đã cho khôi phục hoạt động võ thuật, trong đó có võ thuật cổ truyền Việt Nam, để tập hợp thanh niên rèn luyện tinh thần bất khuất sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau đó, các Liên đoàn võ thuật hình thành để quản lý phong trào võ thuật, trong đó có Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam hình thành năm 1991. Tuy nhiên, do nhiều lý do, từ đó cho đến năm 2007, võ thuật Việt Nam vẫn chưa được nhà nước Việt Nam quan tâm phát triển như những môn võ thuật có thi đấu quốc tế như: Taekwondo, Judo, Karatedo, Wushu, Pencak silat, Boxing, Vovinam…

    Đặc điểm
    Võ thuật cổ truyền Việt Nam thể hiện một số đặc điểm:

    Thường là võ trận, sử dụng trong trận mạc, chiến đấu chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên hoang dã, chống trả và săn bắt hổ, lợn rừng, bảo vệ nhà cửa, làng xóm, chống trộm cướp.
    Thích hợp với nhiều loại địa hình.
    Thực dụng, linh hoạt.
    Dĩ công vi thủ, dĩ nhu chế cương, dĩ đoản chế trường.
    Các bài quyền đều có lời thiệu bằng thơ, phú
    Muốn luyện thành thạo phải luyện với thiên nhiên nơi có khí trong lành, để tăng khí công trong người, khi đó ra đòn sẽ mạnh hơn.
    Một số hệ phái võ thuật cổ truyền Việt Nam
    Miền Bắc
    Hoàng quyền
    Nhất Nam (võ Hét)
    Võ Vật Liễu Đôi
    Thăng Long Võ Đạo
    Nam Hồng Sơn
    Thanh Phong Võ Đạo
    Miền Trung
    Tây Sơn Võ Đạo
    Bình Thái Đạo
    Áo Vải
    Miền Nam
    Bạch Hổ Võ Phái
    Tân Khánh Bà Trà
    Kim Kê
    Thanh Long Võ Đạo
    Tiên Long Quyền Đạo
    Bình Định Sa Long Cương
    Trúc Lâm Thái Hư
    Việt Đạo Quán
    Tây Sơn Bình Định
    Hóa Quyền Đạo [2]
    Hải ngoại
    Sơn Long Quyền Thuật
    Võ Thuật Văn Võ Đạo
    Phượng Long Võ Đạo
    Nam Hổ Quyền
    Hoa Long Võ Đạo
    Tinh Võ Nam Hải
    Võ Khí Thuật
    Thiếu Hổ
    Văn Long Võ Đường
    Minh Tâm Võ Đạo
    Trường Bạch Long
    Võ Kinh Vạn Nam Phái
    Thủy Pháp
    Cây Lau Võ Đường
    Minh Long Tây Sơn Võ Đạo [3]
    Việt Đạo Quán Thế Giới [4]
    Qwankido (Quán Khí Đạo)
    Việt Võ Đạo
    Đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu chú ý đến tác dụng của võ thuật cổ truyền trong việc rèn luyện sức khoẻ vì mục đích dưỡng sinh, trường thọ. Điều đó có nghĩa là đã đến lúc người ta hiểu ra rằng, võ thuật ra đời không chỉ để cho con người có công cụ đấu tranh chống lại thú dữ và kẻ thù bên ngoài mà còn để giúp họ chống lại kẻ thù bên trong cơ thể là bệnh tật.

    Tại Trung quốc, nguyên thuỷ môn Thái Cực Quyền là võ thuật chiến đấu, tương truyền có từ thời Trương Tam Phong (vào khoảng thế kỷ thứ 12) hoặc Vương Tông Nhạc (1733-1795), đã được lưu truyền bởi năm dòng họ (Trần, Dương, Vũ, Ngô, Tôn ). Riêng Thái Cực Quyền của dòng họ Dương, khởi nguồn từ Dương Lộ Thiền (1799-1872) và truyền đến Dương Thủ Trung (1010-1985) thì đến năm 1956 được Trung Hoa Quốc Gia Thể Uỷ của Trung Quốc giản hoá thành bài quyền hoàn toàn vì mục đích tập luyện dưỡng sinh, được gọi là "Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền ". Chẳng bao lâu sau, bài võ dưỡng sinh Thái Cực Quyền này ngày càng được đông đảo các võ sư và người chưa từng tập võ theo tập. Các bài võ dưỡng sinh tiếp theo như Thái Cực Kiếm, Thái Cực Đao, Thái Cực Thương, Đơn phiến, Song phiến... tiếp tục ra đời do được biên soạn từ các bài võ cổ truyền Trung Quốc, đã cùng với bài Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền được phổ biến ra nhiều nước trên thế giới.

    Năm 1983 được chọn là "Năm quốc tế người già" đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam có mục đích dùng Võ hỗ trợ cho Y để phòng chống bệnh tật, phục hồi sức khoẻ đồng thời dùng y học hiện đại và y học cổ truyền lý giải cơ sở khoa học của các động tác kỹ thuật và những hình thức vận động võ thuật nhằm đạt được yêu cầu dưỡng sinh. Người ta nói rằng, từ đây võ thuật công khai xác định đối thủ cần đánh bại là bệnh tật và phong trào tập luyện đẩy lùi bệnh tật được gọi là "Y Võ dưỡng sinh"

    Hiệu ứng rõ nhất của phong trào Y Võ dưỡng sinh nói trên là sự xuất hiện và lan rộng rất nhanh của phong trào tập bài võ dưỡng sinh cổ truyền có tên Thái Cực Trường Sinh, do ông Song Tùng khởi xướng vào năm 1986 ở miền Bắc .

    Theo tài liệu phổ biến của Trung tâm Trường Sinh Đạo (từ năm 1995 chuyển thành trung tâm trực thuộc UNESCO Việt Nam) thì ông Song Tùng lúc 33 tuổi, cơ thể ốm yếu do mang một số bệnh tật, đã được người cậu ruột là ông Hoàng Đình Thực (quê Nghệ Tĩnh) dạy bài võ gia truyền Thái Cực Trường Sinh để chữa bệnh. Tài liệu này khẳng định Thái Cực Trường Sinh là một bài võ cổ truyền có tính dân tộc: "Hơn nửa tháng ở quê nhà, cụ Thực ân cần chỉ dẫn cho học trò Song Tùng cách chạy chữa bằng phép luyện quyền thuật. Võ thuật là rèn luyện thể lực, ứng phó trong mọi tình huống. Luyện hình của bài này là quyền thuật, nhưng khác quyền thuật ở chỗ động tác của bài này chỉ là phương tiện để đạt được đạo. Ai có cơ duyên, đạo sẽ đến. Đạo ở đây là "võ đạo"".

    Theo ý kiến của cụ Song Tùng: "đây là bài Thái Cực Quyền kết hợp với luyện Thiền từ Trung Quốc và Yoga của Ấn Độ truyền bá sang Việt Nam, được cha ông chúng ta "Việt hóa"".

    Càng ngày người ta càng khẳng định tác dụng phòng ngừa và chữa bệnh của võ thuật, đặc biệt là võ cổ truyền, và bắt tay vào việc khai thác để ứng dụng trong tập dưỡng sinh. Ngày nay đất nước chúng ta có hằng triệu người, kể cả những người còn trẻ, mang nhiều bệnh mãn tính chạy chữa bằng thuốc đông, tây y nhiều năm không có kết quả. Hằng năm phải tốn cả triệu mỹ kim nhập thuốc an thần, trấn thống cũng chỉ giúp người bệnh tạm thời vượt qua cơn đau thể xác chớ không chữa khỏi bệnh tật.

    Những bệnh mãn tính ngày càng phát triển này thường là:

    - Loãng xương, thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm dẫn đến tê, bại tay, chân, đau nhức vai, gáy, đau nhức thần kinh toạ,

    - Mất ngủ dẫn đến suy nhược thần kinh, giảm khả năng làm việc,

    - Tăng huyết áp kéo dài dẫn đến tai biến mạch máu não, suy tim, hại thận, tiểu đường, nhồi máu cơ tim, đột quị.

    Nguồn gốc của các bệnh mãn tính trên đều có thể giải quyết triệt để bằng việc tập luyện quyền thuật võ cổ truyền theo những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc đó là:

    1. Thực hành chính xác kỹ thuật vận động đòn, thế, theo cơ cấu kiến thiết bài quyền để giải toả những bế tắc về mặt cơ học,

    2. Áp dụng phương pháp tập luyện hoà hoãn, cương nhu phối triển và lấy nhu làm chủ đạo, để điều chỉnh theo hướng tích cực hoạt động của hệ thần kinh.

    3. Tập trung cao độ ý chí vào việc ghi nhớ, dẫn dắt động tác nhằm tạo ra sự hưng phấn tinh thần để đưa hoạt động huyết mạch vào tình trạng ức chế có lợi cho hoạt động của bộ máy tuần hoàn, hạ thấp huyết áp, giải toả căng thẳng thần kinh, căng cứng cơ bắp (stress), khôi phục trí nhớ.

    4. Hít sâu, thở hết và luân chuyển khí có mục tiêu nhưng tự nhiên, thoải mái để bồi bổ dưỡng khí (oxy) cho máu, thải thoát thán khí (carbonic) ra khỏi máu, gia tăng sự vận động thuận lợi của hoạt động nội tạng và các tuyến nội tiết.

    Trong những bài quyền võ cổ truyền Việt Nam (trước đây gọi là "Võ Ta") có một số bài, đặc biệt có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa và chữa trị các bệnh mãn tính trên như:

    - Xà quyền (đối với các bệnh về cột sống, loãng xương),

    - Phụng Hoàng quyền (đối với các bệnh về thần kinh, rèn luyện phần tiền đình não, làm giảm nguy cơ mất thăng bằng, chóng mặt, ngã té ở người lớn tuổi),

    - Hổ quyền (đối với các bệnh về khớp, duy trì sự cường tráng của cơ thể)

    - Hầu quyền (đối với các bệnh lão hoá về ngũ giác quan và tăng phản ứng nhanh cho mọi lứa tuổi)

    Chính vì vậy, Võ thuật cổ truyền Việt Nam có vai trò rất lớn trong phép tập dưỡng sinh. Cần xây dựng môn Võ dưỡng sinh (L' Art marcial de conserver la sante') thuần tuý dân tộc, trên cơ sở khai thác các yếu tố vừa là Y thuật vừa là Võ học trong các bài quyền Võ cổ truyền Việt Nam, nhằm giúp cho người tập luyện có cuộc sống khoẻ mạnh, vui tươi, phòng tránh bệnh tật và kéo dài tuổi thọ trong sự an lạc.

    Kết thúc bài này, người viết xin mượn mấy câu thơ nhắn gởi của một ai đó trên "mạng" để tặng bạn đọc:

    “Khuôn vàng, thước ngọc người xưa

    Lưu truyền hậu thế vẫn chưa phai mờ

    Khuyên người chớ có thờ ơ

    Theo đó tập luyện đừng chờ đợi chi”

    Được thừa hưởng tinh hoa võ học khổng lồ từ hai dòng phái cộng thêm với quá trình tu học và trải nghiệm trong nhiều năm với nhiều danh sư, Bác sĩ – Võ sư Nguyễn Văn Thắng đã chấn hưng Thăng Long Võ Đạo lên một tầm cao mới, phát triển môn phái một cách có hệ thống và khoa học, đi từ võ thuật kungfu đến nội công đỉnh cao và khí công dưỡng sinh, trị liệu chân truyền.
    Nếu như võ thuật kungfu và nội công đỉnh cao chỉ dành riêng cho những người yêu thích và ham mê võ thuật cộng thêm với tố chất bẩm sinh, thì khí công dưỡng sinh và trị liệu chân truyền lại mang tính cộng đồng, dành cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi căn cơ nhằm nâng cao và phục hồi sức khoẻ.




    Lịch sử dân tộc Việt Nam để tồn tại và phát triển đã trải qua hang nghìn năm chiến đấu chống ngoại xâm. Trong khoảng thời gian đó, chiến tranh là thể hiện sự so tài bằng sức lực nghệ thuật chiến đấu với các loại vũ khí thô sơ và hiện đại thời bấy giờ… Thực hiện chiến lược và chiến thuật, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ngoài đường lối quân sự, mưu lược của các tướng lĩnh, sử dụng các công cụ để thực hiện sức mạnh của dân tộc ta chính là nghệ thuật chiến đấu của cá nhân và tập thể. Đó chính là thời kỳ hình thành Võ thuật.


    “Võ thuật dạy cho con người con đường tu luyện chân chính, sử dụng võ thuật vào việc có ích. Người học võ không đơn giản là chỉ học cách đấm đá mà còn tìm được trong đó một sức mạnh tinh thần, sự tự chủ.”

    Năm 1989, báo giới dã đồng loạt đưa tin với một cái tít giật mình : ‘‘Hiện tượng võ thuật mới’’ hay ‘‘Bất ngờ xuất hiện’’ …Nhân vật của các bài báo chứa đựng sự kinh ngạc ấy là võ sư Nguyễn Văn Thắng, hiện đang là chưởng môn của môn phái lừng danh : Thăng Long Võ Đạo. Được thừa hưởng một gia tài võ học khổng lồ từ người ông và cha mình, vị võ sư này đã bổ sung cho nghệ thuật võ học nhiều giai thoại.


    Võ bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống và chiến đấu bảo vệ sự sinh tồn, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này sang vùng khác; được sang lọc, tái tạo và phân chia nhiều chi nhánh, môn phái lan tỏa khắp năm châu. Bản sắc của một vùng, một chi, một môn phái, một dân tộc có đặc thù riêng của nó. Nếu đi tìm nguồn gốc của một dòng võ thì cũng chỉ đứt đoạn ở một khoảng thời gian nào đó vì ở đâu chả có người biết võ. Từ thời nguyên thủy, tổ tiên ta vì nhu cầu cuộc sống, đã biết ném đá, phóng lao, đánh gậy múa kiếm… để chống chọi với thú rừng và kẻ thù nhằm bảo vệ cuộc sống và bộ tộc của chính mình, đó chính là Võ. Qua nhiều đời, nhiều thời gian, võ thuật được sáng tạo cách tân theo sự tiến bộ của con người, theo yêu cầu, mục đích sử dụng, theo địa lý khác nhau. Võ thuật cổ truyền lưu truyền trong dân gian rồi hình thành môn phái. Tuy mỗi môn phái có khác nhau về gốc gác, nội dung, đòn thế nhưng tôn chỉ và mục tiêu của Võ thuật cổ truyền nói chung là có nhiều điểm tương đồng…


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Trong lịch sử Võ thuật dân tộc Hà Nội, Sơn Tây, Hà Bắc… là những vùng đất võ nổi tiếng đã nẩy sinh nhiều Anh hùng hào kiệt, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Cử nhân võ thuật,…Những lò võ là gốc của Võ thuật dân tộc đều thuộc vùng đất này. Qua một thời gian lịch sử đã xây dựng được một hệ thống các môn Võ thuật dân tộc đậm đà bản sắc. Lão Võ sư Văn Nhân đã được sinh ra ở vùng đất đó. Ông tên thật là Vũ Văn Nhàn – Nguyễn Văn Nhân, ông sinh vào những năm 20 của thế kỷ XX tại vùng Kinh Bắc lịch sử, một vùng đất giàu truyền thống võ thuật. Từ nhỏ vốn là một cậu bé có tư chất võ thuật ông là người được thừa hưởng một căn bản tinh hoa Võ thuật dân tộc của dòng họ. Trên cơ sở đó ông còn nghiên cứu tìm hiểu tinh hoa của các dòng võ khác trong và ngoài nước để bổ sung và hoàn thiện vốn Võ thuật dân tộc của mình.


    Sớm hiểu là người dân của một dân tộc bị đô hộ Lão võ sư đã tham gia cách mạng từ rất sớm. Tháng 8/1945 khi cả dân tộc bừng bừng trong cơn bão cách mạng, Lão võ sư vào bộ đội. Ông phụ trách Đại đội quân báo của Trung đoàn E41, Liên khu Ba. Suất những năm dài kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Lão võ sư đã tham gia huấn luyện võ thuật chiến đấu cho bộ đội ở chiến khu Việt Bắc. Những năm sau hòa bình ông tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của Bộ Quốc Phòng.



    Suất mấy chục năm tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của lực lượng vũ trang và đã từng tham gia công tác bảo vệ một số vị lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, Lão võ sư đã được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.


    Sau khi nước nhà thống nhất, theo yêu cầu chung và phong trào phát triển võ thuật nước nhà Lão võ sư đã tinh lọc và đúc kết được một phương pháp rèn luyện võ thuật thích hợp với tính cách và thể trạng của người Việt Nam. Phương pháp đó dựa trên vốn liếng căn bản là tinh hoa Võ thuật của dòng tộc cùng kinh nghiệm gần một đời người chiến đấu và huấn luyện võ thuật, Phương pháp võ đó chính là Võ phái Thăng Long Võ Đạo.


    Thăng Long Võ Đạo lấy nhu, hòa, nhân, trí làm gốc. Xuất phát từ đặc điểm của người Việt Nam tầm vóc nhỏ bé và cách sống nặng về tình, trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết trí cao, do đó khó có thể đương lực, ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra những thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng, mạnh, võ sinh không thể tập theo lối cương cường mà tập trung vào việc luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu. Cụ thể là tập nhiều về thân pháp để tránh né sao cho thật thuần thục, để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương để dứt điểm.


    Lão võ sư Văn Nhân cho rằng sở học của Võ thuật Thăng Long võ đạo là để đạt cái tính để chế cái nhiều, cái khéo để chế cái mạnh, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng, cái xuyên để chống cái bè… Tất cả đều phải đạt độ quyền biến vi côn kiếm, tới mức thần quyền.



    Phương châm của Thăng Long võ đạo là né tránh đánh nhanh điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp, di chuyển cực kỳ mau lẹ để luôn tránh được đòn của đối phương. Thăng Long võ đạo nghiên cứu kỹ hệ thống huyệt đạo trên cơ thể con người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ, muông thú để chữa trị bảo kiện cơ thể.


    Các bài bản của môn phái Thăng Long đã được Lão võ sư Văn Nhân hệ thống hóa có cơ sở khoa học, có tính đến các kiến thức y lý, lấy “Bát pháp, Lục hợp” làm Cơ bản công “Bát bộ thiên long” làm bộ pháp “Yêu tự xà hành” làm thân pháp, “Thăng Long quyền” làm thủ pháp, “Nhãn tự điện quang” làm nhãn pháp. Thuật cường thân để luyện nội lực.


    Ngoài quyền cước các môn sinh Thăng Long võ đạo được tập tinh thông, “Thập bát ban võ nghệ” và các loại binh khí đặc dị của môn phái . Bên cạnh những bài quyền chiến đấu trong chương trình huấn luyện của môn phái Thăng Long võ đạo còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và các phương pháp Khí công nhập định nhằm tu dưỡng nhân cách con người.


    Thăng Long võ đạo là một môn Võ thuật dân tộc do Lão võ sư Nguyễn Văn Nhân khởi xướng và suy tôn người Anh hung dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn làm Thánh tổ của môn phái và lấy ngày 20 tháng 8 (Âm lịch) làm ngày Giỗ Tổ.

    Với chương trình huấn luyện có hệ thống, có mục tiêu rõ rang Thăng Long võ đạo đã nhanh chóng phát triển rộng trên địa bàn cả nước cũng như nước ngoài.


    Hiện nay Võ sư – Bác sĩ Nguyễn Văn Thắng (Vũ Mạnh Thắng ) (con trai cố võ sư Nguyễn Văn Nhân) đang chấp chưởng môn phái (là chưởng môn đời thứ 5 theo dòng phái – đời thứ 2 theo môn phái Thăng Long võ đạo) tiếp tục kế tục tinh hoa truyền thống và đưa môn phái lên một tầm cao mới. Với những bí kíp võ học và khí công VS – BS Văn Thắng phát triển môn phái một cách toàn diện đi từ Võ thuật Kungfu đến Nội công đỉnh cao và Khí công trị liệu.


    Dưới sự lãnh đạo của VS – BS Văn Thắng cùng các VS. Công Thắng, VS. Vũ Hải, VS. Bùi Hoàng Lân, VS. Nguyễn Anh Tuấn, VS. Chử Đức Vân, VS. Minh Phương, VS. Quang Phát, VS. Nguyễn Ngọc Dương, VS. Phạm Đức… Thăng Long Võ Đạo đang đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển võ thuật của Thủ đô và Việt Nam, đưa tinh hoa võ cổ truyền Việt Nam ra toàn thế giới.

    Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam nguồn gốc cổ truyền và lịch sử phát triển

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Được thừa hưởng tinh hoa võ học khổng lồ từ hai dòng phái cộng thêm với quá trình tu học và trải nghiệm trong nhiều năm với nhiều danh sư, Bác sĩ – Võ sư Nguyễn Văn Thắng đã chấn hưng Thăng Long Võ Đạo lên một tầm cao mới, phát triển môn phái một cách có hệ thống và khoa học, đi từ võ thuật kungfu đến nội công đỉnh cao và khí công dưỡng sinh, trị liệu chân truyền.
    Nếu như võ thuật kungfu và nội công đỉnh cao chỉ dành riêng cho những người yêu thích và ham mê võ thuật cộng thêm với tố chất bẩm sinh, thì khí công dưỡng sinh và trị liệu chân truyền lại mang tính cộng đồng, dành cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi căn cơ nhằm nâng cao và phục hồi sức khoẻ.




    Lịch sử dân tộc Việt Nam để tồn tại và phát triển đã trải qua hang nghìn năm chiến đấu chống ngoại xâm. Trong khoảng thời gian đó, chiến tranh là thể hiện sự so tài bằng sức lực nghệ thuật chiến đấu với các loại vũ khí thô sơ và hiện đại thời bấy giờ… Thực hiện chiến lược và chiến thuật, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ngoài đường lối quân sự, mưu lược của các tướng lĩnh, sử dụng các công cụ để thực hiện sức mạnh của dân tộc ta chính là nghệ thuật chiến đấu của cá nhân và tập thể. Đó chính là thời kỳ hình thành Võ thuật.


    “Võ thuật dạy cho con người con đường tu luyện chân chính, sử dụng võ thuật vào việc có ích. Người học võ không đơn giản là chỉ học cách đấm đá mà còn tìm được trong đó một sức mạnh tinh thần, sự tự chủ.”

    Năm 1989, báo giới dã đồng loạt đưa tin với một cái tít giật mình : ‘‘Hiện tượng võ thuật mới’’ hay ‘‘Bất ngờ xuất hiện’’ …Nhân vật của các bài báo chứa đựng sự kinh ngạc ấy là võ sư Nguyễn Văn Thắng, hiện đang là chưởng môn của môn phái lừng danh : Thăng Long Võ Đạo. Được thừa hưởng một gia tài võ học khổng lồ từ người ông và cha mình, vị võ sư này đã bổ sung cho nghệ thuật võ học nhiều giai thoại.


    Võ bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống và chiến đấu bảo vệ sự sinh tồn, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này sang vùng khác; được sang lọc, tái tạo và phân chia nhiều chi nhánh, môn phái lan tỏa khắp năm châu. Bản sắc của một vùng, một chi, một môn phái, một dân tộc có đặc thù riêng của nó. Nếu đi tìm nguồn gốc của một dòng võ thì cũng chỉ đứt đoạn ở một khoảng thời gian nào đó vì ở đâu chả có người biết võ. Từ thời nguyên thủy, tổ tiên ta vì nhu cầu cuộc sống, đã biết ném đá, phóng lao, đánh gậy múa kiếm… để chống chọi với thú rừng và kẻ thù nhằm bảo vệ cuộc sống và bộ tộc của chính mình, đó chính là Võ. Qua nhiều đời, nhiều thời gian, võ thuật được sáng tạo cách tân theo sự tiến bộ của con người, theo yêu cầu, mục đích sử dụng, theo địa lý khác nhau. Võ thuật cổ truyền lưu truyền trong dân gian rồi hình thành môn phái. Tuy mỗi môn phái có khác nhau về gốc gác, nội dung, đòn thế nhưng tôn chỉ và mục tiêu của Võ thuật cổ truyền nói chung là có nhiều điểm tương đồng…


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Trong lịch sử Võ thuật dân tộc Hà Nội, Sơn Tây, Hà Bắc… là những vùng đất võ nổi tiếng đã nẩy sinh nhiều Anh hùng hào kiệt, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Cử nhân võ thuật,…Những lò võ là gốc của Võ thuật dân tộc đều thuộc vùng đất này. Qua một thời gian lịch sử đã xây dựng được một hệ thống các môn Võ thuật dân tộc đậm đà bản sắc. Lão Võ sư Văn Nhân đã được sinh ra ở vùng đất đó. Ông tên thật là Vũ Văn Nhàn – Nguyễn Văn Nhân, ông sinh vào những năm 20 của thế kỷ XX tại vùng Kinh Bắc lịch sử, một vùng đất giàu truyền thống võ thuật. Từ nhỏ vốn là một cậu bé có tư chất võ thuật ông là người được thừa hưởng một căn bản tinh hoa Võ thuật dân tộc của dòng họ. Trên cơ sở đó ông còn nghiên cứu tìm hiểu tinh hoa của các dòng võ khác trong và ngoài nước để bổ sung và hoàn thiện vốn Võ thuật dân tộc của mình.


    Sớm hiểu là người dân của một dân tộc bị đô hộ Lão võ sư đã tham gia cách mạng từ rất sớm. Tháng 8/1945 khi cả dân tộc bừng bừng trong cơn bão cách mạng, Lão võ sư vào bộ đội. Ông phụ trách Đại đội quân báo của Trung đoàn E41, Liên khu Ba. Suất những năm dài kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Lão võ sư đã tham gia huấn luyện võ thuật chiến đấu cho bộ đội ở chiến khu Việt Bắc. Những năm sau hòa bình ông tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của Bộ Quốc Phòng.



    Suất mấy chục năm tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của lực lượng vũ trang và đã từng tham gia công tác bảo vệ một số vị lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, Lão võ sư đã được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.


    Sau khi nước nhà thống nhất, theo yêu cầu chung và phong trào phát triển võ thuật nước nhà Lão võ sư đã tinh lọc và đúc kết được một phương pháp rèn luyện võ thuật thích hợp với tính cách và thể trạng của người Việt Nam. Phương pháp đó dựa trên vốn liếng căn bản là tinh hoa Võ thuật của dòng tộc cùng kinh nghiệm gần một đời người chiến đấu và huấn luyện võ thuật, Phương pháp võ đó chính là Võ phái Thăng Long Võ Đạo.


    Thăng Long Võ Đạo lấy nhu, hòa, nhân, trí làm gốc. Xuất phát từ đặc điểm của người Việt Nam tầm vóc nhỏ bé và cách sống nặng về tình, trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết trí cao, do đó khó có thể đương lực, ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra những thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng, mạnh, võ sinh không thể tập theo lối cương cường mà tập trung vào việc luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu. Cụ thể là tập nhiều về thân pháp để tránh né sao cho thật thuần thục, để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương để dứt điểm.


    Lão võ sư Văn Nhân cho rằng sở học của Võ thuật Thăng Long võ đạo là để đạt cái tính để chế cái nhiều, cái khéo để chế cái mạnh, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng, cái xuyên để chống cái bè… Tất cả đều phải đạt độ quyền biến vi côn kiếm, tới mức thần quyền.



    Phương châm của Thăng Long võ đạo là né tránh đánh nhanh điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp, di chuyển cực kỳ mau lẹ để luôn tránh được đòn của đối phương. Thăng Long võ đạo nghiên cứu kỹ hệ thống huyệt đạo trên cơ thể con người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ, muông thú để chữa trị bảo kiện cơ thể.


    Các bài bản của môn phái Thăng Long đã được Lão võ sư Văn Nhân hệ thống hóa có cơ sở khoa học, có tính đến các kiến thức y lý, lấy “Bát pháp, Lục hợp” làm Cơ bản công “Bát bộ thiên long” làm bộ pháp “Yêu tự xà hành” làm thân pháp, “Thăng Long quyền” làm thủ pháp, “Nhãn tự điện quang” làm nhãn pháp. Thuật cường thân để luyện nội lực.


    Ngoài quyền cước các môn sinh Thăng Long võ đạo được tập tinh thông, “Thập bát ban võ nghệ” và các loại binh khí đặc dị của môn phái . Bên cạnh những bài quyền chiến đấu trong chương trình huấn luyện của môn phái Thăng Long võ đạo còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và các phương pháp Khí công nhập định nhằm tu dưỡng nhân cách con người.


    Thăng Long võ đạo là một môn Võ thuật dân tộc do Lão võ sư Nguyễn Văn Nhân khởi xướng và suy tôn người Anh hung dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn làm Thánh tổ của môn phái và lấy ngày 20 tháng 8 (Âm lịch) làm ngày Giỗ Tổ.

    Với chương trình huấn luyện có hệ thống, có mục tiêu rõ rang Thăng Long võ đạo đã nhanh chóng phát triển rộng trên địa bàn cả nước cũng như nước ngoài.


    Hiện nay Võ sư – Bác sĩ Nguyễn Văn Thắng (Vũ Mạnh Thắng ) (con trai cố võ sư Nguyễn Văn Nhân) đang chấp chưởng môn phái (là chưởng môn đời thứ 5 theo dòng phái – đời thứ 2 theo môn phái Thăng Long võ đạo) tiếp tục kế tục tinh hoa truyền thống và đưa môn phái lên một tầm cao mới. Với những bí kíp võ học và khí công VS – BS Văn Thắng phát triển môn phái một cách toàn diện đi từ Võ thuật Kungfu đến Nội công đỉnh cao và Khí công trị liệu.


    Dưới sự lãnh đạo của VS – BS Văn Thắng cùng các VS. Công Thắng, VS. Vũ Hải, VS. Bùi Hoàng Lân, VS. Nguyễn Anh Tuấn, VS. Chử Đức Vân, VS. Minh Phương, VS. Quang Phát, VS. Nguyễn Ngọc Dương, VS. Phạm Đức… Thăng Long Võ Đạo đang đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển võ thuật của Thủ đô và Việt Nam, đưa tinh hoa võ cổ truyền Việt Nam ra toàn thế giới.

    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình...

    Tiếng gọi thiêng liêng mãi vọng xa
    Hùng Vương dấy nghiệp dựng sơn hà

    Trống đồng giục chí trai anh tuấn
    Chim Lạc khơi lòng gái vị tha

    Lịch sử
    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình…




    Tác giả giới thiệu
    Võ sư Ngô Xuân Bính xuất thân trong gia đình có truyền thống về võ, ông học võ ngay từ thân phụ và các võ sư nổi tiếng trong vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đã lĩnh hội được truyền thống võ thuật dân tộc lâu đời, muốn thống nhất, đồng nhất các kỹ thuật võ Việt ông đã tiếp thu được để cùng vun vén về cội nguồn, hy vọng quy tụ các kỹ thuật của bầu đoàn võ của vùng sông Lam, sông Mã thành một phái võ riêng cho Việt Nam. Ông là một học trò giỏi của làng võ Việt Nam, nên khi ông là chưởng môn phái đã đặt tên cho môn võ mới là phái võ Nhất Nam. Với ý nghĩa đây là một đứa con của làng võ Việt nam, một phần tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

    Theo những gì ông cho biết (tham khảo sách Nhất Nam căn bản tập 1 và 2), đây là một môn phái có quy mô và tổ chức cao, với một hệ thống các môn công khá đồ sộ, toàn diện được đúc kết, sáng tạo dựa trên những nguyên lý đơn giản mà hợp lý, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý và cơ chế vận động của cơ bắp con người để tạo dựng lên những phương pháp luyện tập, những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo, có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương… Ngày 19 tháng 5 năm 2009 Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch đã chính thức ra văn bản công nhận danh sách Ban Vận Động Thành Lập Liên Đoàn Võ Thuật Nhất Nam Việt Nam gồm 21 vị.

    Đặc điểm
    Võ Nhất Nam xuất phát trước hết từ đặc điểm của người Việt là tầm vóc nhỏ bé, mà trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết chí cao do đó khó có thể đương lực ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng mạnh, võ sinh ta không thể tập theo lối cương cường, mà tập trung vào luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu, cụ thể là tập nhiều về tránh né sao cho thật thuần thục để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương mà dứt điểm. Nói như các võ sư võ Héc là: “học đạt cái tinh để chế cái nhiều, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng…” (trích sách Nhất Nam căn bản tập 1, nhà xuất bản TDTT Hà nội năm 1988) tất cả đều phải đạt độ quyền biến, tới mức thần quyền.




    Phương châm của võ Nhất Nam là né tránh, đánh nhanh, điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm, có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp cực kỳ mau lẹ để luồn tránh được đòn của đối phương, còn về tấn pháp tập trung vào các thế tấn thật cơ động, biến ảo cao. Để đánh điểm huyệt đối phương và chữa chạy cho mình hữu hiệu nhất, võ Nhất Nam nghiên cứu kỹ hệ thống các huyệt trên cơ thể người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ và những con thú sẵn có ở địa phương.


    Các võ sinh Nhất Nam được tập tinh thông thập bát ban võ nghệ, tức là ngoài quyền cước, võ sinh còn biết sử dụng thành thạo 17 loại vũ khí nữa. Quyền của Nhất Nam có 32 bài cơ bản, lại thêm 42 bài bổ trợ. Xuất phát của quyền theo quan niệm: “Biến tạo của trời đất có tất cả, từ cao đến thấp, chim muông, hoa lá, vạn vật, côn trùng… theo chúng kiến tạo, thêm cái hay để bảo tồn một giống hay nhiều giống. Trên đến chí cương, dưới đến chí âm, khắc nhu khắc cương, đấy là đạo của quyền”. Điều đó có nghĩa là: Nhất Nam với mọi vật phỏng theo muôn vật, nghiền ngẫm để rút ra cái hay, cái đẹp, cái cứng, cái dẻo, cái biến hóa của muôn vật mà chế thành quyền. Bài quyền một chuỗi động tác, có thế công, thế thủ nhưng không chỉ là thế, là dũng mà phải là cái biến, cái khoáng đạt, tùy lúc. Nhất Nam bên cạnh những bài quyền chiến đấu, còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và những bài quyền nhập định nhằm tu dưỡng nhân cánh con người. Trong quyền, Nhất Nam tập đá nhiều, nhưng những đòn yểm trợ bằng tay vẫn được chủ yếu sử dụng và đạt hiệu quả cao, trong đó nổi bật lên 2 thế: tay xà và tay trảo. Tay xà là một thế mô phỏng động tác quăng, quật, luồn, cuộn của các loài trăn vốn rất phổ biến ở vùng Thanh-Nghệ, nó có độ nẩy, độ xiết, độ mở và độ uốn lượn rất linh hoạt. Tay trảo là thế đánh của tay chĩa ngang ngón cái như cựa gà chọi, còn các ngón kia khép lại chĩa thẳng thành mũi xỉa vào các huyệt của đối phương, thể hiện lối võ lấy yếu thắng mạnh, lấy nhẹ đánh nặng. Đặc biệt các bài Ma quyền, Ảo quyền, Hoa quyền đã kết tinh những kỳ bí của võ Nhất Nam.

    Về võ binh khí, Nhất Nam coi binh khí là phương tiện “nối” cho tay thêm dài, thêm sắc, thêm cứng, thêm dẻo và linh hoạt, nên đã từ thế thức trong các bài quyền mà sáng tạo ra những bài võ binh khí như Ma kiếm, Hoa kiếm, Vũ Chân kiếm… Nhất Nam ưa sử dụng loại gậy tre đặc hoặc gỗ cứng, nặng các cỡ khác nhau, các bài Lôi côn, Thiết côn, Vân Vũ côn gồm nhiều thế đánh khác nhau, kết hợp nhuần nhuyễn giữ công và thủ. Hiện nay, về vũ khí có 9 bài côn, 9 bài kiếm, 7 bài rìu, 3 bài chạc ba, 5 bài thương, 1 bài song nguyệt, 2 bài đoản thiên mộc, 3 bài câu liêm cán ngắn (đánh kèm với lá mộc), 1 bài đánh bằng dây lưng, đặc biệt có cả bài đánh bằng dải lụa được gọi là Nhung thuật.

    Binh khí của Nhất Nam cũng rất đặc sắc. Côn có tới 4 cỡ với độ dài bằng cánh tay, cao ngang mày, cao 1 đầu 1 gang tay và cao một đầu một với tay. Mộc bằng gỗ ken mây, bọc nhiều lớp da sống. Hai bên thân mộc còn lắp thêm 2 cái để khi đánh có thể xòe ra thành một lớn hoặc có thể gấp lại để che hai phía của thân mộc. Cây chạc ba như cây chạc ba đâm cá, có thể vừa đâm vừa ngoặc. Câu câu liêm là biến tướng của cây rựa đi rừng. Kiếm có sống và lưỡi, cong từ đoạn 2/3 ra mũi. Song nguyệt như cái liềm lưỡi sắt, hai đầu nhọn hoắt, một cặp nguyệt như bốn con dao vừa đâm vừa chém. Bài nhung thuật đánh bằng dải lụa dài 1-3 mét, đầu buộc vật nặng, cứng dùng để điểm, trói đối phương và quấn, giật vũ khí đối phương, có thể dấu kín nên dễ đánh bất ngờ.

    Võ Nhất Nam xưa có 12 đẳng ứng với 12 vạch, nhưng nay thất truyền chỉ còn 9 đẳng ở môn công thuộc đủ các bài quyền thuật, binh khí, ám khí, xoa bóp, châm cứu, dưỡng sinh. Trang phục của võ sinh Nhất Nam theo lối võ cổ truyền: đầu chít khăn, mình trần, đóng khố. Các tài liệu tham khảo được phổ biến rộng rãi của võ Nhất nam hiện nay là hai cuốn Nhất nam căn bản do đích thân võ sư Ngô Xuân Bính biên soạn và trình bày.

    Nguyên tắc
    Học lấy tinh, không cần nhiều
    Hiểu cần nhiều, nhưng luyên ít
    Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
    Giác đầu thành tay, thành chân
    Cần chí hơi lý ở đầu
    Phương pháp
    Dậy chí trước môn công
    Dậy ý trước tay chân
    Dậy chế công, lấy công làm gốc
    Dậy chế thủ, lấy thủ làm gốc
    Biết chế chống công, biết công được chế
    Yếu pháp
    Là những yếu quyết căn bản giúp người luyện tập nắm vững và có cơ sở lý luận trong việc học tập các đòn thế, chiêu thức, cách di chuyển, tấn công phản công, phòng thủ… Giống như người đi xa phải chuẩn bị tư trang, người luyện võ muốn đạt được công phu, đều phải hiểu và nắm được những yếu quyết căn môn cơ bản.

    Yếu pháp của môn phái võ Nhất Nam, dựa trên những nguyên lý đơn giản và hợp lý. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý, cơ chế vận động của cơ bắp cơ chế vận hành của khí huyết để đưa ra các phương thức rèn luyện. Những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo; có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương, cũng như khả năng huy động một cách hợp lý sức mạnh của bản thân và các bộ phận của cơ thể dùng khi công hoặc thủ. Nhằm giúp người tập nhanh chóng thu được những kết quả mong muốn như: bản lĩnh vững vàng, trí cảm sáng suốt, khả năng phản xạ nhạy bén, cử động của tay chân linh hoạt, chính xác.

    Các yếu pháp căn bản của phái Nhất Nam được chia ra làm 5 phần: Thân pháp, Thủ pháp, Công pháp, Hoá pháp, Giải pháp.

    Bộ tay
    Sự khéo léo, tính biến ứng và khả năng thực hiện những động tác phức tạp ở các góc độ khác nhau, là ưu điểm tiêu biểu của đôi tay con người. Dựa vào những nhận xét thông minh và đúng đắn đó, các võ sư nghiên cứu môn công và các phương pháp luyện tập đôi tay đêu cố gắng tận dụng khả năng lớn lao của nó.

    Môn phái Nhất Nam tách bộ tay ra 5 kiểu: Tay quyền, Tay trảo, Tay đao, Tay xà, Tay chỏ.

    Bộ chân
    Khả năng vươn dài, vươn cao, trượt thấp, nhảy xa, bật cao, di chuyển, thực hiện dễ dàng các động tác nhanh mạnh là ưu thế chủ yếu của đôi chân con người. Người tập võ, luyện thành những đòn thế căn bản của bộ chân sẽ có được công phu trụ tấn vững vàng, di chuyển linh hoạt, đòn đánh kín, lực đánh mạnh và những khả năng gạt, đỡ, ngoắc, khóa, du ép đối phương một các hợp lý, có hiệu quả.

    Môn phái Nhất Nam chia bộ chân ra làm 5 kiểu sau: Thiết cước, Lôi cước, Đao cước (cước đao ), Kim chỉ cước, Chuỳ lôi cước.

    Quyền
    Quyền là thuật vận động, hài hoà giữa sức mạnh, sức bật, sức bền, độ dẻo, tính nhịp điệu trong một tổng thể khăng khít, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên mà tính năng của nó có thể thu âm, thu dương, khắc cương, khắc nhu, là nếp nghĩ, là tinh thần, là phần hành động lộ hiện cho tư tưởng hành hiệp của người học võ. Kỹ thuật của Quyền rất đa dạng: khi ứng đấu các võ sĩ phải xử lý đồng bộ nhiều động tác của tay, chân, của đầu, của thân, của mông… khi chậm, khi nhanh, khi mạnh, khi nhẹ… khi đánh xa, khi đánh gần, khi đánh cao, khi đánh thấp, khi đánh đòn đơn, khi đánh đa đòn… khi đánh trực diện, khi đánh từ hai phía… khi chập chờn dồn dứ, khi ồ ạt liên hoàn… Mặt khác trong qúa trình luyện quyền, người học võ phải thường xuyên di chuyển bằng các thức; bước chuyển, nhảy, lăn, lộn, chạy… để phù hợp với tình huống tấn công hoặc phòng thủ.

    Võ cổ truyền – Nhất Nam Võ Phái

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình...

    Tiếng gọi thiêng liêng mãi vọng xa
    Hùng Vương dấy nghiệp dựng sơn hà

    Trống đồng giục chí trai anh tuấn
    Chim Lạc khơi lòng gái vị tha

    Lịch sử
    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình…




    Tác giả giới thiệu
    Võ sư Ngô Xuân Bính xuất thân trong gia đình có truyền thống về võ, ông học võ ngay từ thân phụ và các võ sư nổi tiếng trong vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đã lĩnh hội được truyền thống võ thuật dân tộc lâu đời, muốn thống nhất, đồng nhất các kỹ thuật võ Việt ông đã tiếp thu được để cùng vun vén về cội nguồn, hy vọng quy tụ các kỹ thuật của bầu đoàn võ của vùng sông Lam, sông Mã thành một phái võ riêng cho Việt Nam. Ông là một học trò giỏi của làng võ Việt Nam, nên khi ông là chưởng môn phái đã đặt tên cho môn võ mới là phái võ Nhất Nam. Với ý nghĩa đây là một đứa con của làng võ Việt nam, một phần tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

    Theo những gì ông cho biết (tham khảo sách Nhất Nam căn bản tập 1 và 2), đây là một môn phái có quy mô và tổ chức cao, với một hệ thống các môn công khá đồ sộ, toàn diện được đúc kết, sáng tạo dựa trên những nguyên lý đơn giản mà hợp lý, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý và cơ chế vận động của cơ bắp con người để tạo dựng lên những phương pháp luyện tập, những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo, có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương… Ngày 19 tháng 5 năm 2009 Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch đã chính thức ra văn bản công nhận danh sách Ban Vận Động Thành Lập Liên Đoàn Võ Thuật Nhất Nam Việt Nam gồm 21 vị.

    Đặc điểm
    Võ Nhất Nam xuất phát trước hết từ đặc điểm của người Việt là tầm vóc nhỏ bé, mà trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết chí cao do đó khó có thể đương lực ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng mạnh, võ sinh ta không thể tập theo lối cương cường, mà tập trung vào luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu, cụ thể là tập nhiều về tránh né sao cho thật thuần thục để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương mà dứt điểm. Nói như các võ sư võ Héc là: “học đạt cái tinh để chế cái nhiều, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng…” (trích sách Nhất Nam căn bản tập 1, nhà xuất bản TDTT Hà nội năm 1988) tất cả đều phải đạt độ quyền biến, tới mức thần quyền.




    Phương châm của võ Nhất Nam là né tránh, đánh nhanh, điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm, có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp cực kỳ mau lẹ để luồn tránh được đòn của đối phương, còn về tấn pháp tập trung vào các thế tấn thật cơ động, biến ảo cao. Để đánh điểm huyệt đối phương và chữa chạy cho mình hữu hiệu nhất, võ Nhất Nam nghiên cứu kỹ hệ thống các huyệt trên cơ thể người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ và những con thú sẵn có ở địa phương.


    Các võ sinh Nhất Nam được tập tinh thông thập bát ban võ nghệ, tức là ngoài quyền cước, võ sinh còn biết sử dụng thành thạo 17 loại vũ khí nữa. Quyền của Nhất Nam có 32 bài cơ bản, lại thêm 42 bài bổ trợ. Xuất phát của quyền theo quan niệm: “Biến tạo của trời đất có tất cả, từ cao đến thấp, chim muông, hoa lá, vạn vật, côn trùng… theo chúng kiến tạo, thêm cái hay để bảo tồn một giống hay nhiều giống. Trên đến chí cương, dưới đến chí âm, khắc nhu khắc cương, đấy là đạo của quyền”. Điều đó có nghĩa là: Nhất Nam với mọi vật phỏng theo muôn vật, nghiền ngẫm để rút ra cái hay, cái đẹp, cái cứng, cái dẻo, cái biến hóa của muôn vật mà chế thành quyền. Bài quyền một chuỗi động tác, có thế công, thế thủ nhưng không chỉ là thế, là dũng mà phải là cái biến, cái khoáng đạt, tùy lúc. Nhất Nam bên cạnh những bài quyền chiến đấu, còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và những bài quyền nhập định nhằm tu dưỡng nhân cánh con người. Trong quyền, Nhất Nam tập đá nhiều, nhưng những đòn yểm trợ bằng tay vẫn được chủ yếu sử dụng và đạt hiệu quả cao, trong đó nổi bật lên 2 thế: tay xà và tay trảo. Tay xà là một thế mô phỏng động tác quăng, quật, luồn, cuộn của các loài trăn vốn rất phổ biến ở vùng Thanh-Nghệ, nó có độ nẩy, độ xiết, độ mở và độ uốn lượn rất linh hoạt. Tay trảo là thế đánh của tay chĩa ngang ngón cái như cựa gà chọi, còn các ngón kia khép lại chĩa thẳng thành mũi xỉa vào các huyệt của đối phương, thể hiện lối võ lấy yếu thắng mạnh, lấy nhẹ đánh nặng. Đặc biệt các bài Ma quyền, Ảo quyền, Hoa quyền đã kết tinh những kỳ bí của võ Nhất Nam.

    Về võ binh khí, Nhất Nam coi binh khí là phương tiện “nối” cho tay thêm dài, thêm sắc, thêm cứng, thêm dẻo và linh hoạt, nên đã từ thế thức trong các bài quyền mà sáng tạo ra những bài võ binh khí như Ma kiếm, Hoa kiếm, Vũ Chân kiếm… Nhất Nam ưa sử dụng loại gậy tre đặc hoặc gỗ cứng, nặng các cỡ khác nhau, các bài Lôi côn, Thiết côn, Vân Vũ côn gồm nhiều thế đánh khác nhau, kết hợp nhuần nhuyễn giữ công và thủ. Hiện nay, về vũ khí có 9 bài côn, 9 bài kiếm, 7 bài rìu, 3 bài chạc ba, 5 bài thương, 1 bài song nguyệt, 2 bài đoản thiên mộc, 3 bài câu liêm cán ngắn (đánh kèm với lá mộc), 1 bài đánh bằng dây lưng, đặc biệt có cả bài đánh bằng dải lụa được gọi là Nhung thuật.

    Binh khí của Nhất Nam cũng rất đặc sắc. Côn có tới 4 cỡ với độ dài bằng cánh tay, cao ngang mày, cao 1 đầu 1 gang tay và cao một đầu một với tay. Mộc bằng gỗ ken mây, bọc nhiều lớp da sống. Hai bên thân mộc còn lắp thêm 2 cái để khi đánh có thể xòe ra thành một lớn hoặc có thể gấp lại để che hai phía của thân mộc. Cây chạc ba như cây chạc ba đâm cá, có thể vừa đâm vừa ngoặc. Câu câu liêm là biến tướng của cây rựa đi rừng. Kiếm có sống và lưỡi, cong từ đoạn 2/3 ra mũi. Song nguyệt như cái liềm lưỡi sắt, hai đầu nhọn hoắt, một cặp nguyệt như bốn con dao vừa đâm vừa chém. Bài nhung thuật đánh bằng dải lụa dài 1-3 mét, đầu buộc vật nặng, cứng dùng để điểm, trói đối phương và quấn, giật vũ khí đối phương, có thể dấu kín nên dễ đánh bất ngờ.

    Võ Nhất Nam xưa có 12 đẳng ứng với 12 vạch, nhưng nay thất truyền chỉ còn 9 đẳng ở môn công thuộc đủ các bài quyền thuật, binh khí, ám khí, xoa bóp, châm cứu, dưỡng sinh. Trang phục của võ sinh Nhất Nam theo lối võ cổ truyền: đầu chít khăn, mình trần, đóng khố. Các tài liệu tham khảo được phổ biến rộng rãi của võ Nhất nam hiện nay là hai cuốn Nhất nam căn bản do đích thân võ sư Ngô Xuân Bính biên soạn và trình bày.

    Nguyên tắc
    Học lấy tinh, không cần nhiều
    Hiểu cần nhiều, nhưng luyên ít
    Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
    Giác đầu thành tay, thành chân
    Cần chí hơi lý ở đầu
    Phương pháp
    Dậy chí trước môn công
    Dậy ý trước tay chân
    Dậy chế công, lấy công làm gốc
    Dậy chế thủ, lấy thủ làm gốc
    Biết chế chống công, biết công được chế
    Yếu pháp
    Là những yếu quyết căn bản giúp người luyện tập nắm vững và có cơ sở lý luận trong việc học tập các đòn thế, chiêu thức, cách di chuyển, tấn công phản công, phòng thủ… Giống như người đi xa phải chuẩn bị tư trang, người luyện võ muốn đạt được công phu, đều phải hiểu và nắm được những yếu quyết căn môn cơ bản.

    Yếu pháp của môn phái võ Nhất Nam, dựa trên những nguyên lý đơn giản và hợp lý. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý, cơ chế vận động của cơ bắp cơ chế vận hành của khí huyết để đưa ra các phương thức rèn luyện. Những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo; có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương, cũng như khả năng huy động một cách hợp lý sức mạnh của bản thân và các bộ phận của cơ thể dùng khi công hoặc thủ. Nhằm giúp người tập nhanh chóng thu được những kết quả mong muốn như: bản lĩnh vững vàng, trí cảm sáng suốt, khả năng phản xạ nhạy bén, cử động của tay chân linh hoạt, chính xác.

    Các yếu pháp căn bản của phái Nhất Nam được chia ra làm 5 phần: Thân pháp, Thủ pháp, Công pháp, Hoá pháp, Giải pháp.

    Bộ tay
    Sự khéo léo, tính biến ứng và khả năng thực hiện những động tác phức tạp ở các góc độ khác nhau, là ưu điểm tiêu biểu của đôi tay con người. Dựa vào những nhận xét thông minh và đúng đắn đó, các võ sư nghiên cứu môn công và các phương pháp luyện tập đôi tay đêu cố gắng tận dụng khả năng lớn lao của nó.

    Môn phái Nhất Nam tách bộ tay ra 5 kiểu: Tay quyền, Tay trảo, Tay đao, Tay xà, Tay chỏ.

    Bộ chân
    Khả năng vươn dài, vươn cao, trượt thấp, nhảy xa, bật cao, di chuyển, thực hiện dễ dàng các động tác nhanh mạnh là ưu thế chủ yếu của đôi chân con người. Người tập võ, luyện thành những đòn thế căn bản của bộ chân sẽ có được công phu trụ tấn vững vàng, di chuyển linh hoạt, đòn đánh kín, lực đánh mạnh và những khả năng gạt, đỡ, ngoắc, khóa, du ép đối phương một các hợp lý, có hiệu quả.

    Môn phái Nhất Nam chia bộ chân ra làm 5 kiểu sau: Thiết cước, Lôi cước, Đao cước (cước đao ), Kim chỉ cước, Chuỳ lôi cước.

    Quyền
    Quyền là thuật vận động, hài hoà giữa sức mạnh, sức bật, sức bền, độ dẻo, tính nhịp điệu trong một tổng thể khăng khít, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên mà tính năng của nó có thể thu âm, thu dương, khắc cương, khắc nhu, là nếp nghĩ, là tinh thần, là phần hành động lộ hiện cho tư tưởng hành hiệp của người học võ. Kỹ thuật của Quyền rất đa dạng: khi ứng đấu các võ sĩ phải xử lý đồng bộ nhiều động tác của tay, chân, của đầu, của thân, của mông… khi chậm, khi nhanh, khi mạnh, khi nhẹ… khi đánh xa, khi đánh gần, khi đánh cao, khi đánh thấp, khi đánh đòn đơn, khi đánh đa đòn… khi đánh trực diện, khi đánh từ hai phía… khi chập chờn dồn dứ, khi ồ ạt liên hoàn… Mặt khác trong qúa trình luyện quyền, người học võ phải thường xuyên di chuyển bằng các thức; bước chuyển, nhảy, lăn, lộn, chạy… để phù hợp với tình huống tấn công hoặc phòng thủ.

    Âm Dương có ảnh hưởng đến nhiều phương diện văn hóa truyền thống phương Đông, trong đó có võ cổ truyền.


    Võ cổ truyền là môn văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: “đằng sau võ học là triết học”. Âm dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất, phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.


    Đặc tính là tính chất đặc biệt. Tính chất đặc biệt ở đây thuộc lĩnh vực Võ thuật cổ truyền. Võ thuật cổ truyền Việt Nam có nhiều đặc tính, ngạn ngữ võ học có câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn”; có nghĩa là hai tay lấy Ngũ hành làm gốc, hai chân lấy Bát quái làm rễ.
    Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
    Bát quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.


    Theo Kinh Dịch thì Vô cực sinh Thái cực; Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh Bát quái; Bát quái sinh vô lượng, biến hoá không cùng.

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam là mạch chảy xuyên suốt 4.896 năm theo dòng lịch sử của dân tộc Việt Nam, là môn võ học văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: "Đằng sau võ học là triết học". Các bộ môn võ học Phương Đông đều dựa trên nền tảng của nguyên lý triết học: Âm Dương - Ngũ Hành. Học thuyết này có ảnh hưởng lớn đến nhiều phương diện của văn hóa truyền thống Phương Đông, trong đó Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng không ngoại trừ.

    Sách và tài liệu viết về Võ thuật cổ truyền Việt Nam hiện nay không nhiều, nhất là tài liệu bằng tiếng Anh phổ biến ra nước ngoài rất hạn chế, gần như chưa có tác phẩm nào, mà mới chỉ có một số bài tiểu luận của một vài Võ sư tâm huyết phổ biến qua các trang mạng trong khả năng khiêm tốn của mình. Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu rộng cho nền võ học cổ truyền Việt Nam. Ngay cả câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn” là nền tảng của Võ thuật cổ truyền Việt Nam, từ trước đến nay cũng có đề cập nhưng chưa nghe phân tích tận tường để ứng dụng đúng nghĩa.

    NGŨ HÀNH VI BẢN
    Học thuyết Ngũ hành lấy năm loại vật chất cơ bản theo các nhà hiền triết cổ đại quy nạp vũ trụ, vạn vật vào Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Giữa chúng còn có một quy luật tương sinh, tương khắc tuần hoàn không dứt. "Tương sinh" mang ý là cùng sinh ra nhau, giúp nhau lớn mạnh, tức là Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. "Tương khắc" là mang ý chế ước lẫn nhau, kìm hãm nhau, tức Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ.

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền Phương Đông thể hiện sự quan hệ với Ngũ Hành lớn nhất theo tư tưởng chỉ đạo là "Ngũ hành sinh khắc chế biến hóa", kết hợp với thế quyền, kết hợp với cơ thể con người, lấy "nội, ngoại Ngũ hành"của thân thể con người làm chủ.

    Quan hệ của Ngũ hành với Võ thuật cổ truyền lấy hình dạng, tính năng, phương vị của Ngũ hành làm cơ sở chuẩn, đem các thức quyền phối hợp thành tổ hợp, lấy Ngũ hành làm hệ thống, làm nguyên tố cơ bản cấu thành các loại quyền thức, chiêu, thức trong võ thuật. Ngũ hành lại phân bố năm phương vị: phương Nam: Hỏa, phương Bắc: Thủy, phương Đông: Mộc, phương Tây: Kim, trung ương là Thổ; cũng như năm phương vị của người: trước, sau, phải, trái, và ở giữa. Võ thuật cổ truyền cũng đem bộ tiến, thoái, tả, hữu, định ở trung tâm làm Ngũ hành.

    Các võ phái Võ thuật cổ truyền ứng dụng Ngũ hành vào các phần căn bản như:
    1. Bộ Thuỷ: Các đầu ngón tay (Thủ chỉ), ứng với màu đen (hắc, ô)
    2. Bộ Mộc: Cạnh bàn tay (Cương đao), ứng với màu xanh (thanh)
    3. Bộ Hoả: Cùi chỏ (Phượng dực), ứng với màu đỏ (hồng, xích, hoả)
    4. Bộ Thổ: Ức bàn tay (Hùng chưởng), ứng với màu vàng (hoàng, huỳnh)
    5. Bộ Kim: Nắm tay (Thôi sơn), ứng với màu trắng (bạch)

    BÁT QUÁI VI CĂN
    Võ thuật cổ truyền lấy đôi chân lập vị theo hình tượng tiêu biểu và di chuyển theo các hướng của Bát quái đồ. Vị trí của bộ tấn Võ Tây Sơn Bình Định trong đồ hình Bát quái (lấy Trung bình tấn làm trung tâm) như sau:

    1. Càn tam liên Tây Bắc Hùng long;
    2. Khảm trung mãn chính Bắc Thanh xà;
    3. Cấn phúc uyển Đông Bắc Hội phụng;
    4. Chấn ngưỡng vu chính Đông Kim kê;
    5. Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn;
    6. Ly trung hư chánh Nam Bạch hạc;
    7. Khôn lục đoạn Tây Nam Hồng hổ;
    8. Đoài thượng khuyết chính Tây Hắc hầu;
    9. Lưỡng nghi tâm Trung bình lập thế.
    Cung Càn: Long tấn, cung Khảm: Xà tấn, cung Cấn: Phụng tấn, cung Chấn: Kim kê tấn, cung Tốn: Nhạn tấn, cung Ly: Hạc tấn, cung Khôn: Hổ tấn, cung Đoài: Hầu tấn, Trung bình tấn lập thế ở giữa (hình minh họa 1).

    Theo phương vị các cung, bài Bát quái câu liêm thân pháp, môn phái Võ Đang (Nam Anh, Võ Đang chân truyền, NXB Đất Việt, 1973), di chuyển theo Bát quái đồ: Từ trung bình tấn (trung tâm chính vị) chân trái bước lên cung Cấn rồi kéo nhanh về cung Khôn; chân phải bước tới cung Càn đoạn kéo nhanh về cung Tốn; tiếp đến chân trái từ cung Khôn bước lên cung Chấn, chân phải từ cung Tốn xoay lưng đạp cung Khảm và chân trái từ cung Chấn bước ngang qua cung Đoài, xoay lưng lại chân phải lui về cung Ly... Trong di chuyển yêu cầu bàn chân tiếp sát và miết mạnh xuống mặt sàn (hình minh họa 2)

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền thường gọi “tấn” là “ngựa”. Mỗi môn phái có cách đứng tấn khác nhau, tuy không khác nhau xa lắm nhưng có đôi chỗ khác biệt. Tên gọi tấn cũng không đồng nhất. Tên gọi các bộ tấn của Ban chuyên môn Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam qua nghiên cứu tương đối gần so với các võ đường và môn phái trong nước hiện nay.
    Sự khác biệt là điều tất yếu, tuy nhiên không phải tất cả những điều cổ nhân nói là đúng. “Tận tín thư bất như vô thư” (Tin hoàn toàn vào sách nhược bằng không có sách còn hơn). Vì vậy, có nhiều bộ tấn khi xem lại không phù hợp với tên gọi. Bộ tấn dùng minh hoạ trong “Lưỡng túc Bát quái vi căn” là của môn Võ Tây Sơn ngày trước tại Bình Định, minh hoạ không hẳn là mô hình chuẩn cho tất cả các môn phái hoặc thống nhất như Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam đã làm. Ngay cả tài liệu “Căn bản công” đã in thành sách của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, khi có điều kiện cũng cần hội thảo chuyên môn, thẩm định lại tính kỹ thuật và khoa học thực tế một cách nghiêm túc.

    Trên cơ sở lý luận “Lưỡng túc Bát quái vi căn” dùng giải thích căn bản bước chân theo đồ hình Bát quái, không quan trọng tên gọi thế tấn. Người tập có thể linh hoạt thay đổi các thế tấn phù hợp với môn phái, võ đường của mình, không nhất thiết phải theo thế tấn minh hoạ, mà chỉ theo bước chân cơ bản trên nền hình Bát quái.

    Người xưa nói: “Mở đóng hư thực tức là quyền kinh”, “một mở một đóng quyền kinh hết vậy”, “một mở một đóng, có biến có thường, hư thực kiêm tới chợt ẩn chợt hiện”, “một động một tĩnh là hết chỗ ảo diệu của quyền thuật”. Cái gọi là động tĩnh, hư thực… đều căn cứ vào học thuyết âm dương trong kinh Dịch mà ra và chỉ là cách nói cụ thể hóa, hình tượng hóa trong quyền thuật mà thôi. Về sau những người diễn tập lại lấy đó tôn lên làm tiêu chuẩn, tự mình thể nghiệm cái triết lý này trong việc diễn luyện của bản thân.

    Bất kể loại quyền thuật nào cũng nhấn mạnh việc làm khỏe thân mình là ý nghĩa trọng yếu thứ nhất, đó là phải duy trì cho được sự cân bằng âm dương trong cơ thể. Vì vậy dù là quyền “ngoại gia” hay quyền “nội gia” đều nhấn mạnh “Khí trầm đan điền”, hoặc “trong luyện tinh – khí – thần, ngoài luyện tấn pháp, bộ pháp, thân pháp, thủ cước pháp” hay “trong luyện hơi thở, ngoài luyện gân cốt”. Như thế âm bằng dương thuận, tinh thần ổn định. Âm dương điều hòa, tinh thần khoẻ mạnh, thân thể tráng kiện, thì bệnh nào mà sinh?

    Học thuyết âm dương không phải chỉ có quan hệ mật thiết với lý luận quyền thuật và việc rèn luyện võ thuật mà trong kỹ thuật đối kháng của võ thuật cũng không có chỗ nào không ngầm mang triết lý âm dương. Trong chiến đấu, bất luận là phòng thủ hay tiến công, cũng không rời xa sự biến hóa của âm dương. Trong “Quyền Kinh” có nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không” (Luyện quyền chẳng luyện nghệ, có đến tuổi già cũng phí công). Quyền là đạo vận động, là phương thuốc khỏe thân; thuật là phép đoạt người, là sự ảo diệu để thắng người”. Tuy nhiên sự ảo diệu từ đâu tới, thuật từ đâu mà được? Chính là từ âm dương biến hóa với nhau. Con đường cầu tài năng võ thuật tất theo con đường của âm dương, chính là nguồn gốc nảy sinh của diệu quyết.

    Sở dĩ âm cực dương sinh, dương cực âm sinh là vì trong âm có dương tiềm phục, trong dương có âm tiềm phục chưa hiện rõ ra. Khi âm đến hồi cực thịnh thì mầm dương mới đủ sức hiện lên, nghĩa là trong thái âm có cái mầm thiếu dương hiện lên và bắt đầu tăng trưởng, cũng như trong thái dương có mầm thiếu âm hiện lên và bắt đầu tăng trưởng. Và bởi cái lẽ âm dương tiềm phục ấy mà trên đời chẳng bao giờ có hiện tượng cô dương hay cô âm.

    Võ cổ truyền thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, kết hợp cương nhu, hư thực, công thủ, phản biến, mạnh yếu, nội ngoại, thể chất tinh thần…Luyện tập võ cổ truyền không chỉ là phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh, vận động thể chất giản đơn mà còn là hiện tượng văn hóa thần kỳ rèn luyện tinh thần cùng ý chí. Từ tư thế phòng thủ (âm), khi bị tấn công, tức khắc những chiêu thức chống trả được tung ra (dương), trong quá trình đáp trả, bị phản công thì những chiêu thức né, tránh, hóa giải lại trở về phòng thủ (âm) đồng thời biến thế phản đòn tích cực (dương). Cứ như thế thủ công, phản biến liên hoàn như một vòng tròn xoay chuyển. Có thể hiểu nguyên tắc võ thuật là trong công có thủ, trong thủ có công như âm trong dương và dương trong âm vậy.


    Theo: Vs: Trương Văn Bảo

    Võ Cổ Truyền – Ý nghĩ biểu của biểu tượng Âm Dương

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Âm Dương có ảnh hưởng đến nhiều phương diện văn hóa truyền thống phương Đông, trong đó có võ cổ truyền.


    Võ cổ truyền là môn văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: “đằng sau võ học là triết học”. Âm dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất, phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.


    Đặc tính là tính chất đặc biệt. Tính chất đặc biệt ở đây thuộc lĩnh vực Võ thuật cổ truyền. Võ thuật cổ truyền Việt Nam có nhiều đặc tính, ngạn ngữ võ học có câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn”; có nghĩa là hai tay lấy Ngũ hành làm gốc, hai chân lấy Bát quái làm rễ.
    Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
    Bát quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.


    Theo Kinh Dịch thì Vô cực sinh Thái cực; Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh Bát quái; Bát quái sinh vô lượng, biến hoá không cùng.

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam là mạch chảy xuyên suốt 4.896 năm theo dòng lịch sử của dân tộc Việt Nam, là môn võ học văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: "Đằng sau võ học là triết học". Các bộ môn võ học Phương Đông đều dựa trên nền tảng của nguyên lý triết học: Âm Dương - Ngũ Hành. Học thuyết này có ảnh hưởng lớn đến nhiều phương diện của văn hóa truyền thống Phương Đông, trong đó Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng không ngoại trừ.

    Sách và tài liệu viết về Võ thuật cổ truyền Việt Nam hiện nay không nhiều, nhất là tài liệu bằng tiếng Anh phổ biến ra nước ngoài rất hạn chế, gần như chưa có tác phẩm nào, mà mới chỉ có một số bài tiểu luận của một vài Võ sư tâm huyết phổ biến qua các trang mạng trong khả năng khiêm tốn của mình. Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu rộng cho nền võ học cổ truyền Việt Nam. Ngay cả câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn” là nền tảng của Võ thuật cổ truyền Việt Nam, từ trước đến nay cũng có đề cập nhưng chưa nghe phân tích tận tường để ứng dụng đúng nghĩa.

    NGŨ HÀNH VI BẢN
    Học thuyết Ngũ hành lấy năm loại vật chất cơ bản theo các nhà hiền triết cổ đại quy nạp vũ trụ, vạn vật vào Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Giữa chúng còn có một quy luật tương sinh, tương khắc tuần hoàn không dứt. "Tương sinh" mang ý là cùng sinh ra nhau, giúp nhau lớn mạnh, tức là Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. "Tương khắc" là mang ý chế ước lẫn nhau, kìm hãm nhau, tức Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ.

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền Phương Đông thể hiện sự quan hệ với Ngũ Hành lớn nhất theo tư tưởng chỉ đạo là "Ngũ hành sinh khắc chế biến hóa", kết hợp với thế quyền, kết hợp với cơ thể con người, lấy "nội, ngoại Ngũ hành"của thân thể con người làm chủ.

    Quan hệ của Ngũ hành với Võ thuật cổ truyền lấy hình dạng, tính năng, phương vị của Ngũ hành làm cơ sở chuẩn, đem các thức quyền phối hợp thành tổ hợp, lấy Ngũ hành làm hệ thống, làm nguyên tố cơ bản cấu thành các loại quyền thức, chiêu, thức trong võ thuật. Ngũ hành lại phân bố năm phương vị: phương Nam: Hỏa, phương Bắc: Thủy, phương Đông: Mộc, phương Tây: Kim, trung ương là Thổ; cũng như năm phương vị của người: trước, sau, phải, trái, và ở giữa. Võ thuật cổ truyền cũng đem bộ tiến, thoái, tả, hữu, định ở trung tâm làm Ngũ hành.

    Các võ phái Võ thuật cổ truyền ứng dụng Ngũ hành vào các phần căn bản như:
    1. Bộ Thuỷ: Các đầu ngón tay (Thủ chỉ), ứng với màu đen (hắc, ô)
    2. Bộ Mộc: Cạnh bàn tay (Cương đao), ứng với màu xanh (thanh)
    3. Bộ Hoả: Cùi chỏ (Phượng dực), ứng với màu đỏ (hồng, xích, hoả)
    4. Bộ Thổ: Ức bàn tay (Hùng chưởng), ứng với màu vàng (hoàng, huỳnh)
    5. Bộ Kim: Nắm tay (Thôi sơn), ứng với màu trắng (bạch)

    BÁT QUÁI VI CĂN
    Võ thuật cổ truyền lấy đôi chân lập vị theo hình tượng tiêu biểu và di chuyển theo các hướng của Bát quái đồ. Vị trí của bộ tấn Võ Tây Sơn Bình Định trong đồ hình Bát quái (lấy Trung bình tấn làm trung tâm) như sau:

    1. Càn tam liên Tây Bắc Hùng long;
    2. Khảm trung mãn chính Bắc Thanh xà;
    3. Cấn phúc uyển Đông Bắc Hội phụng;
    4. Chấn ngưỡng vu chính Đông Kim kê;
    5. Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn;
    6. Ly trung hư chánh Nam Bạch hạc;
    7. Khôn lục đoạn Tây Nam Hồng hổ;
    8. Đoài thượng khuyết chính Tây Hắc hầu;
    9. Lưỡng nghi tâm Trung bình lập thế.
    Cung Càn: Long tấn, cung Khảm: Xà tấn, cung Cấn: Phụng tấn, cung Chấn: Kim kê tấn, cung Tốn: Nhạn tấn, cung Ly: Hạc tấn, cung Khôn: Hổ tấn, cung Đoài: Hầu tấn, Trung bình tấn lập thế ở giữa (hình minh họa 1).

    Theo phương vị các cung, bài Bát quái câu liêm thân pháp, môn phái Võ Đang (Nam Anh, Võ Đang chân truyền, NXB Đất Việt, 1973), di chuyển theo Bát quái đồ: Từ trung bình tấn (trung tâm chính vị) chân trái bước lên cung Cấn rồi kéo nhanh về cung Khôn; chân phải bước tới cung Càn đoạn kéo nhanh về cung Tốn; tiếp đến chân trái từ cung Khôn bước lên cung Chấn, chân phải từ cung Tốn xoay lưng đạp cung Khảm và chân trái từ cung Chấn bước ngang qua cung Đoài, xoay lưng lại chân phải lui về cung Ly... Trong di chuyển yêu cầu bàn chân tiếp sát và miết mạnh xuống mặt sàn (hình minh họa 2)

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền thường gọi “tấn” là “ngựa”. Mỗi môn phái có cách đứng tấn khác nhau, tuy không khác nhau xa lắm nhưng có đôi chỗ khác biệt. Tên gọi tấn cũng không đồng nhất. Tên gọi các bộ tấn của Ban chuyên môn Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam qua nghiên cứu tương đối gần so với các võ đường và môn phái trong nước hiện nay.
    Sự khác biệt là điều tất yếu, tuy nhiên không phải tất cả những điều cổ nhân nói là đúng. “Tận tín thư bất như vô thư” (Tin hoàn toàn vào sách nhược bằng không có sách còn hơn). Vì vậy, có nhiều bộ tấn khi xem lại không phù hợp với tên gọi. Bộ tấn dùng minh hoạ trong “Lưỡng túc Bát quái vi căn” là của môn Võ Tây Sơn ngày trước tại Bình Định, minh hoạ không hẳn là mô hình chuẩn cho tất cả các môn phái hoặc thống nhất như Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam đã làm. Ngay cả tài liệu “Căn bản công” đã in thành sách của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, khi có điều kiện cũng cần hội thảo chuyên môn, thẩm định lại tính kỹ thuật và khoa học thực tế một cách nghiêm túc.

    Trên cơ sở lý luận “Lưỡng túc Bát quái vi căn” dùng giải thích căn bản bước chân theo đồ hình Bát quái, không quan trọng tên gọi thế tấn. Người tập có thể linh hoạt thay đổi các thế tấn phù hợp với môn phái, võ đường của mình, không nhất thiết phải theo thế tấn minh hoạ, mà chỉ theo bước chân cơ bản trên nền hình Bát quái.

    Người xưa nói: “Mở đóng hư thực tức là quyền kinh”, “một mở một đóng quyền kinh hết vậy”, “một mở một đóng, có biến có thường, hư thực kiêm tới chợt ẩn chợt hiện”, “một động một tĩnh là hết chỗ ảo diệu của quyền thuật”. Cái gọi là động tĩnh, hư thực… đều căn cứ vào học thuyết âm dương trong kinh Dịch mà ra và chỉ là cách nói cụ thể hóa, hình tượng hóa trong quyền thuật mà thôi. Về sau những người diễn tập lại lấy đó tôn lên làm tiêu chuẩn, tự mình thể nghiệm cái triết lý này trong việc diễn luyện của bản thân.

    Bất kể loại quyền thuật nào cũng nhấn mạnh việc làm khỏe thân mình là ý nghĩa trọng yếu thứ nhất, đó là phải duy trì cho được sự cân bằng âm dương trong cơ thể. Vì vậy dù là quyền “ngoại gia” hay quyền “nội gia” đều nhấn mạnh “Khí trầm đan điền”, hoặc “trong luyện tinh – khí – thần, ngoài luyện tấn pháp, bộ pháp, thân pháp, thủ cước pháp” hay “trong luyện hơi thở, ngoài luyện gân cốt”. Như thế âm bằng dương thuận, tinh thần ổn định. Âm dương điều hòa, tinh thần khoẻ mạnh, thân thể tráng kiện, thì bệnh nào mà sinh?

    Học thuyết âm dương không phải chỉ có quan hệ mật thiết với lý luận quyền thuật và việc rèn luyện võ thuật mà trong kỹ thuật đối kháng của võ thuật cũng không có chỗ nào không ngầm mang triết lý âm dương. Trong chiến đấu, bất luận là phòng thủ hay tiến công, cũng không rời xa sự biến hóa của âm dương. Trong “Quyền Kinh” có nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không” (Luyện quyền chẳng luyện nghệ, có đến tuổi già cũng phí công). Quyền là đạo vận động, là phương thuốc khỏe thân; thuật là phép đoạt người, là sự ảo diệu để thắng người”. Tuy nhiên sự ảo diệu từ đâu tới, thuật từ đâu mà được? Chính là từ âm dương biến hóa với nhau. Con đường cầu tài năng võ thuật tất theo con đường của âm dương, chính là nguồn gốc nảy sinh của diệu quyết.

    Sở dĩ âm cực dương sinh, dương cực âm sinh là vì trong âm có dương tiềm phục, trong dương có âm tiềm phục chưa hiện rõ ra. Khi âm đến hồi cực thịnh thì mầm dương mới đủ sức hiện lên, nghĩa là trong thái âm có cái mầm thiếu dương hiện lên và bắt đầu tăng trưởng, cũng như trong thái dương có mầm thiếu âm hiện lên và bắt đầu tăng trưởng. Và bởi cái lẽ âm dương tiềm phục ấy mà trên đời chẳng bao giờ có hiện tượng cô dương hay cô âm.

    Võ cổ truyền thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, kết hợp cương nhu, hư thực, công thủ, phản biến, mạnh yếu, nội ngoại, thể chất tinh thần…Luyện tập võ cổ truyền không chỉ là phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh, vận động thể chất giản đơn mà còn là hiện tượng văn hóa thần kỳ rèn luyện tinh thần cùng ý chí. Từ tư thế phòng thủ (âm), khi bị tấn công, tức khắc những chiêu thức chống trả được tung ra (dương), trong quá trình đáp trả, bị phản công thì những chiêu thức né, tránh, hóa giải lại trở về phòng thủ (âm) đồng thời biến thế phản đòn tích cực (dương). Cứ như thế thủ công, phản biến liên hoàn như một vòng tròn xoay chuyển. Có thể hiểu nguyên tắc võ thuật là trong công có thủ, trong thủ có công như âm trong dương và dương trong âm vậy.


    Theo: Vs: Trương Văn Bảo

    võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."

    Võ thuật cổ truyền việt nam là một môn võ rất đa dạng và phong phú, không phân biệt nguồn gốc xuất xứ miễn là có quá trình phát triển lâu dài ở Việt Nam có cùng một lý tưởng nghiên cứu, bảo lưu truyền bá có sáng tạo và thống nhất ý chí trên cơ sở dạy và học theo triết lý lấy việc rèn luyện đạo đức, tác phong làm chuẩn mực, làm thước đo, từng bước đưa võ thuật đến nghệ thuật và hướng tới là 1 môn thể thao phổ cập vĩnh hằng, mang đậm đà bản sắc dân tộc có lòng vị tha, có ý chí quyết thắng, biết yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sẵn sàng tiếp thu cái mới, phù hợp với khoa học và tiến bộ của nhân loại.

    vocotruyen small Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam



    Từ ngày có Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam (1991), bộ môn võ thuật cổ truyền đã củng cố và soạn thảo qui chế hoạt động chuyên môn, xây dựng một hệ thống đai, đẳng, cấp, tuyển chọn được 10 bài võ thống nhất trong cả nước và đã ứng dụng có hiệu quả trong việc quản lý, ổn định và định hướng thống nhất giáo trình huấn luyện.


    Ban ngành chuyên môn biên soạn và bổ sung Luật thi đấu đối kháng, Luật thi quyền ngày càng hoàn chỉnh, đã thực sự là thước đo tương đối chính xác cho các cuộc thi đấu ở địa phương cũng như toàn quốc. Hàng năm Liên đoàn Võ Thuật cổ truyền Việt Nam đều tổ chức các kỳ Hội nghị chuyên môn để thống nhất các nội dung quan trọng, để bổ sung điều chỉnh các kế hoạch tổng kết thực tiễn, xây dựng định hướng vi mô và vĩ mô, cùng với việc tổ chức các lớp trọng tài + giám khảo, các lớp sơ cấp cứu, trặc đả bấm huyệt đảm bảo hệ thống thi đấu 2 giải trong 1 năm (giải trẻ + giải vô địch) có hiệu quả cao và an toàn.


    Các cấp của LĐVTCT/VN đã thực hiện giáo trình huấn luyện theo qui chế chuyên môn của Liên đoàn, tổ chức các kỳ thi thăng cấp đai theo đúng hệ thống, đào tạo được những HLV, võ sư có năng lực, có đạo đức, phục vụ cho việc phát triển võ học cổ truyền Việt Nam.



    Liên đoàn LĐVTCT/VN đã cử HLV tham gia giảng dạy võ cổ truyền ở nước ngoài, cử các vận động viên tham dự Đại hội Thể thao các dân tộc Quốc tế và Thế giới.



    Đặc biệt trong năm 2002, bộ môn võ thuật cổ ttruyền được thi đấu chính thức ở các Đại hội TDTT toàn quốc, điều này đã khẳng định được sự phát triển vững chắc của bộ môn, và được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp.



    Tại TP.Hồ Chí Minh hiện có hơn 50 võ phái, 150 võ sư, chuẩn võ sư, 300 HLV các cấp, 50 trọng tài + giám khảo. Khoảng 15.000 môn sinh, đang tập luyện thường xuyên tại trên 100 điểm tập và CLB trong toàn thành phố. Ngoài những hoạt động của các Chi hội địa phương, Hội VTCT Thành phố đã tuyển chọn 12 bài võ đưa vào chương trình huấn luyện thống nhất và tổ chức các hoạt động thường xuyên.



    HỘI VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TP. HỒ CHÍ MINH

    Võ thuật cổ truyền: Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."

    Võ thuật cổ truyền việt nam là một môn võ rất đa dạng và phong phú, không phân biệt nguồn gốc xuất xứ miễn là có quá trình phát triển lâu dài ở Việt Nam có cùng một lý tưởng nghiên cứu, bảo lưu truyền bá có sáng tạo và thống nhất ý chí trên cơ sở dạy và học theo triết lý lấy việc rèn luyện đạo đức, tác phong làm chuẩn mực, làm thước đo, từng bước đưa võ thuật đến nghệ thuật và hướng tới là 1 môn thể thao phổ cập vĩnh hằng, mang đậm đà bản sắc dân tộc có lòng vị tha, có ý chí quyết thắng, biết yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sẵn sàng tiếp thu cái mới, phù hợp với khoa học và tiến bộ của nhân loại.

    vocotruyen small Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam



    Từ ngày có Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam (1991), bộ môn võ thuật cổ truyền đã củng cố và soạn thảo qui chế hoạt động chuyên môn, xây dựng một hệ thống đai, đẳng, cấp, tuyển chọn được 10 bài võ thống nhất trong cả nước và đã ứng dụng có hiệu quả trong việc quản lý, ổn định và định hướng thống nhất giáo trình huấn luyện.


    Ban ngành chuyên môn biên soạn và bổ sung Luật thi đấu đối kháng, Luật thi quyền ngày càng hoàn chỉnh, đã thực sự là thước đo tương đối chính xác cho các cuộc thi đấu ở địa phương cũng như toàn quốc. Hàng năm Liên đoàn Võ Thuật cổ truyền Việt Nam đều tổ chức các kỳ Hội nghị chuyên môn để thống nhất các nội dung quan trọng, để bổ sung điều chỉnh các kế hoạch tổng kết thực tiễn, xây dựng định hướng vi mô và vĩ mô, cùng với việc tổ chức các lớp trọng tài + giám khảo, các lớp sơ cấp cứu, trặc đả bấm huyệt đảm bảo hệ thống thi đấu 2 giải trong 1 năm (giải trẻ + giải vô địch) có hiệu quả cao và an toàn.


    Các cấp của LĐVTCT/VN đã thực hiện giáo trình huấn luyện theo qui chế chuyên môn của Liên đoàn, tổ chức các kỳ thi thăng cấp đai theo đúng hệ thống, đào tạo được những HLV, võ sư có năng lực, có đạo đức, phục vụ cho việc phát triển võ học cổ truyền Việt Nam.



    Liên đoàn LĐVTCT/VN đã cử HLV tham gia giảng dạy võ cổ truyền ở nước ngoài, cử các vận động viên tham dự Đại hội Thể thao các dân tộc Quốc tế và Thế giới.



    Đặc biệt trong năm 2002, bộ môn võ thuật cổ ttruyền được thi đấu chính thức ở các Đại hội TDTT toàn quốc, điều này đã khẳng định được sự phát triển vững chắc của bộ môn, và được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp.



    Tại TP.Hồ Chí Minh hiện có hơn 50 võ phái, 150 võ sư, chuẩn võ sư, 300 HLV các cấp, 50 trọng tài + giám khảo. Khoảng 15.000 môn sinh, đang tập luyện thường xuyên tại trên 100 điểm tập và CLB trong toàn thành phố. Ngoài những hoạt động của các Chi hội địa phương, Hội VTCT Thành phố đã tuyển chọn 12 bài võ đưa vào chương trình huấn luyện thống nhất và tổ chức các hoạt động thường xuyên.



    HỘI VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TP. HỒ CHÍ MINH

    Ai về Bình Ðịnh quê tôi,
    Trước xem hát bội, nhì coi đi quyền.
    Cứ mỗi lần nói đến miền đất võ thì những câu ca dao trên chợt đến trong trí và một niềm xúc cảm dâng tràn...
    Bình Ðịnh là đâu mà phụ nữ cũng có thể đi quyền và đánh roi? Mời người Bình Ðịnh và nhất là người chưa biết Bình Ðịnh cùng về thăm một tỉnh miền trung với những áng văn thơ trác tuyệt và một vùng võ thuật kiêu hùng.

    Bình Ðịnh là một tỉnh ngày xưa tương đối trù phú, có diện tích chừng chín ngàn cây số vuông, thuộc miền trung Việt Nam, nằm dọc theo quốc lộ số 1; bắc giáp Quảng Ngãi, nam giáp Phú Yên, Phú Bổn, phía tây là vùng cao nguyên Kontum, Pleiku và mặt đông nhìn ra biển Nam Hải thuộc Thái Bình Dương.
    Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến miền Trung với nhiều rặng núi nhỏ đâm ngang ra biển. Trong đó Bình Ðịnh là một vùng núi non trùng điệp, địa thế hiểm trở, những rặng núi con của Trường Sơn thoai thoải về phía đông tạo địa thế Bình Ðịnh như một chiếc ngai vàng, tựa lưng vào núi, xoay mặt ra đầm Thị Nại. Theo truyền thuyết và phong thủy đây là vùng địa linh nhân kiệt. Thực hư chưa rõ đúng hay sai, nhưng sự thật vùng đất này đã sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt như Võ văn Dũng, Trần quang Diệu, Bùi thị Xuân, Mai xuân Thưởng, Tăng bạt Hổ... và nhất là Tây Sơn Tam Kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, trong đó Hồ Thơm - Nguyễn Huệ tức Quang Trung Hoàng Ðế, một đại anh hùng dân tộc, người đã chỉ huy toàn quân dân Việt đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh, đập tan mộng xâm lăng của đại cường quốc Mãn Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789.
    Nguyên đất Bình Ðịnh xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Năm 137 một thổ dân là Khu Liên chiếm đất này và tự xưng là Lâm Ấp Vương.
    Năm 982, vua Chiêm là Xá Lợi Ðà bị vua Lê Ðại Hành đánh bại ở Quảng Nam, chạy vào tiến chiếm đất này lập kinh đô Ðồ Bàn. Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh bại quân Chiêm, chiếm thành Ðồ Bàn đổi thành phủ Hoài Nhơn. Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn đổi Hoài Nhơn thành Qui Nhơn (1605). Ðến chúa Nguyễn Phúc Tấn đổi thành Qui Ninh (1651), nhưng sang chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên Qui Nhơn (1741).
    Năm 1771, ba vị anh hùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi nghĩa đánh chúa Nguyễn, năm năm sau (1776) Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Qui Nhơn làm kinh đô, sửa sang thành Ðồ Bàn làm Hoàng Ðế thành.
    Sau khi vua Quang Trung băng hà, lực lượng nhà Tây Sơn càng ngày càng yếu, trong khi đó, Nguyễn Ánh lại được người Pháp giúp đỡ. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm phủ Qui Nhơn và đổi tên thành phủ Bình Ðịnh. Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long, chỉnh đốn việc cai trị, đổi phủ Bình Ðịnh thành trấn Bình Ðịnh (1810).
    Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhà vua theo lối tổ chức của Thanh triều bên Trung Hoa, đổi trấn thành tỉnh, Bình Ðịnh trấn thành Bình Ðịnh tỉnh từ đấy (Xem bản đồ tỉnh Bình Ðịnh).
    Chúng ta hãy lắng nghe người học trò đa tình Bình Ðịnh ra Huế thi và rủ rê cô gái đất thần kinh:
    Mải vui Hương thủy Ngự Bình
    Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô.
    Chẳng lịch bằng kinh đô
    Bình Ðịnh không đồng khô cỏ cháy
    Năm dòng sông chảy,
    Sáu dãy non cao
    Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh.
    Những câu thơ của người học trò tự thuở xa xưa đã mô tả một vùng đất Bình Ðịnh hữu tình với những dòng sông, những dãy núi cao, tháp Chàm cổ, khiến chúng ta liên tưởng đến Hầm Hô, Ðồ Bàn, đầm Thị Nại. . . Ðầm này rất rộng do bán đảo Phương Mai bao bọc bên ngoài với hai cửa Cát Thử và Qui Nhơn. Từ xưa, thế kỷ 17 đã là cửa ngõ giao thương với các tỉnh trong nước cũng như nước ngoài và còn là một vị trí chiến lược, chiến thuật hiểm yếu. Bình Ðịnh là một tỉnh có đầy đủ nông lâm thủy sản . Ðặc sản có yến sào Qui Nhơn, trầm hương Bình Khê, nón ngựa Gò Găng, bột đậu xanh, bún Song thằng An Thái, nước mắm Gò Bồi, xoài tượng Phù Cát cùng nước dừa Bồng Sơn, Tam Quan ngọt ngào, tươi mát.
    Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
    Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
    Muốn ăn quít, ăn hồng,
    Theo cha mày mà về ngoài đó, (Thanh Nghệ)
    Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
    Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
    Thì theo tao, ở mãi trong này. (là Bình Ðịnh)
    Võ cổ truyền – Lịch sử Võ thuật Bình Định
    Đặc điểm
    1. Đặc điểm đầu tiên lớn nhất của võ thuật Bình Định là sự đa dạng. Đa dạng về những dòng võ ngay trên đất Bình Định và đa dạng về sự khác biệt trong kỹ thuật giữa các hệ phái mang tên Bình Định hoặc Tây Sơn trên toàn quốc.
    Tuy nhiên, sự đa dạng đó lại đặt trên cơ sở một số đặc điểm chung hầu hết các dòng võ ở Bình Định đều có. Chẳng hạn như một số bài bản được mặc nhiên coi là võ Bình Định như Ngọc trản ngân đài, Siêu Bát Quái, Roi Tấn Nhứt, Roi Ngũ Môn. Mặc dù đây chính là các bài bản của Võ Ta hay còn gọi là Võ Kinh, một môn võ của Đàng Trong và từng được dùng cho huấn luyện trong quân đội và thi võ cử trong thời nhà Nguyễn.
    Các câu vè có liên quan đến yếu quyết của võ thuật được lưu truyền ở Bình Định cũng là những câu vè của Võ Ta. Ví dụ: “Roi tiên quyền tiếp” (Xem Đấu Roi), “Song thủ ngũ hành vi bản. Lưỡng túc bát bộ vi căn”… Một câu vè khác nói lên sự thống nhất và liên đới giữa hai môn (Võ Kinh và võ thuật Bình Định) là “Roi Kinh quyền Bình Định”. Những kỹ thuật này không chỉ có riêng ở Võ Kinh và võ thuật Bình Định. Nó còn tồn tại ở các dòng võ ở các miền khác, chẳng hạn võ Tân Khánh Bà Trà ở Bình Dương – Đông Nam Bộ.
    Ngoài những kỹ thuật được coi là võ Ta nói trên, mỗi dòng võ đều chứa những đặc điểm riêng của mình. Đặc biệt nhất là những kỹ thuật thừa hưởng của nhà Tây Sơn. Ví dụ: Bài Hùng Kê quyền vốn được coi là của Nguyễn Lữ, bài quyền Yến Phi (thảo pháp Én bay) vốn được coi là của Nguyễn Huệ, các kỹ thuật về trống trận Tây Sơn… Mặc dù những kỹ thuật này không phổ biến bằng các kỹ thuật của Võ Ta, nhưng đây là điểm đặc sắc của riêng vùng đất Bình Định mà các vùng khác không hề có.
    Đặc biệt, trong thời gian gần đây có sự xuất hiện ra công chúng dòng võ chùa Long Phước. Theo trang web Võ Cổ Truyền, nhà sư Vạn Thanh (tên thật là Nguyễn Đông Hải) vốn là truyền nhân đời thứ 13 của môn phái Long Hổ Không hồng. Cũng theo trang web nói trên, kỹ thuật của môn võ này bao gồm trong “Phổ Đại Nam triều chi tướng thao” do tướng Tây Sơn Nguyễn Trung Như (Hư Linh Ẩn) truyền lại. Tập sách này gồm 2 bộ:
    “Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp” do Hư Minh, tổ của môn phái Long Hổ Không hồng ghi lại các bài bản từ thời nhà Lê trở về trước.
    “Tây Sơn danh tướng mộ hùng thao” do Nguyễn Trung Như ghi lại các bài bản võ thuật của thời Tây Sơn.
    Mức độ trung thực về mặt lịch sử của các tài liệu này rất cần được sự quan tâm nghiên cứu công phu của các nhà sử học.

    Vì có sự tương đồng về mặt văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, có một số dòng võ hoặc hệ phái tuyên bố có nguồn gốc từ Trung Quốc cũng lấy danh xưng võ Bình Định. Chẳng hạn như trường hợp của phái võ Bình Định gia tại Hà Nội, dòng Bình Định An Thái của võ sư Diệp Trường Phát. Việc công nhận hay công nhận danh xưng “Võ Bình Định” của các hệ phái này một thời từng là một đề tài tranh luận khá sôi nổi trong giới võ.
    Ngoài ra, ở vùng đất này cũng đã và đang có sự phổ biến của nhiều môn võ hiện đại trong và ngoài nước khác nhau. Đất Bình Định cũng đã từng rất nổi tiếng trong “làng đấm” (quyền Anh). Tuy nhiên, vì có sự rạch ròi trong ngôn ngữ sử dụng lẫn trong sự phân chia môn phái võ thuật hoặc bộ môn thể thao thi đấu nên chưa bao giờ các môn võ này được gọi với danh xưng “Võ Bình Định“.
    2. Về khía cạnh võ thuật, võ cổ truyền Bình Định thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu, giữa bên trong (tinh, khí, thần) với bên ngoài cơ thể (thủ, nhãn, chỉ và thân). Về võ lý, võ cổ truyền Bình Định vận dụng triệt để học thuyết âm – dương, lấy phép ngũ hành và phép bát quái làm nguyên lý cơ bản của “Song thủ ngũ hành vi bản”, “Lưỡng túc bát bộ vi căn” là cơ sở võ lý cho luyện tập bộ tay và bộ chân trong võ cổ truyền Bình Định: Tấn pháp trong bát quái và Thủ pháp trong Ngũ hành, có sự phối hợp cả hai phương diện ngoại công và nội công.
    3. Về khía cạnh đạo đức, ngoài những đức tính mà con người đề cao trong rèn luyện đạo đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đạo đức của người luyện õ còn thể hiện ở các mặt truyền thống: thượng võ, chống ngoại xâm; uống nước nhớ nguồn; trọng nhân nghĩa…
    4. Về nội dung, võ cổ truyền Bình Định vô cùng phong phú, đa dạng nhưng tựu trung có 4 nội dung cơ bản là: luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần. Quyền còn gọi là thảo bộ hay quyền tay không, bao gồm Cương quyền và Nhu quyền. Võ tay không chia thành 4 nhóm: Võ thể dục, võ tự vệ, võ tỷ thí và võ chiến đấu. Binh khí được dùng trong võ cổ truyền Bình Định bao gồm binh khí dài và binh khí ngắn. Loại binh khí rất cơ bản được lưu hành khá phổ biến ở Bình Định là côn (tiếng địa phương gọi là roi) (Xem Đấu Roi)với nhiều “phách roi” độc đáo chỉ có ở võ cổ truyền Bình Định: “Đâm so đũa”, “Đá văn roi”, “Phá vây”, “Roi đánh nghịch”… Nói về tận dụng vũ khí thô sơ chống giặc, Bình Định có “Bài kiếm 12″ nổi tiếng gồm 12 động tác được rút tỉa trong nhiều bài kiếm tiêu biểu của Bình Định để hình thành một cách ngắn gọn, dễ tập, dễ nhớ, được đưa vào luyện tập và thực hành chiến đấu đạt hiệu quả cao trong các lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở địa phương.
    Trong các bộ môn về quyền thuật, “Ngọc Trản” là bài quyền tiêu biểu của võ cổ truyền Bình Định, trải qua thời gian, nó vẫn sáng chói như một “chén ngọc” với những bí quyết võ công vô giá. Để thực hành được một cách nhuần nhuyễn, phải tính đến công sức luyện tập cả về thể chất và ý thức nhằm tạo được sự thống nhất thành một ý niệm duy nhất, như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó chính là bí quyết khổ luyện của lối quyền âm – dương trong Ngọc Trản công.
    Nguồn gốc

    Như đã trình bày, kỹ thuật phổ biến nhất trong võ thuật Bình Định là võ Ta, tức võ thuật của triều Nguyễn phổ biến ở Đàng Trong [cần dẫn nguồn]. Còn võ Ta thực sự được truyền vào và phổ biến ở vùng này từ thời nào lại là điều rất cần được nghiên cứu về mặt lịch sử.

    Sự ảnh hưởng của võ học thời Tây Sơn chỉ gói gọn trong một vài dòng võ và trong một vài bài bản riêng biệt không phổ biến, không nên xem võ thuật của Tây Sơn là nguồn gốc của tất cả các dòng phái võ thuật Bình Định.

    Mặc dù rất nhiều người học võ thuật Bình Định từng thọ giáo các danh sư có gốc từ Trung Quốc như Khách Bút, hoặc Tàu Sáu (Diệp Trường Phát). Tuy nhiên, những bài bản võ thuật phổ biến ở Bình Định không hề có trong các bài bản của võ thuật Trung Quốc kể cả danh từ lẫn kỹ thuật. Vì vậy, việc phát biểu của một số võ sư học võ Trung Quốc như “Võ Bình Định là võ Thiếu Lâm” hoặc “Võ Bình Định bắt nguồn từ võ Thiếu Lâm” (như ông Diệp Trường Phát đã từng phát biểu theo lời trích dẫn của Quách Trường Xuyên trong quyển “Võ Nhân Bình Định“) là không hề có cơ sở. [cần dẫn nguồn]
    Các dòng võ Bình Định

    Dòng họ Trương (xã Phù Mỹ, huyện Mỹ Hiệp): Ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường từ xứ Thanh Hà, Hải Dương vào khai sơn phá thạch ở vùng đất Tú Dương (thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, Bình Định) vào đầu thế kỷ 17 (khoảng năm 1605). Sau đó dồn đến định cư ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, Phù Mỹ, Bình Định cho đến ngày nay. Theo gia phả của dòng tộc để lại, dòng họ này có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ trong thời nhà Nguyễn và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ. Trong số đó có ông cử nhân võ Trương Trạch, thầy dạy của võ sư Trương Thanh Đăng, người sang lập ra võ đường Sa Long Cương ở Sài Gòn.

    Dòng họ Đinh (thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn): Ông Thủy tổ của dòng họ Đinh là Đinh Viết Hòe, sinh năm 1710 từ đất Ninh Bình phiêu bạt vào sinh cơ lập nghiệp tại ấp Thời Đôn (nay thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định) vào khoảng năm 1730 và lấy thêm vợ thứ (ông Hòe đã có vợ ở quê nhà) là bà Nguyễn Thị Quyền, sinh năm 1715 và sinh được 3 người con Đinh Văn Diệm, Đinh Văn Nhưng, Đinh Văn Triêm. Đinh Văn Nhưng (còn gọi là Ông Chảng) chính là thầy dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Hiện nay dòng họ này đã đổi sang họ Đào (sinh Đào tử Đinh) và tất cả các tài liệu, hiện vật đều bị tiêu huỷ sau khi phong trào Tây Sơn thất bại. Tài liệu duy nhất của dòng họ này truyền lại đến nay được biết là một tập tư liệu cổ do võ sư Phan Thọ cung cấp trong đó có ký tên Đào Thống.

    Dòng họ Trần (thôn Trường Định, xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn): là võ sư Trần Kim Hùng có nguồn gốc từ xứ Nghệ An, người dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Sau này, trong “Tây Sơn ngũ phụng thư” có Trần Thị Lan, bà Lan được ông nội là võ sư Trần Kim Hùng truyền dạy võ nghệ, bà có biệt tài về kiếm thuật và luyện thân lanh lẹ như chim én, nên tự hiệu là Ngọc Yến. Người chị của Trần Thị Lan là Trần Thị Huệ, vợ của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc.

    Roi Thuận Truyền(Xem Đấu roi) (thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn): “Roi Thuận Truyền” trước xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng đến đời ông Ba Ðề thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ Nhu là tên thật của Hồ Ngạnh, sinh năm 1891, mất năm 1976. Ông nguyên quán thôn Háo Ngãi, xã Bình An, huyện Tây Sơn, trú quán ở Thuận Truyền, xã Bình Thuận cùng huyện. Cha là ông Ðốc Năm, một võ quan của triều Nguyễn. Mẹ cũng là con nhà võ. Ngay từ lúc bé, ông đã được cha mẹ dạy võ gia truyền. Lớn lên, ông học roi của cao sư Ba Ðề, học nội công của ông Ðội Sẻ, tiếp đến học roi của ông Hồ Khiêm. Ðường roi kết hợp tinh hoa của nhiều thầy, lại thêm nội công nên cứng cáp và sâu hiểm vô cùng. Từ roi thế, roi đấu, roi chiến đến roi trận, ông đều tinh thông và độc đáo. Khoảng năm 1932, tiếng tăm ông đã vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú. Nghe danh, học trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết sớm, ông truyền nghề cho cháu nội là ông Hồ Sừng. Học trò lớp lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường Úc, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước được riêng dạy ngón võ bí truyền. Học trò lớp sau có Ðinh Văn Tuấn ở Qui Nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ vang cho làng võ Thuận Truyền. Hồ Ngạnh được gọi là “võ sư huyền thoại”.

    Quyền An Vinh (xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn): “Quyền An Vinh” có từ lâu, nhưng cũng chỉ biết từ đời ông Hương Mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa, cũng là bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi. Hương Mục Ngạc học quyền Bình Định (cô tổ của ông vốn là thầy dạy võ của nữ tướng Bùi Thị Xuân) rồi học thêm quyền Tàu của ông Khách Bút. Ông nổi tiếng nhờ tổng hợp được nhiều nguồn võ khác nhau, tạo nên tay quyền xuất sắc nhất trong làng võ thuật Bình Định đương thời. ông có ba người con: Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác đều tinh thông võ nghệ. Ông dạy nhiều học trò, có người nổi tiếng như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc về võ thuật mà còn gan dạ và có sức mạnh đáng kể, với tay không có thể vật ngã một con trâu đực đang sung sức. Bảy Lụt truyền nghề cho ông Phan Thọ. Sau này ông Phan Thọ còn học thêm võ trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp thu được cả tinh hoa quyền An Vinh từ mạch võ Hương Mục Ngạc lẫn võ chiến của Tây Sơn[cần dẫn nguồn].

    Quyền An Thái (xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn): An Thái vốn có những dòng võ truyền thống nổi tiếng nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng võ Bình định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái nói riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu. Người sáng lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát , sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người Tàu nhưng dòng dõi ba đời đều ở An thái, bà nội và mẹ ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia đình và bản thân Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi được 13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những cao sư Bắc phái Thiếu Lâm. Sau 15 năm ròng rã tầm sư học võ, ông Tàu Sáu lúc bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An Thái, mở trường dạy quyền Tàu, sở trường hai môn Hổ quyền và Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn đệ rất đông, không bao lâu phái quyền Tàu Thiếu Lâm của ông đã rải khắp miền đất võ và riêng ở An Thái, võ quyền truyền thống đã bị quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì thế sửa lại câu truyền tụng từ xưa ra “roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. [cần dẫn nguồn]

    Dân Bình Định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì xuất thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có người chỉ để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được cứng cáp thêm như Mười Mỹ. Sau này con của ông, võ sư Diệp Bảo Sanh viết quyển “Võ thuật Bình Định chân truyền” trong đó gọi ông là tổ sư của võ phái An Thái. Võ thuật phái An Thái được truyền vào Sài Gòn với tên gọi Bình Thái Đạo. Ngày nay môn phái này có chưởng môn là bà Diệp Lệ Bích (cháu nội của ông Diệp Trường Phát).
    Trường võ cử Bình Định

    Mặc dù sau khi dẹp được khởi nghĩa Tây Sơn, triều đình nhà Nguyễn đã có sự cấm đoán việc luyện võ cũng như việc sử dụng các loại binh khí sắc bén. Tuy nhiên, việc này chỉ diễn ra trong vòng vài chục năm. Sau đó để tận dụng nhân tài của miền đất võ trong việc chống Pháp, trường võ cử (thi Hương) Bình Định đã được mở lại.
    Trong tục ngữ ca dao

    Võ Bình định luôn luôn gắn liền với tên đất, tên người ở đây.Roi Kinh, Quyền Bình Định.Roi Thuận Truyền, Quyền An Vinh.Trai An Thái, Gái An Vinh.

    hoặcTiếng đồn An thái, Bình khêNhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo

    hoặcDư Ðành sức mạnh quá trâuVùng lên đánh ngã cả xâu triều đình

    Nổi tiếng nhất là câu ca dao sau:Ai về Bình định mà coiĐàn bà cũng biết múa roi, đi quyền

    Tuy nhiên, đôi lúc cũng có những cô gái học võ không chỉ để phòng thân mà muốn phát huy cái đẹp của võ truyền thống như trường hợp Thanh Tùng, hoặc còn đi xa hơn, thi thố với đời, trở thành cao thủ trong làng võ. Điển hình có bà Mân sống vào thời chúa Nguyễn, cô Quyền vào giữa thế kỷ 19 và sang đầu thế kỷ 20 lại có Tám Cảng.

    Bà Mân chưa phải là nhân vật lịch sử nhưng với tài võ nghệ, bà được dân Bình Định ca tụng qua bài vè Chú Lía dài 1434 câu thơ lục bát và được lưu truyền khắp các tỉnh miền Nam Trung phần.

    Theo bài vè, bà Mân ở gần vùng Truông Mây, nơi sào huyệt của một đảng cướp lớn do cha Hồ chú Nhẫn và sau có thêm chú Lía cầm đầu, nay thuộc xã Ân Đức huyện Hoài Ân. Một hôm hai tên Hồ, Nhẫn đem cả lực lượng hùng hậu đến bắt heo nhà bà, cả làng khiếp sợ không ai dám tiếp cứu:Lân la bốn chục theo ràyThẳng đường xuống xóm chật đầy đường quan

    Trong tay bà chỉ có cây roi ngắn nhưng với lòng can đảm và tự tin, bà xông ra cự địch với một đảng cướp mạnh khét tiếng trong vùng:Mụ Mân độ khoảng bốn haiLàu thông võ nghệ ít ai sánh bìThình lình chưa biết việc chiTiện tay mụ với tức thì đoản cônBước ra thấy rõ thiệt hơnMụ không thèm hỏi huơ côn đánh liền.

    Ai cũng tưởng phen này bà Mân bị nát thây vì hai tên Hồ, Nhẫn không những võ nghệ phi thường mà còn hung bạo chưa từng có. Nhưng không may cho chúng, thế võ của bà sâu hiểm vô cùng, áp đảo được ngay đối thủ:Cả ba vùng vẫy đua tranhMụ Mân quả thực liệt oanh ai tày

    Chỉ mới so tài ở hiệp đầu mà bọn cướp đã bị ngọn roi thần của bà cuốn người như bão táp, chúng phải đổi từ thế công sang thế thủ rồi tìm đường tháo lui:Phút thôi Hồ, Nhẫn cả haiĐuối tay kéo chạy như bay khác nào!

    Võ cổ truyền – Lịch sử Võ thuật Bình Định

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Ai về Bình Ðịnh quê tôi,
    Trước xem hát bội, nhì coi đi quyền.
    Cứ mỗi lần nói đến miền đất võ thì những câu ca dao trên chợt đến trong trí và một niềm xúc cảm dâng tràn...
    Bình Ðịnh là đâu mà phụ nữ cũng có thể đi quyền và đánh roi? Mời người Bình Ðịnh và nhất là người chưa biết Bình Ðịnh cùng về thăm một tỉnh miền trung với những áng văn thơ trác tuyệt và một vùng võ thuật kiêu hùng.

    Bình Ðịnh là một tỉnh ngày xưa tương đối trù phú, có diện tích chừng chín ngàn cây số vuông, thuộc miền trung Việt Nam, nằm dọc theo quốc lộ số 1; bắc giáp Quảng Ngãi, nam giáp Phú Yên, Phú Bổn, phía tây là vùng cao nguyên Kontum, Pleiku và mặt đông nhìn ra biển Nam Hải thuộc Thái Bình Dương.
    Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến miền Trung với nhiều rặng núi nhỏ đâm ngang ra biển. Trong đó Bình Ðịnh là một vùng núi non trùng điệp, địa thế hiểm trở, những rặng núi con của Trường Sơn thoai thoải về phía đông tạo địa thế Bình Ðịnh như một chiếc ngai vàng, tựa lưng vào núi, xoay mặt ra đầm Thị Nại. Theo truyền thuyết và phong thủy đây là vùng địa linh nhân kiệt. Thực hư chưa rõ đúng hay sai, nhưng sự thật vùng đất này đã sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt như Võ văn Dũng, Trần quang Diệu, Bùi thị Xuân, Mai xuân Thưởng, Tăng bạt Hổ... và nhất là Tây Sơn Tam Kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, trong đó Hồ Thơm - Nguyễn Huệ tức Quang Trung Hoàng Ðế, một đại anh hùng dân tộc, người đã chỉ huy toàn quân dân Việt đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh, đập tan mộng xâm lăng của đại cường quốc Mãn Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789.
    Nguyên đất Bình Ðịnh xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Năm 137 một thổ dân là Khu Liên chiếm đất này và tự xưng là Lâm Ấp Vương.
    Năm 982, vua Chiêm là Xá Lợi Ðà bị vua Lê Ðại Hành đánh bại ở Quảng Nam, chạy vào tiến chiếm đất này lập kinh đô Ðồ Bàn. Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh bại quân Chiêm, chiếm thành Ðồ Bàn đổi thành phủ Hoài Nhơn. Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn đổi Hoài Nhơn thành Qui Nhơn (1605). Ðến chúa Nguyễn Phúc Tấn đổi thành Qui Ninh (1651), nhưng sang chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên Qui Nhơn (1741).
    Năm 1771, ba vị anh hùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi nghĩa đánh chúa Nguyễn, năm năm sau (1776) Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Qui Nhơn làm kinh đô, sửa sang thành Ðồ Bàn làm Hoàng Ðế thành.
    Sau khi vua Quang Trung băng hà, lực lượng nhà Tây Sơn càng ngày càng yếu, trong khi đó, Nguyễn Ánh lại được người Pháp giúp đỡ. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm phủ Qui Nhơn và đổi tên thành phủ Bình Ðịnh. Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long, chỉnh đốn việc cai trị, đổi phủ Bình Ðịnh thành trấn Bình Ðịnh (1810).
    Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhà vua theo lối tổ chức của Thanh triều bên Trung Hoa, đổi trấn thành tỉnh, Bình Ðịnh trấn thành Bình Ðịnh tỉnh từ đấy (Xem bản đồ tỉnh Bình Ðịnh).
    Chúng ta hãy lắng nghe người học trò đa tình Bình Ðịnh ra Huế thi và rủ rê cô gái đất thần kinh:
    Mải vui Hương thủy Ngự Bình
    Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô.
    Chẳng lịch bằng kinh đô
    Bình Ðịnh không đồng khô cỏ cháy
    Năm dòng sông chảy,
    Sáu dãy non cao
    Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh.
    Những câu thơ của người học trò tự thuở xa xưa đã mô tả một vùng đất Bình Ðịnh hữu tình với những dòng sông, những dãy núi cao, tháp Chàm cổ, khiến chúng ta liên tưởng đến Hầm Hô, Ðồ Bàn, đầm Thị Nại. . . Ðầm này rất rộng do bán đảo Phương Mai bao bọc bên ngoài với hai cửa Cát Thử và Qui Nhơn. Từ xưa, thế kỷ 17 đã là cửa ngõ giao thương với các tỉnh trong nước cũng như nước ngoài và còn là một vị trí chiến lược, chiến thuật hiểm yếu. Bình Ðịnh là một tỉnh có đầy đủ nông lâm thủy sản . Ðặc sản có yến sào Qui Nhơn, trầm hương Bình Khê, nón ngựa Gò Găng, bột đậu xanh, bún Song thằng An Thái, nước mắm Gò Bồi, xoài tượng Phù Cát cùng nước dừa Bồng Sơn, Tam Quan ngọt ngào, tươi mát.
    Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
    Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
    Muốn ăn quít, ăn hồng,
    Theo cha mày mà về ngoài đó, (Thanh Nghệ)
    Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
    Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
    Thì theo tao, ở mãi trong này. (là Bình Ðịnh)
    Võ cổ truyền – Lịch sử Võ thuật Bình Định
    Đặc điểm
    1. Đặc điểm đầu tiên lớn nhất của võ thuật Bình Định là sự đa dạng. Đa dạng về những dòng võ ngay trên đất Bình Định và đa dạng về sự khác biệt trong kỹ thuật giữa các hệ phái mang tên Bình Định hoặc Tây Sơn trên toàn quốc.
    Tuy nhiên, sự đa dạng đó lại đặt trên cơ sở một số đặc điểm chung hầu hết các dòng võ ở Bình Định đều có. Chẳng hạn như một số bài bản được mặc nhiên coi là võ Bình Định như Ngọc trản ngân đài, Siêu Bát Quái, Roi Tấn Nhứt, Roi Ngũ Môn. Mặc dù đây chính là các bài bản của Võ Ta hay còn gọi là Võ Kinh, một môn võ của Đàng Trong và từng được dùng cho huấn luyện trong quân đội và thi võ cử trong thời nhà Nguyễn.
    Các câu vè có liên quan đến yếu quyết của võ thuật được lưu truyền ở Bình Định cũng là những câu vè của Võ Ta. Ví dụ: “Roi tiên quyền tiếp” (Xem Đấu Roi), “Song thủ ngũ hành vi bản. Lưỡng túc bát bộ vi căn”… Một câu vè khác nói lên sự thống nhất và liên đới giữa hai môn (Võ Kinh và võ thuật Bình Định) là “Roi Kinh quyền Bình Định”. Những kỹ thuật này không chỉ có riêng ở Võ Kinh và võ thuật Bình Định. Nó còn tồn tại ở các dòng võ ở các miền khác, chẳng hạn võ Tân Khánh Bà Trà ở Bình Dương – Đông Nam Bộ.
    Ngoài những kỹ thuật được coi là võ Ta nói trên, mỗi dòng võ đều chứa những đặc điểm riêng của mình. Đặc biệt nhất là những kỹ thuật thừa hưởng của nhà Tây Sơn. Ví dụ: Bài Hùng Kê quyền vốn được coi là của Nguyễn Lữ, bài quyền Yến Phi (thảo pháp Én bay) vốn được coi là của Nguyễn Huệ, các kỹ thuật về trống trận Tây Sơn… Mặc dù những kỹ thuật này không phổ biến bằng các kỹ thuật của Võ Ta, nhưng đây là điểm đặc sắc của riêng vùng đất Bình Định mà các vùng khác không hề có.
    Đặc biệt, trong thời gian gần đây có sự xuất hiện ra công chúng dòng võ chùa Long Phước. Theo trang web Võ Cổ Truyền, nhà sư Vạn Thanh (tên thật là Nguyễn Đông Hải) vốn là truyền nhân đời thứ 13 của môn phái Long Hổ Không hồng. Cũng theo trang web nói trên, kỹ thuật của môn võ này bao gồm trong “Phổ Đại Nam triều chi tướng thao” do tướng Tây Sơn Nguyễn Trung Như (Hư Linh Ẩn) truyền lại. Tập sách này gồm 2 bộ:
    “Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp” do Hư Minh, tổ của môn phái Long Hổ Không hồng ghi lại các bài bản từ thời nhà Lê trở về trước.
    “Tây Sơn danh tướng mộ hùng thao” do Nguyễn Trung Như ghi lại các bài bản võ thuật của thời Tây Sơn.
    Mức độ trung thực về mặt lịch sử của các tài liệu này rất cần được sự quan tâm nghiên cứu công phu của các nhà sử học.

    Vì có sự tương đồng về mặt văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, có một số dòng võ hoặc hệ phái tuyên bố có nguồn gốc từ Trung Quốc cũng lấy danh xưng võ Bình Định. Chẳng hạn như trường hợp của phái võ Bình Định gia tại Hà Nội, dòng Bình Định An Thái của võ sư Diệp Trường Phát. Việc công nhận hay công nhận danh xưng “Võ Bình Định” của các hệ phái này một thời từng là một đề tài tranh luận khá sôi nổi trong giới võ.
    Ngoài ra, ở vùng đất này cũng đã và đang có sự phổ biến của nhiều môn võ hiện đại trong và ngoài nước khác nhau. Đất Bình Định cũng đã từng rất nổi tiếng trong “làng đấm” (quyền Anh). Tuy nhiên, vì có sự rạch ròi trong ngôn ngữ sử dụng lẫn trong sự phân chia môn phái võ thuật hoặc bộ môn thể thao thi đấu nên chưa bao giờ các môn võ này được gọi với danh xưng “Võ Bình Định“.
    2. Về khía cạnh võ thuật, võ cổ truyền Bình Định thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu, giữa bên trong (tinh, khí, thần) với bên ngoài cơ thể (thủ, nhãn, chỉ và thân). Về võ lý, võ cổ truyền Bình Định vận dụng triệt để học thuyết âm – dương, lấy phép ngũ hành và phép bát quái làm nguyên lý cơ bản của “Song thủ ngũ hành vi bản”, “Lưỡng túc bát bộ vi căn” là cơ sở võ lý cho luyện tập bộ tay và bộ chân trong võ cổ truyền Bình Định: Tấn pháp trong bát quái và Thủ pháp trong Ngũ hành, có sự phối hợp cả hai phương diện ngoại công và nội công.
    3. Về khía cạnh đạo đức, ngoài những đức tính mà con người đề cao trong rèn luyện đạo đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đạo đức của người luyện õ còn thể hiện ở các mặt truyền thống: thượng võ, chống ngoại xâm; uống nước nhớ nguồn; trọng nhân nghĩa…
    4. Về nội dung, võ cổ truyền Bình Định vô cùng phong phú, đa dạng nhưng tựu trung có 4 nội dung cơ bản là: luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần. Quyền còn gọi là thảo bộ hay quyền tay không, bao gồm Cương quyền và Nhu quyền. Võ tay không chia thành 4 nhóm: Võ thể dục, võ tự vệ, võ tỷ thí và võ chiến đấu. Binh khí được dùng trong võ cổ truyền Bình Định bao gồm binh khí dài và binh khí ngắn. Loại binh khí rất cơ bản được lưu hành khá phổ biến ở Bình Định là côn (tiếng địa phương gọi là roi) (Xem Đấu Roi)với nhiều “phách roi” độc đáo chỉ có ở võ cổ truyền Bình Định: “Đâm so đũa”, “Đá văn roi”, “Phá vây”, “Roi đánh nghịch”… Nói về tận dụng vũ khí thô sơ chống giặc, Bình Định có “Bài kiếm 12″ nổi tiếng gồm 12 động tác được rút tỉa trong nhiều bài kiếm tiêu biểu của Bình Định để hình thành một cách ngắn gọn, dễ tập, dễ nhớ, được đưa vào luyện tập và thực hành chiến đấu đạt hiệu quả cao trong các lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở địa phương.
    Trong các bộ môn về quyền thuật, “Ngọc Trản” là bài quyền tiêu biểu của võ cổ truyền Bình Định, trải qua thời gian, nó vẫn sáng chói như một “chén ngọc” với những bí quyết võ công vô giá. Để thực hành được một cách nhuần nhuyễn, phải tính đến công sức luyện tập cả về thể chất và ý thức nhằm tạo được sự thống nhất thành một ý niệm duy nhất, như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó chính là bí quyết khổ luyện của lối quyền âm – dương trong Ngọc Trản công.
    Nguồn gốc

    Như đã trình bày, kỹ thuật phổ biến nhất trong võ thuật Bình Định là võ Ta, tức võ thuật của triều Nguyễn phổ biến ở Đàng Trong [cần dẫn nguồn]. Còn võ Ta thực sự được truyền vào và phổ biến ở vùng này từ thời nào lại là điều rất cần được nghiên cứu về mặt lịch sử.

    Sự ảnh hưởng của võ học thời Tây Sơn chỉ gói gọn trong một vài dòng võ và trong một vài bài bản riêng biệt không phổ biến, không nên xem võ thuật của Tây Sơn là nguồn gốc của tất cả các dòng phái võ thuật Bình Định.

    Mặc dù rất nhiều người học võ thuật Bình Định từng thọ giáo các danh sư có gốc từ Trung Quốc như Khách Bút, hoặc Tàu Sáu (Diệp Trường Phát). Tuy nhiên, những bài bản võ thuật phổ biến ở Bình Định không hề có trong các bài bản của võ thuật Trung Quốc kể cả danh từ lẫn kỹ thuật. Vì vậy, việc phát biểu của một số võ sư học võ Trung Quốc như “Võ Bình Định là võ Thiếu Lâm” hoặc “Võ Bình Định bắt nguồn từ võ Thiếu Lâm” (như ông Diệp Trường Phát đã từng phát biểu theo lời trích dẫn của Quách Trường Xuyên trong quyển “Võ Nhân Bình Định“) là không hề có cơ sở. [cần dẫn nguồn]
    Các dòng võ Bình Định

    Dòng họ Trương (xã Phù Mỹ, huyện Mỹ Hiệp): Ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường từ xứ Thanh Hà, Hải Dương vào khai sơn phá thạch ở vùng đất Tú Dương (thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, Bình Định) vào đầu thế kỷ 17 (khoảng năm 1605). Sau đó dồn đến định cư ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, Phù Mỹ, Bình Định cho đến ngày nay. Theo gia phả của dòng tộc để lại, dòng họ này có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ trong thời nhà Nguyễn và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ. Trong số đó có ông cử nhân võ Trương Trạch, thầy dạy của võ sư Trương Thanh Đăng, người sang lập ra võ đường Sa Long Cương ở Sài Gòn.

    Dòng họ Đinh (thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn): Ông Thủy tổ của dòng họ Đinh là Đinh Viết Hòe, sinh năm 1710 từ đất Ninh Bình phiêu bạt vào sinh cơ lập nghiệp tại ấp Thời Đôn (nay thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định) vào khoảng năm 1730 và lấy thêm vợ thứ (ông Hòe đã có vợ ở quê nhà) là bà Nguyễn Thị Quyền, sinh năm 1715 và sinh được 3 người con Đinh Văn Diệm, Đinh Văn Nhưng, Đinh Văn Triêm. Đinh Văn Nhưng (còn gọi là Ông Chảng) chính là thầy dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Hiện nay dòng họ này đã đổi sang họ Đào (sinh Đào tử Đinh) và tất cả các tài liệu, hiện vật đều bị tiêu huỷ sau khi phong trào Tây Sơn thất bại. Tài liệu duy nhất của dòng họ này truyền lại đến nay được biết là một tập tư liệu cổ do võ sư Phan Thọ cung cấp trong đó có ký tên Đào Thống.

    Dòng họ Trần (thôn Trường Định, xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn): là võ sư Trần Kim Hùng có nguồn gốc từ xứ Nghệ An, người dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Sau này, trong “Tây Sơn ngũ phụng thư” có Trần Thị Lan, bà Lan được ông nội là võ sư Trần Kim Hùng truyền dạy võ nghệ, bà có biệt tài về kiếm thuật và luyện thân lanh lẹ như chim én, nên tự hiệu là Ngọc Yến. Người chị của Trần Thị Lan là Trần Thị Huệ, vợ của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc.

    Roi Thuận Truyền(Xem Đấu roi) (thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn): “Roi Thuận Truyền” trước xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng đến đời ông Ba Ðề thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ Nhu là tên thật của Hồ Ngạnh, sinh năm 1891, mất năm 1976. Ông nguyên quán thôn Háo Ngãi, xã Bình An, huyện Tây Sơn, trú quán ở Thuận Truyền, xã Bình Thuận cùng huyện. Cha là ông Ðốc Năm, một võ quan của triều Nguyễn. Mẹ cũng là con nhà võ. Ngay từ lúc bé, ông đã được cha mẹ dạy võ gia truyền. Lớn lên, ông học roi của cao sư Ba Ðề, học nội công của ông Ðội Sẻ, tiếp đến học roi của ông Hồ Khiêm. Ðường roi kết hợp tinh hoa của nhiều thầy, lại thêm nội công nên cứng cáp và sâu hiểm vô cùng. Từ roi thế, roi đấu, roi chiến đến roi trận, ông đều tinh thông và độc đáo. Khoảng năm 1932, tiếng tăm ông đã vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú. Nghe danh, học trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết sớm, ông truyền nghề cho cháu nội là ông Hồ Sừng. Học trò lớp lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường Úc, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước được riêng dạy ngón võ bí truyền. Học trò lớp sau có Ðinh Văn Tuấn ở Qui Nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ vang cho làng võ Thuận Truyền. Hồ Ngạnh được gọi là “võ sư huyền thoại”.

    Quyền An Vinh (xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn): “Quyền An Vinh” có từ lâu, nhưng cũng chỉ biết từ đời ông Hương Mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa, cũng là bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi. Hương Mục Ngạc học quyền Bình Định (cô tổ của ông vốn là thầy dạy võ của nữ tướng Bùi Thị Xuân) rồi học thêm quyền Tàu của ông Khách Bút. Ông nổi tiếng nhờ tổng hợp được nhiều nguồn võ khác nhau, tạo nên tay quyền xuất sắc nhất trong làng võ thuật Bình Định đương thời. ông có ba người con: Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác đều tinh thông võ nghệ. Ông dạy nhiều học trò, có người nổi tiếng như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc về võ thuật mà còn gan dạ và có sức mạnh đáng kể, với tay không có thể vật ngã một con trâu đực đang sung sức. Bảy Lụt truyền nghề cho ông Phan Thọ. Sau này ông Phan Thọ còn học thêm võ trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp thu được cả tinh hoa quyền An Vinh từ mạch võ Hương Mục Ngạc lẫn võ chiến của Tây Sơn[cần dẫn nguồn].

    Quyền An Thái (xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn): An Thái vốn có những dòng võ truyền thống nổi tiếng nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng võ Bình định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái nói riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu. Người sáng lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát , sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người Tàu nhưng dòng dõi ba đời đều ở An thái, bà nội và mẹ ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia đình và bản thân Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi được 13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những cao sư Bắc phái Thiếu Lâm. Sau 15 năm ròng rã tầm sư học võ, ông Tàu Sáu lúc bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An Thái, mở trường dạy quyền Tàu, sở trường hai môn Hổ quyền và Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn đệ rất đông, không bao lâu phái quyền Tàu Thiếu Lâm của ông đã rải khắp miền đất võ và riêng ở An Thái, võ quyền truyền thống đã bị quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì thế sửa lại câu truyền tụng từ xưa ra “roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. [cần dẫn nguồn]

    Dân Bình Định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì xuất thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có người chỉ để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được cứng cáp thêm như Mười Mỹ. Sau này con của ông, võ sư Diệp Bảo Sanh viết quyển “Võ thuật Bình Định chân truyền” trong đó gọi ông là tổ sư của võ phái An Thái. Võ thuật phái An Thái được truyền vào Sài Gòn với tên gọi Bình Thái Đạo. Ngày nay môn phái này có chưởng môn là bà Diệp Lệ Bích (cháu nội của ông Diệp Trường Phát).
    Trường võ cử Bình Định

    Mặc dù sau khi dẹp được khởi nghĩa Tây Sơn, triều đình nhà Nguyễn đã có sự cấm đoán việc luyện võ cũng như việc sử dụng các loại binh khí sắc bén. Tuy nhiên, việc này chỉ diễn ra trong vòng vài chục năm. Sau đó để tận dụng nhân tài của miền đất võ trong việc chống Pháp, trường võ cử (thi Hương) Bình Định đã được mở lại.
    Trong tục ngữ ca dao

    Võ Bình định luôn luôn gắn liền với tên đất, tên người ở đây.Roi Kinh, Quyền Bình Định.Roi Thuận Truyền, Quyền An Vinh.Trai An Thái, Gái An Vinh.

    hoặcTiếng đồn An thái, Bình khêNhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo

    hoặcDư Ðành sức mạnh quá trâuVùng lên đánh ngã cả xâu triều đình

    Nổi tiếng nhất là câu ca dao sau:Ai về Bình định mà coiĐàn bà cũng biết múa roi, đi quyền

    Tuy nhiên, đôi lúc cũng có những cô gái học võ không chỉ để phòng thân mà muốn phát huy cái đẹp của võ truyền thống như trường hợp Thanh Tùng, hoặc còn đi xa hơn, thi thố với đời, trở thành cao thủ trong làng võ. Điển hình có bà Mân sống vào thời chúa Nguyễn, cô Quyền vào giữa thế kỷ 19 và sang đầu thế kỷ 20 lại có Tám Cảng.

    Bà Mân chưa phải là nhân vật lịch sử nhưng với tài võ nghệ, bà được dân Bình Định ca tụng qua bài vè Chú Lía dài 1434 câu thơ lục bát và được lưu truyền khắp các tỉnh miền Nam Trung phần.

    Theo bài vè, bà Mân ở gần vùng Truông Mây, nơi sào huyệt của một đảng cướp lớn do cha Hồ chú Nhẫn và sau có thêm chú Lía cầm đầu, nay thuộc xã Ân Đức huyện Hoài Ân. Một hôm hai tên Hồ, Nhẫn đem cả lực lượng hùng hậu đến bắt heo nhà bà, cả làng khiếp sợ không ai dám tiếp cứu:Lân la bốn chục theo ràyThẳng đường xuống xóm chật đầy đường quan

    Trong tay bà chỉ có cây roi ngắn nhưng với lòng can đảm và tự tin, bà xông ra cự địch với một đảng cướp mạnh khét tiếng trong vùng:Mụ Mân độ khoảng bốn haiLàu thông võ nghệ ít ai sánh bìThình lình chưa biết việc chiTiện tay mụ với tức thì đoản cônBước ra thấy rõ thiệt hơnMụ không thèm hỏi huơ côn đánh liền.

    Ai cũng tưởng phen này bà Mân bị nát thây vì hai tên Hồ, Nhẫn không những võ nghệ phi thường mà còn hung bạo chưa từng có. Nhưng không may cho chúng, thế võ của bà sâu hiểm vô cùng, áp đảo được ngay đối thủ:Cả ba vùng vẫy đua tranhMụ Mân quả thực liệt oanh ai tày

    Chỉ mới so tài ở hiệp đầu mà bọn cướp đã bị ngọn roi thần của bà cuốn người như bão táp, chúng phải đổi từ thế công sang thế thủ rồi tìm đường tháo lui:Phút thôi Hồ, Nhẫn cả haiĐuối tay kéo chạy như bay khác nào!

    About-Privacy Policy-Contact us
    Copyright © 2013 Võ thuật Cổ Truyền - Võ Cổ Truyền Việt Nam - tin tức liên đoàn Võ thuật cổ truyền. Distributed By Võ thuật cổ truyền Việt Nam | https://banhngot.vn by https://banhngot.vn/ cung cấp Giỏ quà tết Bình Dương
    Proudly Powered by Võ Cổ truyền Việt Nam Phát triển xây dựng nội sung Bánh ngọtViệt Nam Bánh kem Hương vị Việt #banhngotvn Xem nhiều mẫu bánh sinh nhật võ thuật Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương Xem nhiều Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương
    back to top