• Featured

    Chia sẻ thông tin kiến thức, phương pháp tập luyện, chế độ dinh dưỡng cần thiết võ cổ truyền

  • Featured

    Don't miss these 10 Things if you are going for Picnic.

  • Articles

    iPhone 6 Will Look Like

  • Articles

    Solar Powered UAVs To Replace Satellites

  • Hiển thị các bài đăng có nhãn Tinh-hoa-Võ-thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
    Hiển thị các bài đăng có nhãn Tinh-hoa-Võ-thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
    Hư văn công là một trong hai Thời trang này không có gì khác nhau, sự quan tâm của bạn. Phương pháp này như sau:

    Sự hay ho của chúng tôi, tình yêu của bạn Một phần của chúng tôi, một trong những phần mềm của bạn, một phần của bạn luyện tập là có thể đi được Mạnh mẽ với chúng tôi, một trong những mối quan hệ tình cảm, tình cảm và sức khỏe.

    Thủ công, sự cố, sự cố và sự quan tâm của bạn.

    Tư cách thiết lập ý, chân tay của bạn Tình yêu, văn hóa, văn hóa, tình yêu, thời gian, tình yêu, tình yêu, thời gian, tình yêu, thời gian quan hệ tình dục với nhau, quan hệ tình dục Có một phần của chúng tôi, một phần của chúng tôi, một phần của chúng phạm vi, dữ liệu, tình huống: sự chăm sóc và sức khỏe, sự chăm sóc của bạn.

    Một phần của họ là một phần của sự khác nhau.

    Tam tuyến phóng túng công: Phương pháp này là một cách tự chữa bệnh bằng tĩnh công, qua đạo dẫn của ý niệm làm thân tâm đạt tới thư giãn tĩnh cao độ, để chữa được các bệnh tật của thân tâm, cách làm như sau: đứng, nằm, ngồi tùy ý, hít thở ổn định, thư giãn 3 đường là:

    - Ý niệm từ hai bên đầu xuống hai bên cổ – hai bên vai – hai cánh tay – hai bàn tay – tới đầu các ngón tay – giữ ý niệm tại các đầu ngón tay trên một phút.

    - Ý niệm đi từ trước mặt – trước cổ - trước ngực – trước bụng – trước hai đùi – trước hai ống chân – mu hai bàn chân – các ngón chân – giữ ý niệm trên một phút.

    - Ý niệm từ sau đầu – sau gáy – sau bả vai – sau lưng – sau eo – sau hai đùi – sau hai gót chân – hai gan bàn chân – giữ ý niệm tại huyệt dũng tuyền trên một phút.

    Khi ý niệm tới bộ phận nào đó, theo hít thở và với ý “giãn” và cứ lần lượt như vậy với mỗi bộ phận. Mỗi lần tập chừng trên dưới nửa giờ, có thể làm nhiều lần, tùy sự thấm sâu của sức công có thể tăng thời gian tập. Nếu xác định được nội tạng hoặc chỗ nào có bệnh còn có thể tiến hành thư giãn chỗ đó.

    Phương pháp này thích hợp điều trị các bệnh mạn tính, đặc biệt có hiệu quả với các bệnh như tăng huyết áp, mờ mắt, bệnh dạ dày đường ruột, mất ngủ, tim đập nhanh.

    Hồi xuân công là phương pháp kết hợp động và tĩnh công, thông qua tập luyện sẽ làm thông khí huyết bồi bổ nguyên khí hồi xuân, điều chỉnh nội phân tiết, giúp khôi phục và nâng cao chức năng về giới tính, cải thiện chức năng tiêu hóa của đường ruột, có tác dụng bảo vệ chức năng hệ thống tiết niệu. Cách tập như sau:

    Chuẩn bị: Đứng thẳng, hai chân dang bằng vai, hai tay buông xuôi theo hai bên đùi, toàn thân thư giãn, mắt hơi nhắm, tư tưởng nhập tĩnh. Khoảng thời gian này có thể nhiều hoặc ít, hít thở ổn định, thư giãn toàn thân.

    Khởi thế: Hít thở sâu, hít bằng mũi, hai chân hơi rướn lên, ngực ưỡn ra, bụng dưới phồng lên, khi thở ra bằng mồm bụng dưới hơi tóp lại, hai đầu gối hơi cong lại theo tư thế thở, hai bàn chân giáp đất, làm như vậy 16 lần.

    Toàn thân lay động: Toàn thân thư giãn, thân trên thẳng, hai tay buông xuôi hai bên, đầu gối hơi khuỵu xuống. Sau đó toàn thân bật lên bật xuống theo đầu gối, kéo theo hai vú, khớp vai, khớp cổ, các cơ bắp và âm nang cũng lay động theo. Thời gian không dưới một phút, bật như vậy 164 lần. Trước khi kết thúc giảm dần tốc độ, từ từ thu công.

    Quay vai trái và phải: Chân tay vẫn như trước, trọng tâm thân hơi ngả về trước, đầu gối hơi cong, toàn thân thư giãn. Sau đó bắt đầu quay vai về phía trước, sau đó quay lên rồi ra sau, trở lại ban đầu, cứ như vậy luân phiên hai vai trái, phải tổng cộng 16 lần. Khi quay vai hít thở theo động tác, khi quay vai không cần lực mà cần mềm mại, chậm thoải mái. Lúc đầu quay vòng nhỏ sau tăng thành vòng to, tốt nhất là vòng to.

    Nội dưỡng công là một phương pháp tĩnh công, dùng cách hít thở bằng bụng, ý niệm đến đan điền, niệm số để đạt tới điều chỉnh an thần, bồi dưỡng nguyên khí, điều hòa tạng phủ, phương pháp như sau:

    Tư vấn và ý tưởng, tình yêu, tình yêu, ý tưởng, ý thức và sự quan tâm của bạn. Trong trọng lượng của bạn Thời gian của chúng tôi, trong khi bạn đang cố gắng, quan tâm Bài tập kết hợp cho đến khi bạn thích ăn thịt gà, ăn thịt, ăn thịt

    Bs Thu Hương

    Chữa bệnh bằng nội công- đỉnh cao võ thuật

    Posted at  tháng 11 30, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Hư văn công là một trong hai Thời trang này không có gì khác nhau, sự quan tâm của bạn. Phương pháp này như sau:

    Sự hay ho của chúng tôi, tình yêu của bạn Một phần của chúng tôi, một trong những phần mềm của bạn, một phần của bạn luyện tập là có thể đi được Mạnh mẽ với chúng tôi, một trong những mối quan hệ tình cảm, tình cảm và sức khỏe.

    Thủ công, sự cố, sự cố và sự quan tâm của bạn.

    Tư cách thiết lập ý, chân tay của bạn Tình yêu, văn hóa, văn hóa, tình yêu, thời gian, tình yêu, tình yêu, thời gian, tình yêu, thời gian quan hệ tình dục với nhau, quan hệ tình dục Có một phần của chúng tôi, một phần của chúng tôi, một phần của chúng phạm vi, dữ liệu, tình huống: sự chăm sóc và sức khỏe, sự chăm sóc của bạn.

    Một phần của họ là một phần của sự khác nhau.

    Tam tuyến phóng túng công: Phương pháp này là một cách tự chữa bệnh bằng tĩnh công, qua đạo dẫn của ý niệm làm thân tâm đạt tới thư giãn tĩnh cao độ, để chữa được các bệnh tật của thân tâm, cách làm như sau: đứng, nằm, ngồi tùy ý, hít thở ổn định, thư giãn 3 đường là:

    - Ý niệm từ hai bên đầu xuống hai bên cổ – hai bên vai – hai cánh tay – hai bàn tay – tới đầu các ngón tay – giữ ý niệm tại các đầu ngón tay trên một phút.

    - Ý niệm đi từ trước mặt – trước cổ - trước ngực – trước bụng – trước hai đùi – trước hai ống chân – mu hai bàn chân – các ngón chân – giữ ý niệm trên một phút.

    - Ý niệm từ sau đầu – sau gáy – sau bả vai – sau lưng – sau eo – sau hai đùi – sau hai gót chân – hai gan bàn chân – giữ ý niệm tại huyệt dũng tuyền trên một phút.

    Khi ý niệm tới bộ phận nào đó, theo hít thở và với ý “giãn” và cứ lần lượt như vậy với mỗi bộ phận. Mỗi lần tập chừng trên dưới nửa giờ, có thể làm nhiều lần, tùy sự thấm sâu của sức công có thể tăng thời gian tập. Nếu xác định được nội tạng hoặc chỗ nào có bệnh còn có thể tiến hành thư giãn chỗ đó.

    Phương pháp này thích hợp điều trị các bệnh mạn tính, đặc biệt có hiệu quả với các bệnh như tăng huyết áp, mờ mắt, bệnh dạ dày đường ruột, mất ngủ, tim đập nhanh.

    Hồi xuân công là phương pháp kết hợp động và tĩnh công, thông qua tập luyện sẽ làm thông khí huyết bồi bổ nguyên khí hồi xuân, điều chỉnh nội phân tiết, giúp khôi phục và nâng cao chức năng về giới tính, cải thiện chức năng tiêu hóa của đường ruột, có tác dụng bảo vệ chức năng hệ thống tiết niệu. Cách tập như sau:

    Chuẩn bị: Đứng thẳng, hai chân dang bằng vai, hai tay buông xuôi theo hai bên đùi, toàn thân thư giãn, mắt hơi nhắm, tư tưởng nhập tĩnh. Khoảng thời gian này có thể nhiều hoặc ít, hít thở ổn định, thư giãn toàn thân.

    Khởi thế: Hít thở sâu, hít bằng mũi, hai chân hơi rướn lên, ngực ưỡn ra, bụng dưới phồng lên, khi thở ra bằng mồm bụng dưới hơi tóp lại, hai đầu gối hơi cong lại theo tư thế thở, hai bàn chân giáp đất, làm như vậy 16 lần.

    Toàn thân lay động: Toàn thân thư giãn, thân trên thẳng, hai tay buông xuôi hai bên, đầu gối hơi khuỵu xuống. Sau đó toàn thân bật lên bật xuống theo đầu gối, kéo theo hai vú, khớp vai, khớp cổ, các cơ bắp và âm nang cũng lay động theo. Thời gian không dưới một phút, bật như vậy 164 lần. Trước khi kết thúc giảm dần tốc độ, từ từ thu công.

    Quay vai trái và phải: Chân tay vẫn như trước, trọng tâm thân hơi ngả về trước, đầu gối hơi cong, toàn thân thư giãn. Sau đó bắt đầu quay vai về phía trước, sau đó quay lên rồi ra sau, trở lại ban đầu, cứ như vậy luân phiên hai vai trái, phải tổng cộng 16 lần. Khi quay vai hít thở theo động tác, khi quay vai không cần lực mà cần mềm mại, chậm thoải mái. Lúc đầu quay vòng nhỏ sau tăng thành vòng to, tốt nhất là vòng to.

    Nội dưỡng công là một phương pháp tĩnh công, dùng cách hít thở bằng bụng, ý niệm đến đan điền, niệm số để đạt tới điều chỉnh an thần, bồi dưỡng nguyên khí, điều hòa tạng phủ, phương pháp như sau:

    Tư vấn và ý tưởng, tình yêu, tình yêu, ý tưởng, ý thức và sự quan tâm của bạn. Trong trọng lượng của bạn Thời gian của chúng tôi, trong khi bạn đang cố gắng, quan tâm Bài tập kết hợp cho đến khi bạn thích ăn thịt gà, ăn thịt, ăn thịt

    Bs Thu Hương

    Sẵn vốn liếng võ cổ truyền Việt Nam cộng với tinh hoa võ thuật của các tông phái Trung Quốc và Nhật Bản… cùng kinh nghiệm dạy võ trong quân đội, lão võ sư Trần Tiến đã tinh lọc và đúc kết thành võ phái Thiếu Lâm nội gia võ thuật đạo Việt Nam và phổ biến tại Trung tâm TDTT quốc phòng 2, Nhà bảo tàng không quân phía Nam… Học trò của ông có cả người Mỹ, Pháp, Ý, Nga, Brazil…

    Võ sư Trần Tiến sinh ngày 04 tháng 02 năm 1911 (Tân Hợi) tại Cầu Vòng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Năm 1913, cụ Hoàng Hoa Thám qua đời, nghĩa quân tan rã; ông nội và bố mẹ Trần Tiến phải thay tên đổi họ, lẩn tránh về thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Trần Tiến được bố khai sinh lại: ngày 04.02.1913. Sinh trưởng trong gia đình có truyền thống võ nghệ, Trần Tiến được ông nội khai tâm võ học lúc 10 tuổi. Hai năm sau, ông Trần Tiến qua đời, Trần Tiến được thân phụ truyền dạy tiếp. Từ 15-20 tuổi, Trần Tiến học Thiếu Lâm với thầy Lý Giang Nam – quê ở Phúc Kiến (Trung Quốc), chạy sang Hải Phòng lánh nạn. Những năm sau, Trần Tiến tập Nhu thuật cùng ông Tanabe (Nhật), Judo với ông Karachi (Nhật) và luyện cả quyền Anh cùng võ sĩ Lafleur (người Pháp gốc Phi).Tuổi thanh niên sôi nổi lại biết võ nghệ, Trần Tiến đã tham gia nhiều cuộc so tài về roi và kiếm ở miền Bắc trong 6 tháng đầu năm 1936. Nhưng đến tháng 8.1936, Trần Tiến buộc lòng phải rời xa quê hương vào miền Nam do bị thực dân Pháp đe dọa bắt giam vì “xách động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự”. Đến Sài Gòn, Trần Tiến tạm dừng bước và luyện tập tại Cercle Sportif Saigonnais (nay là Cung văn hóa lao động Tp. HCM) và sau đó hoạt động võ thuật ở nhiều nơi…

    Năm 1943, Trần Tiến dạy thể dục tại đồn điền cao su Đất Đỏ (Plantation Terre Rouge de l’Indochine) ở Kompong Cham (Campuchia). Công nhân nơi đây phần lớn là người Việt từ miền Bắc sang. Trong thời gian làm việc, Trần Tiến đươc tên chủ đồn điền người Pháp “quý mến” vì đã giúp công nhân có sức khỏe để “làm việc suốt ngày đêm”. Thật lòng, lúc đó Trần Tiến chưa biết gì về sự bóc lột của bọn chủ nhân tư bản cũng như không hiểu mình đang bị lợi dụng. Mãi đến cuối năm 1945, trong một lần nghỉ phép, Trần Tiến trở ra Hà Nội, đau lòng trước cảnh nhân dân chết đói quá thê thảm và được Việt Minh kêu gọi, Trần Tiến đã tham gia bộ đội vào đầu năm 1946. Mây năm đầu, Trần Tiến huấn luyện võ thuật cho “Bộ đội đặc biệt tinh nhuệ” (năm 1967 cải danh là đặc công). Những năm sau, tuy đảm nhận nhiệm vụ khác nhưng Trần Tiến vẫn thường xuyên luyện võ và dạy võ cho mọi người khi có điều kiện. Sau 32 năm phục vụ trong quân ngũ, Trần Tiến nghỉ hưu vào năm 1978. Thế nhưng đến cuối năm 1981, Trần Tiến còn tự nguyện sang huấn luyện võ thuật định kỳ cho một số sĩ quan quân đội nhân dân cách mạng Campuchia và mãi đến 20.09.1989 mới về nghỉ hẳn tại Tp. HCM.

    Luyện khí công hàng ngày, sống thanh thản với tình thương yêu con người rõ rệt như vậy, ở tuổi xấp xỉ 100 (năm 2010), ông vẫn còn sáng suốt, khỏe mạnh và …đứng lớp môn khí công mở tại Nhà bảo tàng không quân phía Nam. Đập tay vào ngực thật mạnh, ông nói: “Đánh mạnh vậy nhưng tôi không đau. Tôi chết vì các cơ quan bị lão hóa thì có, chứ tôi không chết vì bệnh tật gì đâu”.

    Ông đã chuẩn bị trước cho thời khắc phải chia tay võ thuật, chia tay các môn đệ, bạn bè mà bước vào thế giới khác êm ả, bình yên hơn. “Hơn 80 năm sống với võ nghệ, trong đó có 32 năm phục vụ trong quân ngũ, nghỉ hưu với quân hàm đại tá, nhưng khi nhắm mắt, tôi không để nhà nước phải lo”. Vị đại tá về hưu đã đưa vào bản di chúc: thân của ông sẽ thành tro bụi để trở về với cát bụi, cô học trò trung tín nhất sẽ đọc điếu văn, tiền phúng điếu sẽ dành để giúp trẻ mồ côi, người nghèo khổ…

    Ngày 16-02-2011, do tuổi cao, sức yếu, ông bị ngã tại nhà riêng và dẫn đến chấn thương sọ não. Tuy được các bác sĩ ở bệnh viện Chợ Rẫy tận tình cứu chữa, nhưng ông đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 13 giờ 7 phút ngày 21-02-2011 (tức ngày 19, tháng Giêng, năm Tân Mão), hưởng thọ 101 tuổi.

    Cố Võ sư Trần Tiến mang Võ Việt sang trời tây

    Posted at  tháng 11 20, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Sẵn vốn liếng võ cổ truyền Việt Nam cộng với tinh hoa võ thuật của các tông phái Trung Quốc và Nhật Bản… cùng kinh nghiệm dạy võ trong quân đội, lão võ sư Trần Tiến đã tinh lọc và đúc kết thành võ phái Thiếu Lâm nội gia võ thuật đạo Việt Nam và phổ biến tại Trung tâm TDTT quốc phòng 2, Nhà bảo tàng không quân phía Nam… Học trò của ông có cả người Mỹ, Pháp, Ý, Nga, Brazil…

    Võ sư Trần Tiến sinh ngày 04 tháng 02 năm 1911 (Tân Hợi) tại Cầu Vòng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Năm 1913, cụ Hoàng Hoa Thám qua đời, nghĩa quân tan rã; ông nội và bố mẹ Trần Tiến phải thay tên đổi họ, lẩn tránh về thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Trần Tiến được bố khai sinh lại: ngày 04.02.1913. Sinh trưởng trong gia đình có truyền thống võ nghệ, Trần Tiến được ông nội khai tâm võ học lúc 10 tuổi. Hai năm sau, ông Trần Tiến qua đời, Trần Tiến được thân phụ truyền dạy tiếp. Từ 15-20 tuổi, Trần Tiến học Thiếu Lâm với thầy Lý Giang Nam – quê ở Phúc Kiến (Trung Quốc), chạy sang Hải Phòng lánh nạn. Những năm sau, Trần Tiến tập Nhu thuật cùng ông Tanabe (Nhật), Judo với ông Karachi (Nhật) và luyện cả quyền Anh cùng võ sĩ Lafleur (người Pháp gốc Phi).Tuổi thanh niên sôi nổi lại biết võ nghệ, Trần Tiến đã tham gia nhiều cuộc so tài về roi và kiếm ở miền Bắc trong 6 tháng đầu năm 1936. Nhưng đến tháng 8.1936, Trần Tiến buộc lòng phải rời xa quê hương vào miền Nam do bị thực dân Pháp đe dọa bắt giam vì “xách động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự”. Đến Sài Gòn, Trần Tiến tạm dừng bước và luyện tập tại Cercle Sportif Saigonnais (nay là Cung văn hóa lao động Tp. HCM) và sau đó hoạt động võ thuật ở nhiều nơi…

    Năm 1943, Trần Tiến dạy thể dục tại đồn điền cao su Đất Đỏ (Plantation Terre Rouge de l’Indochine) ở Kompong Cham (Campuchia). Công nhân nơi đây phần lớn là người Việt từ miền Bắc sang. Trong thời gian làm việc, Trần Tiến đươc tên chủ đồn điền người Pháp “quý mến” vì đã giúp công nhân có sức khỏe để “làm việc suốt ngày đêm”. Thật lòng, lúc đó Trần Tiến chưa biết gì về sự bóc lột của bọn chủ nhân tư bản cũng như không hiểu mình đang bị lợi dụng. Mãi đến cuối năm 1945, trong một lần nghỉ phép, Trần Tiến trở ra Hà Nội, đau lòng trước cảnh nhân dân chết đói quá thê thảm và được Việt Minh kêu gọi, Trần Tiến đã tham gia bộ đội vào đầu năm 1946. Mây năm đầu, Trần Tiến huấn luyện võ thuật cho “Bộ đội đặc biệt tinh nhuệ” (năm 1967 cải danh là đặc công). Những năm sau, tuy đảm nhận nhiệm vụ khác nhưng Trần Tiến vẫn thường xuyên luyện võ và dạy võ cho mọi người khi có điều kiện. Sau 32 năm phục vụ trong quân ngũ, Trần Tiến nghỉ hưu vào năm 1978. Thế nhưng đến cuối năm 1981, Trần Tiến còn tự nguyện sang huấn luyện võ thuật định kỳ cho một số sĩ quan quân đội nhân dân cách mạng Campuchia và mãi đến 20.09.1989 mới về nghỉ hẳn tại Tp. HCM.

    Luyện khí công hàng ngày, sống thanh thản với tình thương yêu con người rõ rệt như vậy, ở tuổi xấp xỉ 100 (năm 2010), ông vẫn còn sáng suốt, khỏe mạnh và …đứng lớp môn khí công mở tại Nhà bảo tàng không quân phía Nam. Đập tay vào ngực thật mạnh, ông nói: “Đánh mạnh vậy nhưng tôi không đau. Tôi chết vì các cơ quan bị lão hóa thì có, chứ tôi không chết vì bệnh tật gì đâu”.

    Ông đã chuẩn bị trước cho thời khắc phải chia tay võ thuật, chia tay các môn đệ, bạn bè mà bước vào thế giới khác êm ả, bình yên hơn. “Hơn 80 năm sống với võ nghệ, trong đó có 32 năm phục vụ trong quân ngũ, nghỉ hưu với quân hàm đại tá, nhưng khi nhắm mắt, tôi không để nhà nước phải lo”. Vị đại tá về hưu đã đưa vào bản di chúc: thân của ông sẽ thành tro bụi để trở về với cát bụi, cô học trò trung tín nhất sẽ đọc điếu văn, tiền phúng điếu sẽ dành để giúp trẻ mồ côi, người nghèo khổ…

    Ngày 16-02-2011, do tuổi cao, sức yếu, ông bị ngã tại nhà riêng và dẫn đến chấn thương sọ não. Tuy được các bác sĩ ở bệnh viện Chợ Rẫy tận tình cứu chữa, nhưng ông đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 13 giờ 7 phút ngày 21-02-2011 (tức ngày 19, tháng Giêng, năm Tân Mão), hưởng thọ 101 tuổi.

    VÔ DƯỢC LIỆU PHÁP 

    Tùy sự phát triển của văn minh nhân loại, trình độ gánh vác của tinh thần và lao nhọc của thể xác cũng theo đó gia tăng, khiến bệnh tật ngày càng phức tạp khó trị. Cách trị liệu của y học hiện hữu chẳng thể giải quyết sự mâu thuẫn này. Đối với bệnh ung thư, sida và những bệnh nan y quái lạ do tinh thần căng thẳng gây nên, cảm thấy vô phương đối trị. Đứng trên lý luận triết học, từ gốc độ vật lý hóa học đến sinh lý giải phẫu để xem xét, nguyên nhân căn bản không thể nhận thức bản chất của bệnh tật là do cố chấp lý luận không gian ba chiều tự tạo chướng ngại. Câu hỏi cần thiết là tại sao những khu phát triển kinh tế với trình độ văn hóa càng cao thì càng xuất hiện những bệnh tật mới lạ và tỷ lệ phát bệnh càng nhiều càng khó trị ? Xu hướng xuất hiện bệnh văn minh ngày càng nhiều, chẳng thể giải thích.

    Do đó, vô dược liệu pháp ắt được người ta chú trọng, cuối cùng sẽ kiến lập một thể hệ y học mới.

    Theo hiện tượng mà chúng tôi đã biết, đối với những bệnh tật có tánh tiềm ẩn trong cơ thể và do tình dục phát triển quá mạnh, làm cho chức năng của tạng phủ gánh vác không nổi, cuộc sống thất thường, lâu ngày rồi sinh ra quái bệnh. những phương pháp đối trị những bệnh tật kể trên bằng vô dược liệu pháp vừa giản dị lại mau có công hiệu.

    Vô dược liệu pháp xưa nay các nước đều có, nếu sưu tập lại có thể thành một hệ thống cụ thể, nay diển tả theo từng môn loại, trong đó có cái thì có pháp mà vô lý, có cái thuộc về bí truyền, khó giải thích theo lý luận khoa học hiện đại; có cái thuộc bất khả tư nghì, thậm chí nghiêng về tính cách mê tín, các chuyên gia không dám tiếp xúc, e sợ ảnh hưởng đến sự nghiêm túc của kỹ thuật khoa học. Nhưng đối với những người mang bệnh đã lâu, bị y học chánh thống phán đoán cho là không còn hy vọng, chẳng có lối thoát, vì sự khát vọng cầu sống mà áp dụng vô dược liệu pháp lại được lành bệnh một cách kỳ lạ.

    Do đó chúng tôi quy nạp tất cả vô dược liệu pháp, phân ra thứ lớp và môn loại, thành 12 loại như sau :

    1.- KHÍ CÔNG LIỆU PHÁP

    Khí công liệu pháp là một điển hình của vô dược liệu pháp, hiện tượng khí công là hiện tượng hoạt động của tâm lý và sinh lý đặc biệt, khác hơn người thường. Kỹ thuật khí công là một thứ kỹ thuật phản nghịch quy luật thường, kỹ thuật này được biểu hiện ra dưới trạng thái công năng đặc biệt, là một thứ kỹ thuật mà người thường không có khả năng xử dụng, chỉ có những người đã thông qua tu luyện như kích phát, dẫn dụ, truyền thọ, cảm ứng mới có công năng để xử dụng, ví như xem xa, biết xa, chẩn đoán bằng xem thấu vật chất như X quang, cho đến ý niệm dời vật v.v…

    Khí công liệu pháp có sự tồn tại chơn thật, đã được giới khoa học công nhận, nên xếp loại lớp thứ nhất của vô dược liệu pháp.

    2.- LIỆU PHÁP CÔNG NĂNG ĐẶC BIỆT BẨM SINH

    Có người sinh ra tự có công năng đặc biệt, có thể gọi là " khí công sẵn có". Người có công năng đặc biệt giống như nhà khí công, cũng là tiềm năng của sinh mạng hiện ra công năng phản nghịch qui luật thường.

    Kỳ thật, cách đoán bệnh trị bệnh của người công năng đặc biệt rất đơn giản, khéo hơn nhà khí công và thần hiệu hơn, các thứ trị liệu khác không thể so sánh, cũng thuộc một thứ vô dược liệu pháp.

    3.- KINH LẠC LIỆU PHÁP

    Kinh lạc gồm châm cứu, điểm huyệt, xoa bóp v.v… Đông y đem kết hợp với khí công, thì công hiệu trị liệu được tăng cường nhiều hơn là chỉ dùng mỗi thứ riêng biệt.

    Kinh lạc chẳng thể thấy, chẳng thể mò, mà Đông y lại đặt ra một hệ thống cụ thể rõ ràng, vẽ ra biểu đồ đầy đủ mọi kinh lạc trong cơ thể, dù sinh lý giải phẫu tìm không ra nó, nhưng đại học y khoa phương Tây lại đặt ra khoa châm cứu, có bằng cấp tốt nghiệp được chính phủ công nhận, vậy có thể chứng tỏ người xưa dùng siêu ngũ giác quan để cảm nhận tin tức ẩn tánh trong cơ thể cũng là điều hợp lý.

    4.- TỊCH CỐC TUYỆT THỰC LIỆU PHÁP

    Nguồn năng lượng của con người là do thức ăn đưa vào bao tử và ruột, thông qua phản ứng hóa học sinh ra nhiệt lượng và dinh dưỡng cần thiết của cơ thể, nếu không cần lương thực bằng vật chất mà được trực tiếp thu hút năng lượng trong không gian để nuôi dưỡng cơ thể, chẳng cần ăn cơm thì phương tiện biết bao !

    Nếu thật chẳng cần ăn cơm thì chẳng sanh ra cái khổ "bệnh từ miệng vào", có sự kỳ lạ hơn là đang lúc tịch cốc, sinh lý của cơ thể có thể tự điều chỉnh quân bình mà lành bệnh và giữ sức khỏe.

    Ở Hàng Châu Trung Quốc, có một nhà khí công tên Trương Vinh Đường, truyền thọ kỹ thuật khí công tịch cốc rất kỳ lạ: Ông ấy chẳng cần trực tiếp phát công trị bệnh, bệnh nhân chẳng cần luyện công, có thể xuất hiện trạng thái tịch cốc, chẳng cần ăn uống mà khỏe mạnh và làm việc như thường, đồng thời các thứ bệnh kinh niên cũng được dần dần giảm bớt và tiêu trừ. Kỳ thật đối với phương pháp này cũng chẳng nên nghi ngờ, các nước tân tiến cũng có áp dụng tuyệt thực liệu pháp, đều có công hiệu, chỉ là hiện nay chưa được các học giả xem trọng, lại, đối với người tham ăn cũng không muốn chấp nhận, nghĩa là chưa đến bước đường cùng thì đa số bệnh nhân không chịu chọn cách nhịn đói để chữa bệnh !

    Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là sự phát triển theo qui luật biến hóa của sinh lý con người, sự phát triển từ phức tạp đến đơn giản, từ thức ăn hữu hình tiến đến thức ăn vô hình (năng lượng), dần dần phát triển tiến hóa, cuối cùng cắt tuyệt nguyên do phát bệnh và giải quyết vấn đề căn bản của sinh lão bệnh tử. Do đó, tịch cốc liệu pháp sẽ được chúng ta xem trọng.

    5.- Ý NIỆM LIỆU PHÁP

    Ý niệm là một thứ lực bằng năng lượng, khác với lực cơ điện, gán tên cho nó gọi là động lực ẩn tánh. Năng lượng ý niệm đã được nghiệm chứng có sự tồn tại khách quan, ở đây chúng tôi muốn nói về dùng ý niệm lực có thể trị bệnh, việc này đã là chuyện thường đối với nhà khí công.

    Trong thập niên 50, Liên Xô đã áp dụng phương pháp sanh đẻ không đau, cũng có hiệu quả: Bác sĩ dùng ý niệm cương quyết bảo người sản phụ rằng việc sinh con vốn chẳng đau đớn, sở dĩ cảm thấy đau là do tinh thần lo sợ mà ra. YÙ niệm này khi được sản phụ chấp nhận và đủ lòng tin phối hợp thì sẽ có công hiệu, ý niệm càng kiên cố càng được hiệu quả. Trường hợp nếu sản phụ cho đó chỉ là lời an ủi, do không tin mà cảm thấy hoang mang thì ý niệm lực phát ra chẳng được tiếp nhận, ắt phải thất bại. Theo đó có thể chứng tỏ sự hiệu ứng của ý niệm lực.

    Tất cả nhà khí công được hiệu ứng trong trị liệu đều liên quan đến sự hoạt động của ý niệm. Phương pháp của họ có ba tầng lớp: Kích phát ngoại khí, bắn ra ý niệm lực và điều khiển tin tức. Sau khi hiểu được cơ chế của ý niệm lực, người chẳng biết khí công vẫn có thể dùng ý niệm để chữa bệnh, chẳng phải chỉ có nhà khí công mới trị bệnh bằng ý niệm lực; như sự cầu nguyện của Tin lành, trì chú của Mật tông, tụng kinh của Đạo giáo, Phật giáo, cho đến hoạt động tế thần của những bộ lạc nguyên thủy ở Châu Phi v.v… trong lúc vô ý mà lợi dụng ý niệm lực cũng được phát huy hiệu ứng trị liệu.

    6.- TIN TỨC LIỆU PHÁP

    Nội dung của tin tức có hai: Một thứ có thể thấy nghe, như bùa chú, đồ hình, vật tin tức của Đạo gia, âm nhạc, chuông trống, tụng ki nh của nhà Phật, dùng các loại tin tức thông qua sự thấy nghe để thỏa mãn nhu cầu của con người. một thứ thuộc vô hình, chẳng thể thấy nghe, như làn sóng tin tức, quán tưởng sinh linh trên hành tinh, quán tâm linh của chính mình, thầm tưởng các thứ bí quyết và khẩu lệnh bằng mật mã.

    Người bệnh nếu có ý niệm tin tưởng mãnh liệt và có người hướng dẫn, giúp đở, hợp tác tăng cường, sẽ hình thành làn sóng tin tức, điều khiển ý niệm lực để trị bệnh, cũng được hiệu ứng mau chóng.

    Tin tức liệu pháp xưa nay đã lưu truyền mấy ngàn năm, các nước đều có, nhất là ở các bộ lạc và dân tộc thiểu số còn gặp nhiều hơn, nhưng họ thường bị người văn minh cho là mê tín, nhưng lòng tin của họ rất vững chắc, không sợ phê phán và ngăn cấm, sự thật hiện nay vẫn còn tồn tại.

    Tin tức liệu pháp có nhiều hình thức, như rửa tội, xoa đầu an ủi, ban phước, chiêu hồn, đuổi tà v.v…trong hoạt động tôn giáo, và tin tức thủy, tin tức nhạc, tin tức viết, tin tức quạt … của người có công năng đặc biệt và nhà khí công, có thể điều khiển sinh lý hoạt động của tin tức, siêu việt thời gian không gian để chẩn đoán, trị liệu bệnh nhân bất cứ xa gần.

    Nói tóm lại, ý niệm trị liệu mở mang phát triển, ắt sẽ dẫn ra tin tức trị liệu, nghĩa là thúc đẩy công năng của ý niệm trị liệu lên tầng lớp cao hơn.

    7.- NHẬP ĐỊNH TƯ DUY TRỊ LIỆU

    Tư duy trị liệu có bốn chữ yếu quyết: Buông, tịnh, hư, rỗng. Trước tiên buông xã thân tâm của chính mình, nếu đã làm được thì thân tâm có thể nghỉ ngơi đầy đủ, theo qui luật điều chỉnh sinh lý. Sau khi buông xã thân tâm rồi có thể nhập tịnh, do tịnh sanh huệ, do tịnh tăng trí, trạng thái tịnh có thể khiến sự rối loạn của thân tâm khôi phục trật tự quân bình mà đạt đến mục đích trị liệu.

    Thông thường trạng thái tịnh khó giữ được thời gian lâu dài, chân thật thâm sâu, thực hiện " tư duy trống rỗng" chẳng phải dễ, nên dùng một niệm thay trăm niệm; một niệm còn thì trăm niệm tiêu; một niệm này tức là niệm của tư duy siêu phàm. Nói "tư duy" chẳng phải lo nghĩ việc ăn mặc đi ở, danh lợi thành bại của thế gian, tư duy tức quán tưởng chơn lý của nhân sinh vũ trụ, giống như tham thoại đầu của Thiền tông.

    Tư duy sinh ra hiệu ứng, có thể điều chỉnh trạng thái sinh lý, khiến thân tâm tự nhiên quân bình, trong đó bao gồm dưỡng sinh, ngộ đạo, mở mang trí tuệ, gọi là minh tâm kiến tánh. Tư duy chú trọng nhập tịnh, giống như tịnh công của khí công, từ buông đến tịnh, đạt đến tánh không, quên mình, Lão Tử gọi là "vô vi"; vô vi mới có thể vô sở bất vi, quên mình thì quên hết phiền não thế gian, tâm linh sáng tỏ thì khí huyết điều hòa, bệnh từ đâu đến ?

    8.- THIỀN ĐỊNH LIỆU PHÁP

    Tư duy tiến vào cảnh giới tầng lớp cao hơn tức là tịnh lự, cũng gọi là "Thiền". Thiền tọa kéo dài, đạt đến trạng thái tối cao gọi là thiền định, được nhập thiền định sẽ siêu thoát tất cả lo âu tính toán của việc thế gian, gọi là "vô niệm" (chẳng có vọng niệm). Thiền định đến cảnh giới cao tột, không những có thể tiêu trừ bệnh tật, còn có thể không nhờ ăn uống mà duy trì sinh mạng lâu dài cho đến mấy trăm năm.

    Liệu pháp này rất khó thực dụng trong đời sống căng thẳng ngày nay, luôn cả tuyên truyền cũng khó được người ta tiếp nhận, nhưng nó thuộc về liệu pháp thượng hạng, người ham tu hành đa số đều hiểu lý này.

    9.- TÂM LÝ LIỆU PHÁP

    Pháp này xuất phát từ phương Tây, sau này theo khoa học hiện đại truyền sang phương Đông, Tâm lý học lại hình thành một môn học trong sách giáo khoa. Tâm lý liệu pháp luôn tồn tại nơi lâm sàng của bệnh viện, bác sĩ dùng an ủi liệu pháp, bảo đảm liệu pháp v.v… đều thuộc phạm vi của tâm lý liệu pháp. có người cho rằng bệnh nhân ung thư thường chết vì sợ hãi, chẳng phải vô lý: do tinh thần lo âu ảnh hưởng sức khỏe, điều đó ai cũng biết, bệnh nhân thiếu lòng tin thì bệnh khó trị, là dựa trên quan điểm Tâm lý học.

    Có người nói "khí công cũng là tâm lý liệu pháp" ấy là sai, phải nói là trong khí công liệu pháp có xử dụng tâm lý liệu pháp, nhưng chẳng đồng nhau. Tâm lý liệu pháp của phương Tây còn nông cạn, thuộc dạng bị động, họ chẳng thể dùng nhân tố tích cực trong cơ thể sinh mạng của bệnh nhân điều khiển tiềm năng sinh lý của họ. Nếu chỉ đơn thuần xử dụng tâm lý liệu pháp thường không đủ công hiệu, lại chẳng dễ gì được bệnh nhân tiếp nhận lâu dài, nếu bệnh nhân cho đó là sự thương xót an ủi thì mất linh nghiệm.

    Tâm lý liệu pháp phải kết hợp với các liệu pháp khác, khiến bệnh nhân tin tưởng tự sanh ra hiệu ứng của tâm lý họ, dùng ý chí lực tự điều chỉnh chính mình, như lời Đông y nói "thần lãnh hình, linh chủ mạng, khí thống huyết", từ đó thần an thì hình bất loạn, tâm bình thì thể tự hòa, nghĩa là do khả năng của chính mình thực hành tâm lý liệu pháp, mới trở thành một phương pháp kỳ diệu.

    10.- SÁM HỐI LIỆU PHÁP

    Trong cuộc đời của con người, đôi lúc vì làm ra việc xấu việc lầm rồi ghi nhớ hình ảnh trong tâm, sanh lòng hối hận tự trách chẳng thể giải tỏa, chôn vùi trong thâm tâm hình thành một khối độc hại, ảnh hưởng sức khỏe, gọi là tâm bệnh. do đó, tâm lý liệu pháp kể trên đã phát triển thêm một liệu pháp gọi là sám hối liệu pháp, cũng như người phương Tây thú tội trước Hồng y giáo chủ, cầu xin Thượng Đế xã tội; tín đồ của tôn giáo phương Đông cũng có sự hoạt động về sám hối, như tụng kinh bái sám để tiêu trừ bệnh ẩn mật đó, giải tỏa áp lực của tinh thần mà khôi phục lại sức khỏe.

    Sám hối liệu pháp vô hình để thấy, nhưng thường có công hiệu chơn thật. Muốn có hiệu ứng chơn thật, cần phải dùng lòng tin tưởng của mình, cầu trời làm chứng, thành kính sám hối, mới được công hiệu.

    11.- NGŨ HÀNH LIỆU PHÁP

    Sự hình thành của quả địa cầu là nhờ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, sự sinh tồn của người địa cầu cũng là nhờ nhân tố của kim mộc thủy hỏa thổ làm hữu cơ phối hợp mà thành. Khi sự phối hợp của ngũ hành mất qui luật thì sinh ra bệnh tật.

    Ngũ hành liệu pháp dùng mọi thứ riêng biệt để trị bệnh, cũng như kim dùng tiếng chuông để thay thế, mộc tức là ẩn khí của cây cối, thủy là nước suối, như tắm suối nóng, tắm nước tin tức, tắm hơi … hỏa là ánh sáng, là quang tuyến, như tắm nắng, trị liệu bằng tia sáng … thổ là tắm sình, tịnh dưỡng trong hang núi, đi chân không dẫm trên mặt đất, dạo chơi ngoại ô… Tóm lại, đối với ngũ hành liệu pháp, Đông y đã nghiên cứu ra một hệ thống cụ thể, có lý luận hoàn chỉnh, nếu biết cách xử dụng cũng rất công hiệu.

    12.- THÔI MIÊN LIỆU PHÁP

    Thôi miên liệu pháp đối với những bệnh hư tổn có nhiều công hiệu hơn, có người vì sinh kế mà lao tâm lao lực quá mức, lâu ngày thành bệnh, nếu được nghỉ ngơi đầy đủ để giảm bớt mỏi mệt, khôi phục sức khỏe, nhân công liệu pháp cũng là một trong những pháp đó. Khi vào được trạng thái thôi miên thì thể xác và tinh thần đều có dịp nghỉ ngơi và tự điều chỉnh quân bình, khi ngủ một giấc ngon lành thức dậy thì cảm thấy tinh thần khỏe mạnh.

    Người đủ điều kiện có thể tự mình thôi miên, khỏi nhờ nhà khí công và thầy thôi miên thì tiện hơn nhiều. Có người muốn tự thôi miên, đếm hơi thở trong tâm hoặc nghe tiếng tíc tắc của đồng hồ thường chẳng có công hiệu, ấy là vì ông chưa đủ khả năng thôi miên. Kỳ thật phương pháp thôi miên chẳng phải khó học, ai cũng có thể tự học thử, chủ yếu là luyện tập bốn chữ :Buông, tịnh, hư, rỗng đã đề cập trong điều " nhập tịnh tư duy liệu pháp" ở trên, người muốn học thôi miên cứ theo đó thực hành.

    Hiện nay Trung Quốc dùng cách thôi miên.

    Hoà thượng Thích Duy Lực

    Khí công liệu pháp - phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    VÔ DƯỢC LIỆU PHÁP 

    Tùy sự phát triển của văn minh nhân loại, trình độ gánh vác của tinh thần và lao nhọc của thể xác cũng theo đó gia tăng, khiến bệnh tật ngày càng phức tạp khó trị. Cách trị liệu của y học hiện hữu chẳng thể giải quyết sự mâu thuẫn này. Đối với bệnh ung thư, sida và những bệnh nan y quái lạ do tinh thần căng thẳng gây nên, cảm thấy vô phương đối trị. Đứng trên lý luận triết học, từ gốc độ vật lý hóa học đến sinh lý giải phẫu để xem xét, nguyên nhân căn bản không thể nhận thức bản chất của bệnh tật là do cố chấp lý luận không gian ba chiều tự tạo chướng ngại. Câu hỏi cần thiết là tại sao những khu phát triển kinh tế với trình độ văn hóa càng cao thì càng xuất hiện những bệnh tật mới lạ và tỷ lệ phát bệnh càng nhiều càng khó trị ? Xu hướng xuất hiện bệnh văn minh ngày càng nhiều, chẳng thể giải thích.

    Do đó, vô dược liệu pháp ắt được người ta chú trọng, cuối cùng sẽ kiến lập một thể hệ y học mới.

    Theo hiện tượng mà chúng tôi đã biết, đối với những bệnh tật có tánh tiềm ẩn trong cơ thể và do tình dục phát triển quá mạnh, làm cho chức năng của tạng phủ gánh vác không nổi, cuộc sống thất thường, lâu ngày rồi sinh ra quái bệnh. những phương pháp đối trị những bệnh tật kể trên bằng vô dược liệu pháp vừa giản dị lại mau có công hiệu.

    Vô dược liệu pháp xưa nay các nước đều có, nếu sưu tập lại có thể thành một hệ thống cụ thể, nay diển tả theo từng môn loại, trong đó có cái thì có pháp mà vô lý, có cái thuộc về bí truyền, khó giải thích theo lý luận khoa học hiện đại; có cái thuộc bất khả tư nghì, thậm chí nghiêng về tính cách mê tín, các chuyên gia không dám tiếp xúc, e sợ ảnh hưởng đến sự nghiêm túc của kỹ thuật khoa học. Nhưng đối với những người mang bệnh đã lâu, bị y học chánh thống phán đoán cho là không còn hy vọng, chẳng có lối thoát, vì sự khát vọng cầu sống mà áp dụng vô dược liệu pháp lại được lành bệnh một cách kỳ lạ.

    Do đó chúng tôi quy nạp tất cả vô dược liệu pháp, phân ra thứ lớp và môn loại, thành 12 loại như sau :

    1.- KHÍ CÔNG LIỆU PHÁP

    Khí công liệu pháp là một điển hình của vô dược liệu pháp, hiện tượng khí công là hiện tượng hoạt động của tâm lý và sinh lý đặc biệt, khác hơn người thường. Kỹ thuật khí công là một thứ kỹ thuật phản nghịch quy luật thường, kỹ thuật này được biểu hiện ra dưới trạng thái công năng đặc biệt, là một thứ kỹ thuật mà người thường không có khả năng xử dụng, chỉ có những người đã thông qua tu luyện như kích phát, dẫn dụ, truyền thọ, cảm ứng mới có công năng để xử dụng, ví như xem xa, biết xa, chẩn đoán bằng xem thấu vật chất như X quang, cho đến ý niệm dời vật v.v…

    Khí công liệu pháp có sự tồn tại chơn thật, đã được giới khoa học công nhận, nên xếp loại lớp thứ nhất của vô dược liệu pháp.

    2.- LIỆU PHÁP CÔNG NĂNG ĐẶC BIỆT BẨM SINH

    Có người sinh ra tự có công năng đặc biệt, có thể gọi là " khí công sẵn có". Người có công năng đặc biệt giống như nhà khí công, cũng là tiềm năng của sinh mạng hiện ra công năng phản nghịch qui luật thường.

    Kỳ thật, cách đoán bệnh trị bệnh của người công năng đặc biệt rất đơn giản, khéo hơn nhà khí công và thần hiệu hơn, các thứ trị liệu khác không thể so sánh, cũng thuộc một thứ vô dược liệu pháp.

    3.- KINH LẠC LIỆU PHÁP

    Kinh lạc gồm châm cứu, điểm huyệt, xoa bóp v.v… Đông y đem kết hợp với khí công, thì công hiệu trị liệu được tăng cường nhiều hơn là chỉ dùng mỗi thứ riêng biệt.

    Kinh lạc chẳng thể thấy, chẳng thể mò, mà Đông y lại đặt ra một hệ thống cụ thể rõ ràng, vẽ ra biểu đồ đầy đủ mọi kinh lạc trong cơ thể, dù sinh lý giải phẫu tìm không ra nó, nhưng đại học y khoa phương Tây lại đặt ra khoa châm cứu, có bằng cấp tốt nghiệp được chính phủ công nhận, vậy có thể chứng tỏ người xưa dùng siêu ngũ giác quan để cảm nhận tin tức ẩn tánh trong cơ thể cũng là điều hợp lý.

    4.- TỊCH CỐC TUYỆT THỰC LIỆU PHÁP

    Nguồn năng lượng của con người là do thức ăn đưa vào bao tử và ruột, thông qua phản ứng hóa học sinh ra nhiệt lượng và dinh dưỡng cần thiết của cơ thể, nếu không cần lương thực bằng vật chất mà được trực tiếp thu hút năng lượng trong không gian để nuôi dưỡng cơ thể, chẳng cần ăn cơm thì phương tiện biết bao !

    Nếu thật chẳng cần ăn cơm thì chẳng sanh ra cái khổ "bệnh từ miệng vào", có sự kỳ lạ hơn là đang lúc tịch cốc, sinh lý của cơ thể có thể tự điều chỉnh quân bình mà lành bệnh và giữ sức khỏe.

    Ở Hàng Châu Trung Quốc, có một nhà khí công tên Trương Vinh Đường, truyền thọ kỹ thuật khí công tịch cốc rất kỳ lạ: Ông ấy chẳng cần trực tiếp phát công trị bệnh, bệnh nhân chẳng cần luyện công, có thể xuất hiện trạng thái tịch cốc, chẳng cần ăn uống mà khỏe mạnh và làm việc như thường, đồng thời các thứ bệnh kinh niên cũng được dần dần giảm bớt và tiêu trừ. Kỳ thật đối với phương pháp này cũng chẳng nên nghi ngờ, các nước tân tiến cũng có áp dụng tuyệt thực liệu pháp, đều có công hiệu, chỉ là hiện nay chưa được các học giả xem trọng, lại, đối với người tham ăn cũng không muốn chấp nhận, nghĩa là chưa đến bước đường cùng thì đa số bệnh nhân không chịu chọn cách nhịn đói để chữa bệnh !

    Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là sự phát triển theo qui luật biến hóa của sinh lý con người, sự phát triển từ phức tạp đến đơn giản, từ thức ăn hữu hình tiến đến thức ăn vô hình (năng lượng), dần dần phát triển tiến hóa, cuối cùng cắt tuyệt nguyên do phát bệnh và giải quyết vấn đề căn bản của sinh lão bệnh tử. Do đó, tịch cốc liệu pháp sẽ được chúng ta xem trọng.

    5.- Ý NIỆM LIỆU PHÁP

    Ý niệm là một thứ lực bằng năng lượng, khác với lực cơ điện, gán tên cho nó gọi là động lực ẩn tánh. Năng lượng ý niệm đã được nghiệm chứng có sự tồn tại khách quan, ở đây chúng tôi muốn nói về dùng ý niệm lực có thể trị bệnh, việc này đã là chuyện thường đối với nhà khí công.

    Trong thập niên 50, Liên Xô đã áp dụng phương pháp sanh đẻ không đau, cũng có hiệu quả: Bác sĩ dùng ý niệm cương quyết bảo người sản phụ rằng việc sinh con vốn chẳng đau đớn, sở dĩ cảm thấy đau là do tinh thần lo sợ mà ra. YÙ niệm này khi được sản phụ chấp nhận và đủ lòng tin phối hợp thì sẽ có công hiệu, ý niệm càng kiên cố càng được hiệu quả. Trường hợp nếu sản phụ cho đó chỉ là lời an ủi, do không tin mà cảm thấy hoang mang thì ý niệm lực phát ra chẳng được tiếp nhận, ắt phải thất bại. Theo đó có thể chứng tỏ sự hiệu ứng của ý niệm lực.

    Tất cả nhà khí công được hiệu ứng trong trị liệu đều liên quan đến sự hoạt động của ý niệm. Phương pháp của họ có ba tầng lớp: Kích phát ngoại khí, bắn ra ý niệm lực và điều khiển tin tức. Sau khi hiểu được cơ chế của ý niệm lực, người chẳng biết khí công vẫn có thể dùng ý niệm để chữa bệnh, chẳng phải chỉ có nhà khí công mới trị bệnh bằng ý niệm lực; như sự cầu nguyện của Tin lành, trì chú của Mật tông, tụng kinh của Đạo giáo, Phật giáo, cho đến hoạt động tế thần của những bộ lạc nguyên thủy ở Châu Phi v.v… trong lúc vô ý mà lợi dụng ý niệm lực cũng được phát huy hiệu ứng trị liệu.

    6.- TIN TỨC LIỆU PHÁP

    Nội dung của tin tức có hai: Một thứ có thể thấy nghe, như bùa chú, đồ hình, vật tin tức của Đạo gia, âm nhạc, chuông trống, tụng ki nh của nhà Phật, dùng các loại tin tức thông qua sự thấy nghe để thỏa mãn nhu cầu của con người. một thứ thuộc vô hình, chẳng thể thấy nghe, như làn sóng tin tức, quán tưởng sinh linh trên hành tinh, quán tâm linh của chính mình, thầm tưởng các thứ bí quyết và khẩu lệnh bằng mật mã.

    Người bệnh nếu có ý niệm tin tưởng mãnh liệt và có người hướng dẫn, giúp đở, hợp tác tăng cường, sẽ hình thành làn sóng tin tức, điều khiển ý niệm lực để trị bệnh, cũng được hiệu ứng mau chóng.

    Tin tức liệu pháp xưa nay đã lưu truyền mấy ngàn năm, các nước đều có, nhất là ở các bộ lạc và dân tộc thiểu số còn gặp nhiều hơn, nhưng họ thường bị người văn minh cho là mê tín, nhưng lòng tin của họ rất vững chắc, không sợ phê phán và ngăn cấm, sự thật hiện nay vẫn còn tồn tại.

    Tin tức liệu pháp có nhiều hình thức, như rửa tội, xoa đầu an ủi, ban phước, chiêu hồn, đuổi tà v.v…trong hoạt động tôn giáo, và tin tức thủy, tin tức nhạc, tin tức viết, tin tức quạt … của người có công năng đặc biệt và nhà khí công, có thể điều khiển sinh lý hoạt động của tin tức, siêu việt thời gian không gian để chẩn đoán, trị liệu bệnh nhân bất cứ xa gần.

    Nói tóm lại, ý niệm trị liệu mở mang phát triển, ắt sẽ dẫn ra tin tức trị liệu, nghĩa là thúc đẩy công năng của ý niệm trị liệu lên tầng lớp cao hơn.

    7.- NHẬP ĐỊNH TƯ DUY TRỊ LIỆU

    Tư duy trị liệu có bốn chữ yếu quyết: Buông, tịnh, hư, rỗng. Trước tiên buông xã thân tâm của chính mình, nếu đã làm được thì thân tâm có thể nghỉ ngơi đầy đủ, theo qui luật điều chỉnh sinh lý. Sau khi buông xã thân tâm rồi có thể nhập tịnh, do tịnh sanh huệ, do tịnh tăng trí, trạng thái tịnh có thể khiến sự rối loạn của thân tâm khôi phục trật tự quân bình mà đạt đến mục đích trị liệu.

    Thông thường trạng thái tịnh khó giữ được thời gian lâu dài, chân thật thâm sâu, thực hiện " tư duy trống rỗng" chẳng phải dễ, nên dùng một niệm thay trăm niệm; một niệm còn thì trăm niệm tiêu; một niệm này tức là niệm của tư duy siêu phàm. Nói "tư duy" chẳng phải lo nghĩ việc ăn mặc đi ở, danh lợi thành bại của thế gian, tư duy tức quán tưởng chơn lý của nhân sinh vũ trụ, giống như tham thoại đầu của Thiền tông.

    Tư duy sinh ra hiệu ứng, có thể điều chỉnh trạng thái sinh lý, khiến thân tâm tự nhiên quân bình, trong đó bao gồm dưỡng sinh, ngộ đạo, mở mang trí tuệ, gọi là minh tâm kiến tánh. Tư duy chú trọng nhập tịnh, giống như tịnh công của khí công, từ buông đến tịnh, đạt đến tánh không, quên mình, Lão Tử gọi là "vô vi"; vô vi mới có thể vô sở bất vi, quên mình thì quên hết phiền não thế gian, tâm linh sáng tỏ thì khí huyết điều hòa, bệnh từ đâu đến ?

    8.- THIỀN ĐỊNH LIỆU PHÁP

    Tư duy tiến vào cảnh giới tầng lớp cao hơn tức là tịnh lự, cũng gọi là "Thiền". Thiền tọa kéo dài, đạt đến trạng thái tối cao gọi là thiền định, được nhập thiền định sẽ siêu thoát tất cả lo âu tính toán của việc thế gian, gọi là "vô niệm" (chẳng có vọng niệm). Thiền định đến cảnh giới cao tột, không những có thể tiêu trừ bệnh tật, còn có thể không nhờ ăn uống mà duy trì sinh mạng lâu dài cho đến mấy trăm năm.

    Liệu pháp này rất khó thực dụng trong đời sống căng thẳng ngày nay, luôn cả tuyên truyền cũng khó được người ta tiếp nhận, nhưng nó thuộc về liệu pháp thượng hạng, người ham tu hành đa số đều hiểu lý này.

    9.- TÂM LÝ LIỆU PHÁP

    Pháp này xuất phát từ phương Tây, sau này theo khoa học hiện đại truyền sang phương Đông, Tâm lý học lại hình thành một môn học trong sách giáo khoa. Tâm lý liệu pháp luôn tồn tại nơi lâm sàng của bệnh viện, bác sĩ dùng an ủi liệu pháp, bảo đảm liệu pháp v.v… đều thuộc phạm vi của tâm lý liệu pháp. có người cho rằng bệnh nhân ung thư thường chết vì sợ hãi, chẳng phải vô lý: do tinh thần lo âu ảnh hưởng sức khỏe, điều đó ai cũng biết, bệnh nhân thiếu lòng tin thì bệnh khó trị, là dựa trên quan điểm Tâm lý học.

    Có người nói "khí công cũng là tâm lý liệu pháp" ấy là sai, phải nói là trong khí công liệu pháp có xử dụng tâm lý liệu pháp, nhưng chẳng đồng nhau. Tâm lý liệu pháp của phương Tây còn nông cạn, thuộc dạng bị động, họ chẳng thể dùng nhân tố tích cực trong cơ thể sinh mạng của bệnh nhân điều khiển tiềm năng sinh lý của họ. Nếu chỉ đơn thuần xử dụng tâm lý liệu pháp thường không đủ công hiệu, lại chẳng dễ gì được bệnh nhân tiếp nhận lâu dài, nếu bệnh nhân cho đó là sự thương xót an ủi thì mất linh nghiệm.

    Tâm lý liệu pháp phải kết hợp với các liệu pháp khác, khiến bệnh nhân tin tưởng tự sanh ra hiệu ứng của tâm lý họ, dùng ý chí lực tự điều chỉnh chính mình, như lời Đông y nói "thần lãnh hình, linh chủ mạng, khí thống huyết", từ đó thần an thì hình bất loạn, tâm bình thì thể tự hòa, nghĩa là do khả năng của chính mình thực hành tâm lý liệu pháp, mới trở thành một phương pháp kỳ diệu.

    10.- SÁM HỐI LIỆU PHÁP

    Trong cuộc đời của con người, đôi lúc vì làm ra việc xấu việc lầm rồi ghi nhớ hình ảnh trong tâm, sanh lòng hối hận tự trách chẳng thể giải tỏa, chôn vùi trong thâm tâm hình thành một khối độc hại, ảnh hưởng sức khỏe, gọi là tâm bệnh. do đó, tâm lý liệu pháp kể trên đã phát triển thêm một liệu pháp gọi là sám hối liệu pháp, cũng như người phương Tây thú tội trước Hồng y giáo chủ, cầu xin Thượng Đế xã tội; tín đồ của tôn giáo phương Đông cũng có sự hoạt động về sám hối, như tụng kinh bái sám để tiêu trừ bệnh ẩn mật đó, giải tỏa áp lực của tinh thần mà khôi phục lại sức khỏe.

    Sám hối liệu pháp vô hình để thấy, nhưng thường có công hiệu chơn thật. Muốn có hiệu ứng chơn thật, cần phải dùng lòng tin tưởng của mình, cầu trời làm chứng, thành kính sám hối, mới được công hiệu.

    11.- NGŨ HÀNH LIỆU PHÁP

    Sự hình thành của quả địa cầu là nhờ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, sự sinh tồn của người địa cầu cũng là nhờ nhân tố của kim mộc thủy hỏa thổ làm hữu cơ phối hợp mà thành. Khi sự phối hợp của ngũ hành mất qui luật thì sinh ra bệnh tật.

    Ngũ hành liệu pháp dùng mọi thứ riêng biệt để trị bệnh, cũng như kim dùng tiếng chuông để thay thế, mộc tức là ẩn khí của cây cối, thủy là nước suối, như tắm suối nóng, tắm nước tin tức, tắm hơi … hỏa là ánh sáng, là quang tuyến, như tắm nắng, trị liệu bằng tia sáng … thổ là tắm sình, tịnh dưỡng trong hang núi, đi chân không dẫm trên mặt đất, dạo chơi ngoại ô… Tóm lại, đối với ngũ hành liệu pháp, Đông y đã nghiên cứu ra một hệ thống cụ thể, có lý luận hoàn chỉnh, nếu biết cách xử dụng cũng rất công hiệu.

    12.- THÔI MIÊN LIỆU PHÁP

    Thôi miên liệu pháp đối với những bệnh hư tổn có nhiều công hiệu hơn, có người vì sinh kế mà lao tâm lao lực quá mức, lâu ngày thành bệnh, nếu được nghỉ ngơi đầy đủ để giảm bớt mỏi mệt, khôi phục sức khỏe, nhân công liệu pháp cũng là một trong những pháp đó. Khi vào được trạng thái thôi miên thì thể xác và tinh thần đều có dịp nghỉ ngơi và tự điều chỉnh quân bình, khi ngủ một giấc ngon lành thức dậy thì cảm thấy tinh thần khỏe mạnh.

    Người đủ điều kiện có thể tự mình thôi miên, khỏi nhờ nhà khí công và thầy thôi miên thì tiện hơn nhiều. Có người muốn tự thôi miên, đếm hơi thở trong tâm hoặc nghe tiếng tíc tắc của đồng hồ thường chẳng có công hiệu, ấy là vì ông chưa đủ khả năng thôi miên. Kỳ thật phương pháp thôi miên chẳng phải khó học, ai cũng có thể tự học thử, chủ yếu là luyện tập bốn chữ :Buông, tịnh, hư, rỗng đã đề cập trong điều " nhập tịnh tư duy liệu pháp" ở trên, người muốn học thôi miên cứ theo đó thực hành.

    Hiện nay Trung Quốc dùng cách thôi miên.

    Hoà thượng Thích Duy Lực

    Sự sống bao gồm hoạt động và nghỉ ngơi. Các xúc động tâm lý, những căng thẳng thần kinh sẽ gây cản trở sự hoạt động và nghỉ ngơi. Không phát huy được khả năng, bền bỉ dẻo dai, không sáng suốt nhận định, đều do những căng thẳng, những xúc động gây ra. Hoạt động như vậy khó đạt được hiệu quả. Thân xác không hoạt động, trong lòng lại đầy những tính toán lo âu, là nghỉ ngơi không trọn vẹn, sinh lực chẳng được phục hồi. Hoạt động nghỉ ngơi như vậy, cuộc sống của ta khó có an vui hạnh phúc. Qua thực nghiệm, người xưa đã tìm ra và khoa học ngày nay đã công nhận : Với sự tập luyện khí công, nhịp tim sẽ điều hòa để bộ máy tâm sinh lý được cân bằng ồn định. Chỉ trong căn bằng ổn định, sự hoạt động nghỉ ngơi mới trọn vẹn.

    Khí công gồm hai phần : Tĩnh luyện và Động luyện.

    Khí công tĩnh luyện có thể tập ở hai tư thế : Ngồi hoặc nằm.

    Ở tư thế ngồi, ta ngồi xếp bằng hoặc cài chéo hai chân vào nhau, hai bàn tay úp xuống đùi, cánh tay ép vào lườn, xương sống thẳng để khí huyết dễ luân lưu, mắt nhắm chú tâm vào tam linh là vùng giữa hai chân mày, đổi chiều với não, đó là vùng suy nghĩ của não bộ. Chú tâm vào phần này khi luỵên khí, lâu ngày ta sẽ làm chủ được tư tưởng của mình và có khả năng tập trung tư tưởng cao.

    Ở tư thế nằm, ta nằm ngửa, hai tay để xuôi theo thân, bàn tay úp, nhắm mắt, chú tâm vào vùng rốn. Chú tâm vào vùng này khi luyện khí, huyết sẽ dồn xuống bụng làm thần kinh bớt căng thẳng. Nhờ vậy, ta dễ đi vào giấc ngủ và có được giấc ngủ êm sâu.

    Tập khí ở hai tư thế này, mắt phải nhắm lại, môi khép kín, lưỡi co lên hàm trên để kích thích sự hoạt động của các tuyến nước miếng, là phương dược trong cơ thể con người, giúp chặn bớt các chứng sưng gan, tim lớn và ngăn chặn được các chứng loét bao tử, thực quản.

    Khí công động luyện : Nhu khí công quyền.

    Thí dụ : bài Nhu Khí công quyền với một lối thở hai thì của Việt Võ Đạo.

    Như tên gọi đây là bài tập kết hợp hơi thở với các động tác co duỗi của tay, di động của chân với sự làm mềm tối đa các cơ bắp khi vận động. Nếu dày công tập luyện sẽ có khả năng làm chủ tâm ý, biết giảm bớt căng thẳng, từ đó sẽ có sự sáng suốt, bền bỉ dẻo dai khi hoạt động, khi làm việc tay chân hoặc trí óc. Lúc luyện tập các bài nhu khí, phải chú tâm vào các động tác để cảm nhận được sự co duỗi của cơ bắp, môi khép, lưỡi để tự nhiên, hít thở bằng mũi, hơi thở ăn nhịp với động tác, chú ý làm mềm các cơ vùng mặt và cơ bàn tay để có sự nhẹ nhàng thư thái trong tâm khi vận động.





    Tập khí công là tập thở bằng bụng : Hít vào phình bụng lên, thở ra hóp bụng lại. Hít thở bằng mũi. Hơi dài ngắn tùy sức, nhưng phải êm nhẹ, thời gian vào ra của hơi thở bằng nhau. Đây là phương pháp khí công tu dưỡng nên ngoài các cơ bắp giúp vùng bụng phình lên, hóp lại, giúp tay chân chuyển động các cơ bắp khác, nhất là các cơ bắp vùng mặt và cơ bàn tay phải làm mềm tối đa.Để đáp ứng như cầu hoạt động nghỉ ngơi của con người, như đã trình bày, khí công gồm hai phần : Động luyện và tĩnh luyện. Dù động hay tĩnh đều có thể cương hoạt nhu luyện. Khí công cương luyện là hít thở kết hợp sự căng cứng toàn bộ hay từng phần cơ bắp. Và sự tập trung cao độ của thần kinh vào vùng cơ bắp căng cứng. Đó là dùng lực để vận khí và phương pháp này tạo sức mạnh về thần chất cho người tập luyện. Khí công nhu luyện là sự hít thở đi đôi với sự làm mềm các cơ bắp, tạo êm dịu cho hệ thần kinh. Các cơ bắp khi ở trạng thái mềm tối đa, cơ thể con người được nghỉ ngơi trọn vẹn và sinh lực được mau chống phục hồi. Khí công nhu luyện giúp người tập có một nhịp tim điều hòa, một hệ thần kinh ổn định, sự điềm tĩnh nhu hòa sẽ đến. Đó chính là sức mạnh tinh thần.

    Khi luyện khí phải biết kết hợp giữa động lẫn tĩnh, cả cương lẫn nhu. Tuy nhiên, nếp sống ngày nay đã khiến mọi người phải quá hoạt động, gây ra quá nhiều sự căng thẳng về thần kinh nên cách tập thích hợp nhất cho mọi người là dù động hay tĩnh nên nhu luyện nhiều hơn để tái lập căng bằng.

    Có người nhờ luyện khí đã có những khả năng phi thường. Đó là trường hợp ít có. Những người này phải căn cốt đặc biệt còn phải trải qua một thời gian dài dồn toàn bộ tâm sức để luyện tập với các phương pháp vượt khỏi sự chịu đựng thông thường của mọi người. Cũng có những khả năng phi thường tự nhiên xuất hiện ở một số người. Khả năng siêu nhiên chính là tiềm năng của con người, có thể do luyện tập, cũng có thể tự nhiên xuất hiện. Đây không phải là hiện tượng phổ biến.

    Có nhiều lối luyện khí :
    Hai thì : Nạp (hít vào), Xả (thở ra)
    Ba thì : Nạp, Vận (nín thở lúc khí đầy phổi, đẩy khí đi toàn châu thân), Xả.
    Bốn thì : Nạp, Vận, Xả, Bế (ngưng thở lúc đã thở hết khí trời ra).

    Các lối thở này, với sự điều chỉnh hơi thở ra vô, êm nhẹ, từ từ, lâu dài, giúp người tập có khả năng điều chỉnh được nhịp tim, chịu đựng được các tình trạng thiếu oxy hoặc tăng nồng độ cacbonic trong máu, từ đó bắt buộc hệ thần kinh phải tự điều chỉnh cho thích nghi, tạo sức đề kháng để cơ thể có thể chống lại mọi thay đổi đột ngột của môi trường.

    Thở hai thì là lối thở căn bản của mọi phương pháp luyện khí. Tập thở hai thì, người tập sẽ làm quen dần với trạng thái thiếu oxy và dư carbonic trong máu ở mức độ vừa phải không đột ngột.

    Khi tập thở, hơi thở ra vô dài ngắn, tùy theo sức chịu đựng của mỗi người. Kiên nhẫn luyện tập, hơi thở sẽ trở nên êm nhẹ, lâu dài, thong thả, nhịp thở ra vô sẽ đều nhau, nhịp tim được điều hòa, hoạt động của bộ máy tâm sinh lý sẽ cân bằng ổn định. Sự cân bằng này được biểu lộ qua tác phong điềm tĩnh nhu hòa, vô cầu.
    Khi đã có sự cân bằng này rồi, nếu muốn, ta có thể luyện qua lối thở ba thì, bốn thì.

    Chỉ trong hoạt động, ta phải nín thở lấy sức, còn bình thường, lối thở hai thì là lối thở tự nhiên của mọi người. Ai cũng hít thở, nhưng nếu không luyện khí, sự hít thở sẽ không hoàn chỉnh. Sự hít thở gọi là hoàn chỉnh khi cả lúc động và tĩnh hơi thở ra vô lúc nào cũng nhẹ êm, sâu dài, thong thả. Luyện khí ở tư thế như tĩnh, ta dễ chuyên chú vào khí để hoàn thiện, dễ làm chủ hơi thở của chính mình. Nhờ tập nhu khí ở tư thế tĩnh, ta sẽ dễ phát huy được động năng của các bào nhu khí, cương khí đối với bản thân khi luyện tập. Đó là sự kết hợp giữa động và tĩnh trong luyện khí. Nếu chuyên luyện nhu khí sự trẻ trung tươi mát, sự bền bỉ dẽo dai, sự hồn nhiên vô tư, sự hiền hòa từ tốn, sự bao dung độ lượng sẽ đến với ta. Đấy chính là cái đẹp bên ngoài của tinh thần Nhân Võ Đạo.

    Vận động với nhịp độ nhanh, cường độ mạnh, cần tăng cường hô hấp nên đôi khi phải thở ra bằng miệng mới kịp. Tuy nhiên, tốt nhất là nên hít thở bằng mũi .

    Có những lý do sau :

    - Mũi là bộ máy điều hòa không khí của cơ thể. Với những nếp gấp ở hốc mũi, không khí hít vào được tẩy bụi, hấp nóng, có khi lại được tiếp hơi ấm để đủ điều kiện cần thiết trước khi vào phổi. Hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng, mũi do hấp nóng không khí khi hít vào, nhiệt độ bị giảm dần, sẽ bị lạnh. Điều này có thể gây sổ mũi hoặc sưng cuống phổi. Nếu thở ra bằng mũi hơi thở sẽ hoàn toàn cấp nhiệt cho mũi và như thế lại giúp nó làm tròn vai trò điều hòa không khí hít vào.

    - Mũi có vai trò điều tiết lưu lượng không khí hít vào thở ra và làm giảm tốc quá trình hô hấp. Hít vào bằng miệng, lẽ tất nhiên là ta đưa nhanh chóng vào phổi một lượng lớn không khí và như thế dễ làm tổn thương nhiều phế nang tế nhị. Vả lại, nên hiểu rằng khi hít vào, phổi vừa hấp thụ cả không khí lẫn máu theo một tỉ lệ nhất định để giữ cân bằng cho môi trường bên trong. Thở bằng miệng thường làm thay đổi tỷ lệ đó và làm mất cân bằng cơ chế hô hấp vốn rất tinh tế. Thở bằng miệng chỉ áp dụng trong những trường hợp khẩn cấp do cơ thể đòi hỏi.

    - Những nếp gấp trong mũi được phủ đầy đầu dây thần kinh có mắc nối với nhiều cơ quan và các trọng tâm thần kinh. Gặp người bị ngất, cho họ ngửi ammoniac hoặc giấm chua, họ có thể tỉnh ngay. Cơ thể của con người cũng cần được kích thích bởi luồng không khí qua mũi.

    Trong cơ thể con người, mạch là những ống dẫn huyết từ tim chạy khắp châu thân và ngược lại. Theo Đông y, ngoài mạch máu ra còn có hệ thống kinh lạc. Kinh là những đường dây nối liền các huyệt trong châu thân theo một đường dọc và lạc là những đường nối liền từ kinh nọ sang kinh kia, chạy theo hàng ngang. Có hai kinh chính là Nhâm Kinh và Đốc Kinh. Nhâm Kinh là đường kinh nối liền từ chỗ hõm ở môi dưới chạy thẳng xuống, qua lằn chỉ ở dịch hoàn đến hậu môn. Đốc Kinh là đường kinh chạy từ đỉnh xương cùng đến đỉnh xương đầu trỏ ra trước mặt vượt qua rãnh dưới đầu mũi tới dưới răng hàm trên. Khi luyện khí, hai môi nên khép lại cho Nhâm Kinh và Đốc Kinh được nối liền với nhau, để khí dễ luân lưu. Ngoài ra, lưỡi co lên, chạm vòm họng để kích thích sự hoạt động của các tuyến nước bọt. Theo y học thì nước miếng là phương thần dược trong cơ thể con người có thể trị các chứng sưng gan : Tim lớn, làm thần kinh mát dịu, nhất là những chứng lở loét bao tử, thực quản. Chúng ta cũng thường thấy rằng một cái dầm xướng cá chích vào chân răng, lưỡi miệng, chỉ trong hai, ba tiếng đồng hồ không nghe đau nhức nữa. Nếu da thịt bị như thế, ít nhất hai ba hôm mới hết, có khi lại trở thành mụn nữa.

    Tập khí công là tập thở bằng bụng dưới (hít vào, phình bụng - thở ra, hóp bụng) để kích thích vùng đan điền. Đông Y quan niện đó là nơi tích tụ sinh lực của con người và khoa học ngày nay coi đó là vùng trọng tâm của cơ thể. Khi kích thích đúng mức, sinh lực sẽ được phát huy. Nói cách khác, khi trọng tâm con người, do tập luyện trở về vị trí đan điền, tâm sinh lý được cân bằng. Trong trạng thái cân bằng, sinh lực sẽ được phát huy toàn vẹn. Nếu đã nắm vững hệ thống kinh mạch, ta có thể dùng tư tưởng để dẫn khí.

    Tuy nhiên, dùng ý dẫn khí sẽ sinh tâm lý nóng vội vì muốn mau chóng thành công, như vậy dễ đi đến tình trạng thái quá, dễ gây căng thẳng cho hệ thần kinh, hệ tim mạch bị loạn nhịp. Sinh lý bị xáo trộn do luyện khí, người xưa gọi là “tẩu hỏa nhập mà”. Cách tập an toàn nhất cho tất cả mọi người là tập với lòng thanh thản, vô cầu, không dùng ý dẫn khí, chỉ thư giãn tối đa, tùy cơ thể tập, chú tâm vào từng vùng nào đó. Thí dụ : Tập khí ở tư thế tĩnh tọa, chú tâm vào vùng giữa hai chân mày, ở tư thế nằm, chú tâm vào vùng rốn. Khi thở đúng mức, khai thông được hai kinh Nhâm, Đốc, luồng khí sẽ chu lưu khắp cơ thể theo hệ thống kinh lạc. Khi hít thở, dưỡng khí qua phế nang được máu hấp thụ, theo động mạch đi đến các cơ quan. Khí di chuyển theo đường kinh lạc là một thứ khí khác; người xưa gọi là : Chân khí, Tiên thiên khí, Khí thái hư… Hấp thụ được luồng khí này, con người sẽ phát triển được các phẩm chất thanh cao, hướng thượng. Người tập có khả năng điều khí tốt, khai thông được Nhâm, Đốc Kinh, thì các bài nhu khí, cương khí sẽ giúp thúc đẩy dẫn khí ra tứ chi. Khai thông kinh lạc là bước đầu của lĩnh vực khí công.

    Tập khí công phải biết phối hợp giữa động với tĩnh, và đó là nguyên lý Cương Nhu Phối Triển của Vovinam- Việt Võ Đạo

    V.S LÊ SÁNG

    Luyện tập khí công - tuyệt kỹ kungfu võ thuật khí công thực hành

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Sự sống bao gồm hoạt động và nghỉ ngơi. Các xúc động tâm lý, những căng thẳng thần kinh sẽ gây cản trở sự hoạt động và nghỉ ngơi. Không phát huy được khả năng, bền bỉ dẻo dai, không sáng suốt nhận định, đều do những căng thẳng, những xúc động gây ra. Hoạt động như vậy khó đạt được hiệu quả. Thân xác không hoạt động, trong lòng lại đầy những tính toán lo âu, là nghỉ ngơi không trọn vẹn, sinh lực chẳng được phục hồi. Hoạt động nghỉ ngơi như vậy, cuộc sống của ta khó có an vui hạnh phúc. Qua thực nghiệm, người xưa đã tìm ra và khoa học ngày nay đã công nhận : Với sự tập luyện khí công, nhịp tim sẽ điều hòa để bộ máy tâm sinh lý được cân bằng ồn định. Chỉ trong căn bằng ổn định, sự hoạt động nghỉ ngơi mới trọn vẹn.

    Khí công gồm hai phần : Tĩnh luyện và Động luyện.

    Khí công tĩnh luyện có thể tập ở hai tư thế : Ngồi hoặc nằm.

    Ở tư thế ngồi, ta ngồi xếp bằng hoặc cài chéo hai chân vào nhau, hai bàn tay úp xuống đùi, cánh tay ép vào lườn, xương sống thẳng để khí huyết dễ luân lưu, mắt nhắm chú tâm vào tam linh là vùng giữa hai chân mày, đổi chiều với não, đó là vùng suy nghĩ của não bộ. Chú tâm vào phần này khi luỵên khí, lâu ngày ta sẽ làm chủ được tư tưởng của mình và có khả năng tập trung tư tưởng cao.

    Ở tư thế nằm, ta nằm ngửa, hai tay để xuôi theo thân, bàn tay úp, nhắm mắt, chú tâm vào vùng rốn. Chú tâm vào vùng này khi luyện khí, huyết sẽ dồn xuống bụng làm thần kinh bớt căng thẳng. Nhờ vậy, ta dễ đi vào giấc ngủ và có được giấc ngủ êm sâu.

    Tập khí ở hai tư thế này, mắt phải nhắm lại, môi khép kín, lưỡi co lên hàm trên để kích thích sự hoạt động của các tuyến nước miếng, là phương dược trong cơ thể con người, giúp chặn bớt các chứng sưng gan, tim lớn và ngăn chặn được các chứng loét bao tử, thực quản.

    Khí công động luyện : Nhu khí công quyền.

    Thí dụ : bài Nhu Khí công quyền với một lối thở hai thì của Việt Võ Đạo.

    Như tên gọi đây là bài tập kết hợp hơi thở với các động tác co duỗi của tay, di động của chân với sự làm mềm tối đa các cơ bắp khi vận động. Nếu dày công tập luyện sẽ có khả năng làm chủ tâm ý, biết giảm bớt căng thẳng, từ đó sẽ có sự sáng suốt, bền bỉ dẻo dai khi hoạt động, khi làm việc tay chân hoặc trí óc. Lúc luyện tập các bài nhu khí, phải chú tâm vào các động tác để cảm nhận được sự co duỗi của cơ bắp, môi khép, lưỡi để tự nhiên, hít thở bằng mũi, hơi thở ăn nhịp với động tác, chú ý làm mềm các cơ vùng mặt và cơ bàn tay để có sự nhẹ nhàng thư thái trong tâm khi vận động.





    Tập khí công là tập thở bằng bụng : Hít vào phình bụng lên, thở ra hóp bụng lại. Hít thở bằng mũi. Hơi dài ngắn tùy sức, nhưng phải êm nhẹ, thời gian vào ra của hơi thở bằng nhau. Đây là phương pháp khí công tu dưỡng nên ngoài các cơ bắp giúp vùng bụng phình lên, hóp lại, giúp tay chân chuyển động các cơ bắp khác, nhất là các cơ bắp vùng mặt và cơ bàn tay phải làm mềm tối đa.Để đáp ứng như cầu hoạt động nghỉ ngơi của con người, như đã trình bày, khí công gồm hai phần : Động luyện và tĩnh luyện. Dù động hay tĩnh đều có thể cương hoạt nhu luyện. Khí công cương luyện là hít thở kết hợp sự căng cứng toàn bộ hay từng phần cơ bắp. Và sự tập trung cao độ của thần kinh vào vùng cơ bắp căng cứng. Đó là dùng lực để vận khí và phương pháp này tạo sức mạnh về thần chất cho người tập luyện. Khí công nhu luyện là sự hít thở đi đôi với sự làm mềm các cơ bắp, tạo êm dịu cho hệ thần kinh. Các cơ bắp khi ở trạng thái mềm tối đa, cơ thể con người được nghỉ ngơi trọn vẹn và sinh lực được mau chống phục hồi. Khí công nhu luyện giúp người tập có một nhịp tim điều hòa, một hệ thần kinh ổn định, sự điềm tĩnh nhu hòa sẽ đến. Đó chính là sức mạnh tinh thần.

    Khi luyện khí phải biết kết hợp giữa động lẫn tĩnh, cả cương lẫn nhu. Tuy nhiên, nếp sống ngày nay đã khiến mọi người phải quá hoạt động, gây ra quá nhiều sự căng thẳng về thần kinh nên cách tập thích hợp nhất cho mọi người là dù động hay tĩnh nên nhu luyện nhiều hơn để tái lập căng bằng.

    Có người nhờ luyện khí đã có những khả năng phi thường. Đó là trường hợp ít có. Những người này phải căn cốt đặc biệt còn phải trải qua một thời gian dài dồn toàn bộ tâm sức để luyện tập với các phương pháp vượt khỏi sự chịu đựng thông thường của mọi người. Cũng có những khả năng phi thường tự nhiên xuất hiện ở một số người. Khả năng siêu nhiên chính là tiềm năng của con người, có thể do luyện tập, cũng có thể tự nhiên xuất hiện. Đây không phải là hiện tượng phổ biến.

    Có nhiều lối luyện khí :
    Hai thì : Nạp (hít vào), Xả (thở ra)
    Ba thì : Nạp, Vận (nín thở lúc khí đầy phổi, đẩy khí đi toàn châu thân), Xả.
    Bốn thì : Nạp, Vận, Xả, Bế (ngưng thở lúc đã thở hết khí trời ra).

    Các lối thở này, với sự điều chỉnh hơi thở ra vô, êm nhẹ, từ từ, lâu dài, giúp người tập có khả năng điều chỉnh được nhịp tim, chịu đựng được các tình trạng thiếu oxy hoặc tăng nồng độ cacbonic trong máu, từ đó bắt buộc hệ thần kinh phải tự điều chỉnh cho thích nghi, tạo sức đề kháng để cơ thể có thể chống lại mọi thay đổi đột ngột của môi trường.

    Thở hai thì là lối thở căn bản của mọi phương pháp luyện khí. Tập thở hai thì, người tập sẽ làm quen dần với trạng thái thiếu oxy và dư carbonic trong máu ở mức độ vừa phải không đột ngột.

    Khi tập thở, hơi thở ra vô dài ngắn, tùy theo sức chịu đựng của mỗi người. Kiên nhẫn luyện tập, hơi thở sẽ trở nên êm nhẹ, lâu dài, thong thả, nhịp thở ra vô sẽ đều nhau, nhịp tim được điều hòa, hoạt động của bộ máy tâm sinh lý sẽ cân bằng ổn định. Sự cân bằng này được biểu lộ qua tác phong điềm tĩnh nhu hòa, vô cầu.
    Khi đã có sự cân bằng này rồi, nếu muốn, ta có thể luyện qua lối thở ba thì, bốn thì.

    Chỉ trong hoạt động, ta phải nín thở lấy sức, còn bình thường, lối thở hai thì là lối thở tự nhiên của mọi người. Ai cũng hít thở, nhưng nếu không luyện khí, sự hít thở sẽ không hoàn chỉnh. Sự hít thở gọi là hoàn chỉnh khi cả lúc động và tĩnh hơi thở ra vô lúc nào cũng nhẹ êm, sâu dài, thong thả. Luyện khí ở tư thế như tĩnh, ta dễ chuyên chú vào khí để hoàn thiện, dễ làm chủ hơi thở của chính mình. Nhờ tập nhu khí ở tư thế tĩnh, ta sẽ dễ phát huy được động năng của các bào nhu khí, cương khí đối với bản thân khi luyện tập. Đó là sự kết hợp giữa động và tĩnh trong luyện khí. Nếu chuyên luyện nhu khí sự trẻ trung tươi mát, sự bền bỉ dẽo dai, sự hồn nhiên vô tư, sự hiền hòa từ tốn, sự bao dung độ lượng sẽ đến với ta. Đấy chính là cái đẹp bên ngoài của tinh thần Nhân Võ Đạo.

    Vận động với nhịp độ nhanh, cường độ mạnh, cần tăng cường hô hấp nên đôi khi phải thở ra bằng miệng mới kịp. Tuy nhiên, tốt nhất là nên hít thở bằng mũi .

    Có những lý do sau :

    - Mũi là bộ máy điều hòa không khí của cơ thể. Với những nếp gấp ở hốc mũi, không khí hít vào được tẩy bụi, hấp nóng, có khi lại được tiếp hơi ấm để đủ điều kiện cần thiết trước khi vào phổi. Hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng, mũi do hấp nóng không khí khi hít vào, nhiệt độ bị giảm dần, sẽ bị lạnh. Điều này có thể gây sổ mũi hoặc sưng cuống phổi. Nếu thở ra bằng mũi hơi thở sẽ hoàn toàn cấp nhiệt cho mũi và như thế lại giúp nó làm tròn vai trò điều hòa không khí hít vào.

    - Mũi có vai trò điều tiết lưu lượng không khí hít vào thở ra và làm giảm tốc quá trình hô hấp. Hít vào bằng miệng, lẽ tất nhiên là ta đưa nhanh chóng vào phổi một lượng lớn không khí và như thế dễ làm tổn thương nhiều phế nang tế nhị. Vả lại, nên hiểu rằng khi hít vào, phổi vừa hấp thụ cả không khí lẫn máu theo một tỉ lệ nhất định để giữ cân bằng cho môi trường bên trong. Thở bằng miệng thường làm thay đổi tỷ lệ đó và làm mất cân bằng cơ chế hô hấp vốn rất tinh tế. Thở bằng miệng chỉ áp dụng trong những trường hợp khẩn cấp do cơ thể đòi hỏi.

    - Những nếp gấp trong mũi được phủ đầy đầu dây thần kinh có mắc nối với nhiều cơ quan và các trọng tâm thần kinh. Gặp người bị ngất, cho họ ngửi ammoniac hoặc giấm chua, họ có thể tỉnh ngay. Cơ thể của con người cũng cần được kích thích bởi luồng không khí qua mũi.

    Trong cơ thể con người, mạch là những ống dẫn huyết từ tim chạy khắp châu thân và ngược lại. Theo Đông y, ngoài mạch máu ra còn có hệ thống kinh lạc. Kinh là những đường dây nối liền các huyệt trong châu thân theo một đường dọc và lạc là những đường nối liền từ kinh nọ sang kinh kia, chạy theo hàng ngang. Có hai kinh chính là Nhâm Kinh và Đốc Kinh. Nhâm Kinh là đường kinh nối liền từ chỗ hõm ở môi dưới chạy thẳng xuống, qua lằn chỉ ở dịch hoàn đến hậu môn. Đốc Kinh là đường kinh chạy từ đỉnh xương cùng đến đỉnh xương đầu trỏ ra trước mặt vượt qua rãnh dưới đầu mũi tới dưới răng hàm trên. Khi luyện khí, hai môi nên khép lại cho Nhâm Kinh và Đốc Kinh được nối liền với nhau, để khí dễ luân lưu. Ngoài ra, lưỡi co lên, chạm vòm họng để kích thích sự hoạt động của các tuyến nước bọt. Theo y học thì nước miếng là phương thần dược trong cơ thể con người có thể trị các chứng sưng gan : Tim lớn, làm thần kinh mát dịu, nhất là những chứng lở loét bao tử, thực quản. Chúng ta cũng thường thấy rằng một cái dầm xướng cá chích vào chân răng, lưỡi miệng, chỉ trong hai, ba tiếng đồng hồ không nghe đau nhức nữa. Nếu da thịt bị như thế, ít nhất hai ba hôm mới hết, có khi lại trở thành mụn nữa.

    Tập khí công là tập thở bằng bụng dưới (hít vào, phình bụng - thở ra, hóp bụng) để kích thích vùng đan điền. Đông Y quan niện đó là nơi tích tụ sinh lực của con người và khoa học ngày nay coi đó là vùng trọng tâm của cơ thể. Khi kích thích đúng mức, sinh lực sẽ được phát huy. Nói cách khác, khi trọng tâm con người, do tập luyện trở về vị trí đan điền, tâm sinh lý được cân bằng. Trong trạng thái cân bằng, sinh lực sẽ được phát huy toàn vẹn. Nếu đã nắm vững hệ thống kinh mạch, ta có thể dùng tư tưởng để dẫn khí.

    Tuy nhiên, dùng ý dẫn khí sẽ sinh tâm lý nóng vội vì muốn mau chóng thành công, như vậy dễ đi đến tình trạng thái quá, dễ gây căng thẳng cho hệ thần kinh, hệ tim mạch bị loạn nhịp. Sinh lý bị xáo trộn do luyện khí, người xưa gọi là “tẩu hỏa nhập mà”. Cách tập an toàn nhất cho tất cả mọi người là tập với lòng thanh thản, vô cầu, không dùng ý dẫn khí, chỉ thư giãn tối đa, tùy cơ thể tập, chú tâm vào từng vùng nào đó. Thí dụ : Tập khí ở tư thế tĩnh tọa, chú tâm vào vùng giữa hai chân mày, ở tư thế nằm, chú tâm vào vùng rốn. Khi thở đúng mức, khai thông được hai kinh Nhâm, Đốc, luồng khí sẽ chu lưu khắp cơ thể theo hệ thống kinh lạc. Khi hít thở, dưỡng khí qua phế nang được máu hấp thụ, theo động mạch đi đến các cơ quan. Khí di chuyển theo đường kinh lạc là một thứ khí khác; người xưa gọi là : Chân khí, Tiên thiên khí, Khí thái hư… Hấp thụ được luồng khí này, con người sẽ phát triển được các phẩm chất thanh cao, hướng thượng. Người tập có khả năng điều khí tốt, khai thông được Nhâm, Đốc Kinh, thì các bài nhu khí, cương khí sẽ giúp thúc đẩy dẫn khí ra tứ chi. Khai thông kinh lạc là bước đầu của lĩnh vực khí công.

    Tập khí công phải biết phối hợp giữa động với tĩnh, và đó là nguyên lý Cương Nhu Phối Triển của Vovinam- Việt Võ Đạo

    V.S LÊ SÁNG

    Ngày nay, trong những bộ phim dã sử võ hiệp, ta có thể thấy các nhân vật trong phim bay lượn như chim hoặc nhảy từ dưới đất lên nóc nhà cao. Ai cũng biết đấy gọi là khinh công và thực hiện được trên phim ảnh nhờ kỹ xảo điện ảnh, vậy còn ngoài đời thì sao?

    Tương truyền, khinh công do các đạo sỹ núi Võ Đang tạo ra. Khởi thủy, các đạo sỹ Võ Đang tu luyện theo thuyết "Trường sinh bất lão" của Đạo Giáo, họ ăn chay trường, tập khí công, luyện linh đan để mong muốn giúp con người hòa nhập với thiên nhiên kéo dài tuổi thọ. Thậm chí theo họ, có thể bay như chim, bơi lặn như cá, chính vì vậy người Trung Quốc mới có câu "Võ Đang Nội Gia". Hình ảnh người đạo sỹ da dẻ hồng hào, tay cầm phất trần, chân di chuyển không chấm đất trở thành đại diện cho những cao nhân đắc đạo.

    Khinh công, hiểu một cách nôm na là sự kết hợp giữa động tác cơ thể với khí công nhwàm giảm tối đa trọng lượng cơ thể so với trọng lượng thực để thoát khỏi hoặc làm giảm ảnh hưởng của lực hút Trái Đất đối với cơ thể, giúp người ta có thể nhảy cao hơn, chạy nhanh hơn, xa hơn,...

    Khinh công bao gồm nhiều môn như: khinh thân hay còn gọi là phi thân (nhảy cao), thần hành (chạy nhanh), bích hổ du tường (thằn lằn leo tường) và thủy thượng phiêu (di chuyển trên mặt nước)

    Đối với khinh thân, đây là môn khinh công được phim ảnh, sách báo nói đến nhiều nhất. Một cuốn sách dạy cách khinh công như sau: "Đeo lên người và chân những túi đựng chì, đào một cái hố sâu khoảng 50cm, rồi tập nhảy từ dưới hố lên. Cứ vậy đào hố sâu dần xuống, khoảng 10 năm sau bỏ những túi chì ra bạn có thể nhảy cao 5m". Thực ra đây chỉ là bài luyện tập sức bật của chân, nó chỉ có thể giúp bạn tăng tốc độ và sức mạnh của đòn đá đồng thời nhảy cao thêm đượ một hút hứ không thể bay cao như sách nói.

    Tuy vậy khinh thân vẫn tồn tại nhưng ở một số dạng khác nhau.

    Trong cuốn "Hành trình về Phương Đông" do một số giáo sư tiến sỹ Viện Hàn Lâm Anh ghi lại chuyến đi của mình đến Tây Tạng, họ có kể một câu chuyện về các nhà sư ngồi thiền trước bàn thờ, đột nhiên các nhà sư từ từ bay lên và cứ thế ngồi lơ lửng ở độ cao 1m cách mặt đất.

    Hoặc trong mục "Chuyện lạ đó đây" trên tivi, có nói về một phụ nữ Singapore đã biểu diễn khả năng khinh thân của mình bằng cách đứng lên một tờ giấy bản đặt trên một cái khung gỗ mà giấy không rách. Nhưng nếu đặt một quả dưa khoảng 3kg lên trên hoặc chị ta không vận khí thì tờ giấy lập tức rách ngay.

    Nhưng dù sao dẫn chứng này vẫn còn mang màu sắc tôn giáo. Trong võ thuật, khinh thân được thể hiện ở một dạng khác. Các võ sỹ Wushu hoặc Vovinam có thể tung mình lên cao rồi rơi cả người xuống đất một cách nhẹ nhàng không chấn thương đau đớn gì cả. Mặc dù sự góp mặt nhiều của khí không không nhiều, nhưng đó cũng là khinh thân. Có những võ sư Taekwondo biểu diễn màn khinh thân mượn lực bằng cách tung mình lên không đá vỡ tám tấm ván do tám người dàn hàng ngang cầm trên tay, mỗi khi chân đá vỡ một tấm cũng là lúc vị võ sư mượn lực phản hồi để giữ người mình trên không và lấy đà đá tấm kế tiếp.

    Thần hành - tương truyền một ngày có thể đi hàng trăm dặm chân không chạm đất giống như nhân vật Đới Tung trong truyện Thủy Hử vậy. Trong cuốn "Thiếu Lâm bảy mươi hai tuyệt kỹ thất truyền" có dạy cách luyện thần hành như sau: "Trải cát dày khoảng 10cm trên đoạn đường dài 30m. Phủ lên trên một lớp giấy bản. Buộc chì thật nặng vào chân, lấy đà rồi chạy thật nhanh qua đoạn đường ấy. Cứ tập đi tập lại khoảng 10 năm, khi thấy chạy qua mà không rách giấy là được...". Hẳn bạn đọc sẽ phải bật cười vì cách luyện tập ngô nghê như vậy. Theo như truyện kể lại, người luyện được phép thần hành phải tinh thông khinh thân và khí công, như thế mới giúp cơ thể lâu xuống sức. Đáng tiếc vào thời điểm này không có dẫn chứng minh họa nào cho thuật này, tuy nhiên so với người bình thường, những vận động viên marathon một ngày có thể chạy được hàng chục thậm chí hàng trăm cây số cũng đáng được coi là thần hành rồi.

    Bích hổ du tường, môn khinh công thuộc dạng leo trèo. Trong các phim nói về Ninja, ta có thể thấy những nhân vật Ninja đeo vào tay và chân các móc sắc nhọn để bám tường hoặc bám thân cây leo lên. Đây là kỹ năng sử dụng tay chân và lợi dụng lực tì để giữ vững trọng tâm cũng như thăng bằng của cơ thể mà tạo thế bám mà leo lên cao. Hẳn không ít người đã được nghe chuyện về những chiến sỹ đặc công có thể lợi dụng điểm tiếp giáp của hai bức tường mà tạo thành góc 90 độ mà leo lên tận nóc nhà.

    Bên cạnh đó trong cuộc sống cũng có nhiều kỹ thuật tương tự. Tại những vùng trồng và làm đường thốt nốt, các em bé người Kinh hoặc Khơme muốn lấy được thốt nốt phải leo lên ngọn cây cao hơn chục mét. Vậy mà chỉ cần hai tay vòng qua thân cây, hai chân đạp vào thân cây lấy thế, trên người lỉnh kỉnh những ống bương để đựng nước thốt nốt, không cần dụng cụ hỗ trợ, các em leo vun vút lên tận ngọn cây trơn láng. Hay những anh chàng thích leo tường nhà chọc trời.

    Có lẽ môn bích hổ du tường bí quyết chính là ở sự khéo léo của con người và nó cũng là môn khinh công tương đối dễ tập nhất.

    Cuối cùng, thủy thượng phiêu, môn khinh công giúp người ta đi lại trên mặt nước. Về lý thuyết, người thực hiện phải vận khí công giảm tối đa trọng lượng cơ thể, sau đó buộc vào chân một vật nhẹ, nổi như miếng xốp, mảnh ván hoặc một đoạn ống tre... để có thể đi trên mặt nước. Tuy nhiên thuật này phải tốn nhiều chân khí nên không thể thực hiện thường xuyên. Trên một tờ tạp chí võ thuật đã lâu, có đăng một bài và ảnh mình hoạ về một võ sư Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8. Ông đã biểu diễn tại Đà Lạt tuyệt kỹ thủy thượng phiêu của mình. Ông buộc hai bó cỏ vào hai chân và vượt qua hồ trước sự chứng kiến của nhiều người.

    Có một câu chuyện nữa xảy ra trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp do một cụ già kể lại. Hồi đó, tổ giao liên của cụ nhận lệnh chuyển thư qua sông để báo tin địch càn và xin tiếp viện. Nước sông chảy quá xiết không thể bơi qua, thuyền tuần tiễn của địch đi lại trên mặt sông nên không thể thả thuyền được. Anh Trọng, người gốc Bình Định mới gia nhập tổ giao liên quyết định một mình vượt sông. Anh lấy bốn đoạn lồ ô buộc vào hai chân, để lại tất cả vũ khí, quần áo, chỉ mặc đúng cái quần lót, ngậm thư vào miệng và lao ra sông. Thật kỳ lạ, người anh như chạy trên mặt nước, tạo thành một đường xiên xuôi theo dòng chảy sang bờ bên kia. Rõ ràng bọn lính trên canô đã nhìn thấy và chỉ cho nhau, nhưng không một viên đạn nào bắn theo, có thể bọn chúng tưởng nhìn thấy... ma. Sau đó những trận chiến ác liệt xảy ra và ông cụ già không gặp lại người đội viên của mình nữa.

    Vậy đó, hy vọng sau bài này, bạn đọc sẽ có một cái nhìn cụ thể hơn về tuyệt kỹ khinh công, tuy rằng hầu hết vẫn còn mang tính lý thuyết và sách vở nhưng mong một ngày nào đó, tuyệt kỹ khinh công sẽ hiện diện cụ thể để nó không chỉ tồn tại trong giai thoại hoặc trong huyền thoại.

    Khinh công: Sắc màu huyền thoại của khinh công và thực tế

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Ngày nay, trong những bộ phim dã sử võ hiệp, ta có thể thấy các nhân vật trong phim bay lượn như chim hoặc nhảy từ dưới đất lên nóc nhà cao. Ai cũng biết đấy gọi là khinh công và thực hiện được trên phim ảnh nhờ kỹ xảo điện ảnh, vậy còn ngoài đời thì sao?

    Tương truyền, khinh công do các đạo sỹ núi Võ Đang tạo ra. Khởi thủy, các đạo sỹ Võ Đang tu luyện theo thuyết "Trường sinh bất lão" của Đạo Giáo, họ ăn chay trường, tập khí công, luyện linh đan để mong muốn giúp con người hòa nhập với thiên nhiên kéo dài tuổi thọ. Thậm chí theo họ, có thể bay như chim, bơi lặn như cá, chính vì vậy người Trung Quốc mới có câu "Võ Đang Nội Gia". Hình ảnh người đạo sỹ da dẻ hồng hào, tay cầm phất trần, chân di chuyển không chấm đất trở thành đại diện cho những cao nhân đắc đạo.

    Khinh công, hiểu một cách nôm na là sự kết hợp giữa động tác cơ thể với khí công nhwàm giảm tối đa trọng lượng cơ thể so với trọng lượng thực để thoát khỏi hoặc làm giảm ảnh hưởng của lực hút Trái Đất đối với cơ thể, giúp người ta có thể nhảy cao hơn, chạy nhanh hơn, xa hơn,...

    Khinh công bao gồm nhiều môn như: khinh thân hay còn gọi là phi thân (nhảy cao), thần hành (chạy nhanh), bích hổ du tường (thằn lằn leo tường) và thủy thượng phiêu (di chuyển trên mặt nước)

    Đối với khinh thân, đây là môn khinh công được phim ảnh, sách báo nói đến nhiều nhất. Một cuốn sách dạy cách khinh công như sau: "Đeo lên người và chân những túi đựng chì, đào một cái hố sâu khoảng 50cm, rồi tập nhảy từ dưới hố lên. Cứ vậy đào hố sâu dần xuống, khoảng 10 năm sau bỏ những túi chì ra bạn có thể nhảy cao 5m". Thực ra đây chỉ là bài luyện tập sức bật của chân, nó chỉ có thể giúp bạn tăng tốc độ và sức mạnh của đòn đá đồng thời nhảy cao thêm đượ một hút hứ không thể bay cao như sách nói.

    Tuy vậy khinh thân vẫn tồn tại nhưng ở một số dạng khác nhau.

    Trong cuốn "Hành trình về Phương Đông" do một số giáo sư tiến sỹ Viện Hàn Lâm Anh ghi lại chuyến đi của mình đến Tây Tạng, họ có kể một câu chuyện về các nhà sư ngồi thiền trước bàn thờ, đột nhiên các nhà sư từ từ bay lên và cứ thế ngồi lơ lửng ở độ cao 1m cách mặt đất.

    Hoặc trong mục "Chuyện lạ đó đây" trên tivi, có nói về một phụ nữ Singapore đã biểu diễn khả năng khinh thân của mình bằng cách đứng lên một tờ giấy bản đặt trên một cái khung gỗ mà giấy không rách. Nhưng nếu đặt một quả dưa khoảng 3kg lên trên hoặc chị ta không vận khí thì tờ giấy lập tức rách ngay.

    Nhưng dù sao dẫn chứng này vẫn còn mang màu sắc tôn giáo. Trong võ thuật, khinh thân được thể hiện ở một dạng khác. Các võ sỹ Wushu hoặc Vovinam có thể tung mình lên cao rồi rơi cả người xuống đất một cách nhẹ nhàng không chấn thương đau đớn gì cả. Mặc dù sự góp mặt nhiều của khí không không nhiều, nhưng đó cũng là khinh thân. Có những võ sư Taekwondo biểu diễn màn khinh thân mượn lực bằng cách tung mình lên không đá vỡ tám tấm ván do tám người dàn hàng ngang cầm trên tay, mỗi khi chân đá vỡ một tấm cũng là lúc vị võ sư mượn lực phản hồi để giữ người mình trên không và lấy đà đá tấm kế tiếp.

    Thần hành - tương truyền một ngày có thể đi hàng trăm dặm chân không chạm đất giống như nhân vật Đới Tung trong truyện Thủy Hử vậy. Trong cuốn "Thiếu Lâm bảy mươi hai tuyệt kỹ thất truyền" có dạy cách luyện thần hành như sau: "Trải cát dày khoảng 10cm trên đoạn đường dài 30m. Phủ lên trên một lớp giấy bản. Buộc chì thật nặng vào chân, lấy đà rồi chạy thật nhanh qua đoạn đường ấy. Cứ tập đi tập lại khoảng 10 năm, khi thấy chạy qua mà không rách giấy là được...". Hẳn bạn đọc sẽ phải bật cười vì cách luyện tập ngô nghê như vậy. Theo như truyện kể lại, người luyện được phép thần hành phải tinh thông khinh thân và khí công, như thế mới giúp cơ thể lâu xuống sức. Đáng tiếc vào thời điểm này không có dẫn chứng minh họa nào cho thuật này, tuy nhiên so với người bình thường, những vận động viên marathon một ngày có thể chạy được hàng chục thậm chí hàng trăm cây số cũng đáng được coi là thần hành rồi.

    Bích hổ du tường, môn khinh công thuộc dạng leo trèo. Trong các phim nói về Ninja, ta có thể thấy những nhân vật Ninja đeo vào tay và chân các móc sắc nhọn để bám tường hoặc bám thân cây leo lên. Đây là kỹ năng sử dụng tay chân và lợi dụng lực tì để giữ vững trọng tâm cũng như thăng bằng của cơ thể mà tạo thế bám mà leo lên cao. Hẳn không ít người đã được nghe chuyện về những chiến sỹ đặc công có thể lợi dụng điểm tiếp giáp của hai bức tường mà tạo thành góc 90 độ mà leo lên tận nóc nhà.

    Bên cạnh đó trong cuộc sống cũng có nhiều kỹ thuật tương tự. Tại những vùng trồng và làm đường thốt nốt, các em bé người Kinh hoặc Khơme muốn lấy được thốt nốt phải leo lên ngọn cây cao hơn chục mét. Vậy mà chỉ cần hai tay vòng qua thân cây, hai chân đạp vào thân cây lấy thế, trên người lỉnh kỉnh những ống bương để đựng nước thốt nốt, không cần dụng cụ hỗ trợ, các em leo vun vút lên tận ngọn cây trơn láng. Hay những anh chàng thích leo tường nhà chọc trời.

    Có lẽ môn bích hổ du tường bí quyết chính là ở sự khéo léo của con người và nó cũng là môn khinh công tương đối dễ tập nhất.

    Cuối cùng, thủy thượng phiêu, môn khinh công giúp người ta đi lại trên mặt nước. Về lý thuyết, người thực hiện phải vận khí công giảm tối đa trọng lượng cơ thể, sau đó buộc vào chân một vật nhẹ, nổi như miếng xốp, mảnh ván hoặc một đoạn ống tre... để có thể đi trên mặt nước. Tuy nhiên thuật này phải tốn nhiều chân khí nên không thể thực hiện thường xuyên. Trên một tờ tạp chí võ thuật đã lâu, có đăng một bài và ảnh mình hoạ về một võ sư Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8. Ông đã biểu diễn tại Đà Lạt tuyệt kỹ thủy thượng phiêu của mình. Ông buộc hai bó cỏ vào hai chân và vượt qua hồ trước sự chứng kiến của nhiều người.

    Có một câu chuyện nữa xảy ra trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp do một cụ già kể lại. Hồi đó, tổ giao liên của cụ nhận lệnh chuyển thư qua sông để báo tin địch càn và xin tiếp viện. Nước sông chảy quá xiết không thể bơi qua, thuyền tuần tiễn của địch đi lại trên mặt sông nên không thể thả thuyền được. Anh Trọng, người gốc Bình Định mới gia nhập tổ giao liên quyết định một mình vượt sông. Anh lấy bốn đoạn lồ ô buộc vào hai chân, để lại tất cả vũ khí, quần áo, chỉ mặc đúng cái quần lót, ngậm thư vào miệng và lao ra sông. Thật kỳ lạ, người anh như chạy trên mặt nước, tạo thành một đường xiên xuôi theo dòng chảy sang bờ bên kia. Rõ ràng bọn lính trên canô đã nhìn thấy và chỉ cho nhau, nhưng không một viên đạn nào bắn theo, có thể bọn chúng tưởng nhìn thấy... ma. Sau đó những trận chiến ác liệt xảy ra và ông cụ già không gặp lại người đội viên của mình nữa.

    Vậy đó, hy vọng sau bài này, bạn đọc sẽ có một cái nhìn cụ thể hơn về tuyệt kỹ khinh công, tuy rằng hầu hết vẫn còn mang tính lý thuyết và sách vở nhưng mong một ngày nào đó, tuyệt kỹ khinh công sẽ hiện diện cụ thể để nó không chỉ tồn tại trong giai thoại hoặc trong huyền thoại.

    Có lẽ trên thế giới, không có quốc gia nào có nhiều môn phái võ thuật như ở Việt nam. Cho đến tận bây giờ, dù cố gắng hết mức, Liên đoàn Võ thuật Việt Nam cũng chưa thể tập họp và thống kê hết các môn phái võ xuất xứ trong nước. Hàng trăm môn phái trãi dài từ Bắc đến Nam cho thấy tâm hồn Việt có tinh thần thượng võ cao ngút. Có võ phái lấy chân lý “tuyệt kỹ bế môn”, âm thầm khiêm tốn nơi thâm sơn cùng cốc nên thất truyền. Có võ phái mang màu sắc tâm linh huyền bí, không truyền thụ rộng rãi dẫn đến “bế truyền”, nhưng cũng có võ phái “trời ơi đất hỡi” không biết xuất xứ từ đâu, tự đến rồi đi, mất dạng giữa biển đời. Lại có võ phái xuất xứ từ … một ngày đẹp trời nào đó, có anh chàng mê kiếm hiệp bỗng xuất thần sáng tác vài đường quyền rồi vỗ ngực xưng tên “đại môn phái”.


    RỪNG VÕ

    Một danh sư làng võ cổ truyền Việt Nam cho rằng, đất nước ta có 5 hệ phái chính gồm: Bắc Hà, Bình Định, Nam Bộ, Trung Hoa và các hệ phái võ Việt đang phát triển ở nước ngoài. Nhiều bậc danh sư không đồng tình. Vì võ Việt ở nước ngoài bắt nguồn từ Việt Nam, hà tất phải xếp thành một hệ phái. Một danh sư nỗi tiếng với ngón “liên hoàn cước” thì chia võ Việt thành 4 hệ phái:

    - Xuất xứ tại Việt Nam, có ông tổ là người người Việt Nam.

    - Xuất xứ tại Việt Nam nhưng ông tổ là người nước ngoài lưu lạc đến Việt Nam.

    - Xuất xứ tại Việt Nam, ông tổ là người Việt Nam nhưng có pha trộn chiêu thức từ võ nước ngoài.

    - Xuất xứ tại Việt Nam nhưng ông tổ là… nhà văn Kim Dung!

    Trong phạm vi bài này không bàn đến các hệ phái võ xuất xứ từ nước ngoài.

    Ba hệ phái trên đều được xã hội trải nghiệm nhiều năm. Những hệ phái này có võ đạo, võ thuyết, võ pháp và được người đời tôn vinh, truyền tụng. Riêng hệ phái thứ tư mới làm những nhà nghiên cứu đau đầu. Hệ phái này sinh sau đẻ muộn nhưng luôn đòi hỏi các nhà nghiên cứu “phải đưa em vào danh phái xứ Nam”. Đó cũng là một phần lý do mấy chục năm nay, võ cổ truyền Việt Nam chưa có tiếng nói chung, chưa định hình được “võ Việt Nam là võ gì?”.

    Hầu hết các danh sư đều ngại đụng chạm nên không thể nêu tên đích danh. Tất cả họ đều nhất trí với nhau rằng, đã gọi là võ học phải hội đủ 3 yếu tố chính: Võ đạo, võ thuyết và võ pháp. Nếu thiếu một trong 3 yếu tố ấy thì không thể gọi là võ thuật mà chỉ đáng gọi là võ biền. Một hệ phái võ chỉ biết đánh đấm mà không hiểu đánh vào cái gì, tại sao đánh như vậy thì chỉ đáng gọi là đánh cuội.
    Ngay như võ vật Liễu Đôi xuất xứ từ Hà Nam cũng có 3 yếu tố chính. Đạo: Rèn luyện thân thể. Thuyết: Mượn sức người vật người. Pháp: Lừa miếng.

    Võ Nhất Nam ở Thanh Hoá và Nghệ An xuất thân từ cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông cũng có tiêu chí rõ rệt về võ thuật.

    Võ Bình Định xuất xứ từ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đến nay đã truyền được hơn 20 đời truyền nhân vẫn giữ nguyên giá trị võ học.

    Riêng võ thuật Nam Bộ rất đa dạng phong phú với nhiều hệ phái do sự pha trộn văn hoá giữa các quốc gia. Văn hoá Việt và Chămpa từ miền Trung di cư vào. Văn hoá Miên (Campuchia) và Xiêm (Thái Lan) từ hướng Tây qua. Văn hoá Trung Hoa từ cực Nam do Mạc Cửu đi lên. Võ thuật cũng ảnh hưởng sự pha trộn văn hoá ấy tạo thành rừng võ xuất xứ từ miền Nam với những hệ phái vang danh: Tân Khánh Bà Trà; Gò công, Thất Sơn võ đạo; Sơn Trà kha; Pali thần quyền…

    Những hệ phái có xuất xứ từ miền Tây, hầu hết điều có liên quan đến các cuộc khởi nghĩa yêu nước như Trương Định (Gò Công), Trần Văn Thành (Thất Sơn võ đạo)…

    Miền Nam xưa có các danh sư được xã hội công nhận và tôn vinh: “Tam nhật, tam nguyệt, tứ tú”. Tam nhật gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa. Tam nguyệt gồm: Trương Thanh Đăng, Quách Văn Kế, Vũ Bá Oai. Tứ tú gồm: Hồ Lành, Trần Sil, Xuân Bình và Lý Huỳnh.
    Nhiều phái võ Việt không chỉ rạng danh ở quê nhà mà còn được các Trưởng chi quảngbá, truyền thụ ở nước ngoài tạo thành tên tuổi.
    Việt Võ Đạo, còn gọi là Vo Vi Nam do danh sư Nguyễn Công Tốt sáng lập dựa trên những tinh hoa các phái võ nước ngoài. Võ phái này sử dụng các chiêu thức hay của nước ngoài biến thành những chiêu thức phù hợp với thể chất người Việt. Hiện nay, các môn đệ của ông đã thu hút hàng ngàn võ sinh trên 10 quốc gia trên thế giới (*). Nhiều phái võ Việt khác như Cửu Long, Nam Hổ Quyền, Song Klong Khiên, Tây Sơn, Nam Hải phát triễn mạnh ở các nước phương Tây, thu hút gần 20.000 võ sinh, tạo nên một phong trào võ Việt sôi nổi. Tinh thần thượng võ của người Việt đã được các chưởng môn, trưởng chi chứng minh ở nước ngoài rất phong phú. Nhiều danh sư được các quốc gia trao cờ, khen tặng...

    VÕ THUẬT MIỀN TÂY NAM BỘ XƯA

    Từ thuở mở đất tiền về phương Nam, do chống chọi với thiên nhiên, thú dữ và cướp phỉ, người Việt nơi đây đã sáng lập nhiều môn phái võ mang tính chiến đấu cao như Tân Khánh Bà Trà, Gò Công, Thất Sơn võ đạo….

    Do ảnh hưởng phong trào kháng Pháp, nhiều chí sỹ khóc hận nước mất nhà tan đã lánh vào rừng sâu núi thẳm rèn binh chờ cơ hội cứu nước nên khắp miền Nam thuở trước, vùng nào cũng có một hệ phái ra đời. Ở vùng Thất Sơn - Nơi chưởng cơ Trần Văn Thành tụ nghĩa kháng chiến đã có hàng chục hệ phái xuất hiện.

    Một số Chưởng môn truyền nhân của các hệ phái đều nhắc đến ông tổ Cử Đa - Một nhà sư tay không đã hổ ở núi Thiên Cấm Sơn. Cũng có thể đó là ông tổ chung nhiều môn phái võ có xuất xứ ở vùng thất sơn.

    Tương truyền, ông Cử Đa là một trong số chỉ huy của Chưởng cơ Thành. Khi nghĩa quân bị thực dân Pháp đàn áp, các vị chỉ huy nghĩa quân phân tán lực lượngvao các cánh rừng già để bào toàn lực lượng và chờ đợi người liên lạc của Chưởng cơ Thành. Họ không ngờ rằng chủ soái đã bị giặc bắt và tử hình. Với quân số ít ỏi, Cử Đa không thể làm được gì ngoài việc chiêu mộ thêm nghĩa quân và ngày đêm luyện tập võ nghệ. Do ảnh hưởng tín ngưỡng và điều kiện rèn quân nên hệ phái tổ sư Cử Đa có võ pháp nghiêng về các thế tấn công quyền pháp và binh khí. Về võ đạo, hệ phái tôn vinh tinh thần dân tộc, chống ngoại xâm và tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh sư phụ (chỉ huy) bằng lời thề độc khi nhập môn. Về võ thuyết, hệ phái này lấy niềm tin từ “cõi âm”, vì vậy, ngoài những bài tập rèn luyện về thể chất, võ sinh còn phải luyện bùa, phép, ngải, chú. Do sống trong vùng rừng thiên nước độc, không có giấy tờ ghi chép nên các võ sinh chỉ học bằng cách truyền khẩu. Sau này, các đệ tử (Nghĩa quân) của tổ sư Cử Đa tiếp tục đi khắp nơi chiêu mộ nghĩa quân, chiêu mộ đến đâu huấn luyện võ thuật đến đó. Vì lưu trữ kiến thức võ học bằng trí nhớ nên chuyện tam sao thất bồn là lẽ đương nhiên. Sau nhiều thế hệ nối tiếp, dần dà, Thất Sơn võ phái biến thành nhiều chi phái khác nhau. Có nhiều chi Thất Sơn nhưng hầu hết đều không nhận ra bài quyền nào của nhau. Thậm chí có chi phái hoàn toàn không luyện đòn thế mà chỉ chú tâm vào huyền thuật, gọi là chi phái “thần quyền”. Khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước, nhiều người đã cố công sưu tầm, tập hợp các tinh hoa của tổ sư Cử Đa nhưng chưa thành công đã giài tán do chiến tranh.

    Ở Gò Công có hệ phái Lâm Sơn phát nguôn từ lực lượng kháng chiến của Trương Định. Sau nhiều thế hệ truyền nhân, hệ phái này cũng phân mảnh thành nhiều chi phái khác nhau.

    KỲ TÍCH VÀ HUYỀN THOẠI

    Một danh sư Thất Sơn võ đạo đã mai danh tại Long Xuyên, cho biết: “Ngày xưa (đầu thế kỷ 20) tỷ thí võ đài không như bây giờ. Do nhiều hệ phái, chi phái xuất sơn hoà nhập với cộng đồng, ai cũng muốn phái của mình là đệ nhất võ lâm nên các võ sư thường tổ chức tỷ thí võ đài để tranh ngôi cao thấp. Vì vậy, nhiều cuộc thư hùng tranh tài cao thấp đã diễn ra”.

    Thông thường, các võ sỹ không bao giờ dám tỷ thí võ đài nếu không có sự đồng ý của sư phụ.

    Tỷ thí võ đài ngày xưa khác xa với đấu võ đài ngày nay như một số người lầm tưởng.

    Ngày xưa, những cuộc tỷ thí võ đài thường do sư phụ, huynh trưởng của môn phái này với môn phái kia hoặc chi phái này với chi phái kia “thách thức” nhau. Họ chọn một bãi đất trống giăng dây hoặc vẽ vòng trên mặt đất. Trước mỗi trận thư hùng, hai bên đều lập bàn thờ tổ tại đài võ, khấn vái. Sau đó, sư phu hoặc huynh trưởng mỗi bên lập bản giao kèo, quy ước. Bên cạnh là hai chiếc quan tài để sẵn.

    Trận thư hùng giữa võ phái thần quyền Thất Sơn ở cù lao Ông Chưởng và võ phái Trà Kha ở Bạc Liêu được võ sư Ba ở Cao Lãnh, Đồng Tháp kể lại: “Lúc đó, tôi 15 tuổi vừa nhập môn bái sư võ phái Thất Sơn vài ngày. Sư phụ tôi là Bảy Hớn. Nghe mấy huynh trưởng kể lại, mấy ngày trước, khi mọi người đang luyện võ thì một người gốc Miên xuất hiện xin gặp sư phụ. Người này tên No Sa Dăm là môn đệ của võ sư No Sa gốc Nam Vang đang mở võ đường ở Bạc Liêu. Họ nghe danh Thất Sơn Thần quyền đã lâu, nay muốn thí võ đài để học hỏi. Sư phụ tôi nhận lời. Bữa tỷ thí võ đài, bà con nghe tin chèo xuồng kéo đến coi cả ngàn người. Theo giao kèo giữa hai sư phụ thì, mỗi bên chọn ra 5 võ sỹ đấu thành 5 cặp. Võ sỹ bên nào văng ra khỏi vòng vẽ, xem như thua. Võ sỹ bên nào đo ván, lưng chạm đất, xem như thua. Võ sỹ bên nào đưa một cánh tay lên trời xem như xin thua. Đấu không nghỉ giải lao, đến khi có người thắng kẻ thua mới kết thúc trận. Bên nào có người bị thương, bị chết tự lo liệu thuốc men, chôn cất, không bên nào được thưa kiện ra Chánh quyền thuộc Pháp. Nếu bị pháp luật truy cứu, bên này phải làm tờ bãi nại cho bên kia. Hai bên đấu với nhau chỉ vì sỹ diện môn phái chứ không mua bán, tranh chấp gì cả. Sư phụ tôi lựa 5 đệ tử giỏi nhất ra đấu. Kết quả, phía Thất Sơn 1 người bị gãy tay, 1 người bể be sườn. Phía Trà Kha 2 người gãy chân, 1 người bất tỉnh. Thất Sơn Thần quyền có chiêu phá mã, còn phía gồng Trà Kha thì có chiêu khóa tay vật. Xem như hai bên bất phân thắng bại hẹn sẽ có dịp tái đấu. Sau đó cánh mạng tháng 8 bùng nổ, hai bên không có dịp gặp lại nhau. Sau này nghe nói No Sa Dăm đào tạo được rất nhiều thế hệ võ sỹ giỏi. Học trò của No Sa Dăm đào tạo được những võ sỹ nỗi tiếng sau năm 1975 như No Sa Long, No Sa Liên…”. Năm 1973, võ sư Ba có dịp gặp lại võ sư No Sa tại Sài Gòn. Lúc bấy giờ No Sa là huyến luyện viên trưởng đoàn võ thuật Caqmpuchia dẫn đoàn võ sỹ Campuchia sang đấu võ đài do Tổng hội võ thuật Sài Gòn tổ chức.

    Sau này, vào khoảng thập niên 60 thế kỷ 20, những cuộc tỷ thí chết chóc không được tổ chức nữa mà chỉ tổ chức đấu vọ đài theo luật thể thao. Luật thể thao quy định hai võ sỹ đấu với nhau phải cùng hạng cân, mỗi trận chỉ có 3 hiệp, mỗi hiệp 3 phút. Võ sỹ bên nào cũng có săn sóc viên y tế đi theo và cuộc đấu luôn có hội đồng trọng tài chấm điểm.

    Thời điểm này, phong trào võ thuật vùng miền Nam bộ như có làn gió mới, nơi nào cũng có võ đường tên tuổi như cồn: Sa Đéc có lò võ Sáu Cường; Lý Suol ở Châu Đốc; Bảy Biển ở Kiên Giang; Ba Hoằng ở Long Xuyên; Tiểu La Thành ở Vĩnh Long. Nhiều võ sư tạo được tiếng vang nhờ đào tạo được những võ sỹ vô địch trong các trận đấu võ đài. Đến tận ngày nay, những võ sư ấy vẫn còn được nhiều người nhắc như: Hai Diệp, Lê Bình Tây, Mười Nho, Nguyễn Mách, Cao Lý Nhơn, Út Dài, Phạm Thành Long, Lý Huỳnh Yến, Lâm Văn Có, Thiên Đường, Đoàn Tâm Ảnh, Tần Hớn, Vương Văn Quảng, Lâm Hổ Hội, Lê Hông Chương, Mười Cùi, Từ Thiện, Hồ Tường, TRần Xil, Lê Đại Hoan, Minh Sang… rất nhiều.

    Họ thường tổ chức thi đấu tại Chợ Lớn (quận 5) mang tính giao hữu với các quốc gia trong khu vực như Campuchia, Hồng Kong. Trong những cuộc đấu giao lưu ấy, nhiều võ sỹ Việt Nam đã tạo được sự thán phục của các võ sư, võ sỹ nước ngoài. Báo chí thể thao dạo ấy đã bình luận từng tuyệt chiêu của các võ sỹ. Võ sỹ Minh Sang (võ đường Minh Sang) nỗi tiếng gan lỳ và ngọn quyền vũ bão; Võ sỹ Minh Sơn (võ đường Denis Minh) có cú đấm như điện xẹt; Võ sỹ Xuân Quỳnh là “cây trụ đồng của võ đường Kim Kê”… Những trận thư hùng này đã khiến các đối thủ nước bạn nhớ những tên đòn thế: “Bàn sa cước” của võ sỹ Nguyễn bình; Cú húc chỏ “hồi mã thương” của Minh Sơn; “Liên tiền cước” của Trần Nho…

    Các nữ võ sỹ Việt cũng tạo nên song gió như Hồ Ngọc Thọ (võ đường Từ Thiện) vô dịch hạng ruồi nhẹ; Lân Ngọc Vân (võ đường Lâm Sơn Hải) vô địch hạng ruồi; Võ sỹ Xuân Liễu (võ đường Biên Hòa) vô địch hạng ruồi.

    Trong một trận thư hùng giữa võ sỹ Việt với các võ sỹ Hong Kong là môn đệ của Lý Tiểu Long Vịnh Xuân Quyền xảy ra năm 1973 khiến báo chí thể thao miền Nam lúc đó tốn khá nhiều công sức bình luận. Trong đợt thi đấu này võ sỹ Trần Mạnh Hiền Việt Nam đã thắng tuyệt đối bằng nốc ao võ sỹ Châu Đạt Vinh Hong Kong bằng một cú đá thần sầu ở hiệp ba khiến khán giả hâm mộ võ thuật sôi sục. Ngày nay, những võ sỹ thuở ấy đã trở thành đại võ sư.

    Nhờ những trận đấu võ đài ấy, các võ đường Việt Nam nườm nượp môn sinh đến đăng ký học võ. Thời điểm đó, học phí mỗi tháng khoảng 700 đồng/học viên. Chỉ cần huấn luyện 100 võ sinh là sư phụ có thể yêm tâm về cơm áo gạo tiền để chuyên tâm nghiên cứu võ học. Thời điểm đó, chiếc xe Hon Da 67 còm măng chính hãng, giá khoảng 15.000 đồng/ chiếc.

    Bỗng dưng thời hưng thịnh của võ học Việt xẹp lép. Nhiều võ sư chạy theo kế sinh nhai bỏ nghề. “Loạn võ sư” bắt đầu manh nha phát triễn. Nhiều môn phái không hiểu từ đâu xuất hiện như: Sát Tử Quyền, Bạch Long Sát Tử Quyền, Vô Biên Võ đạo, Nghịch Tất Tử Võ phái, Cao Đài quyền pháp. Thậm chí một cơ sở sản xuất thuốc sơn đông mãi võ cũng tự sáng tác ra môn phái “Y võ” rồi tự lu loa là võ Việt Nam cổ truyền…

    Nhiều nước đã tôn vinh môn võ xuất sắc của họ như Indo có pencatxilat, Trung Hoa có Thiếu lâm, Thái Lan có Maya… Còn Việt Nam, môn phái nào là Việt Nam võ đạo cổ truyền chính hiệu? Điều đầu tiên, có lẽ nên cấm tiệt những kiểu tự sáng tác vài bài quyền múa rối rồi xưng danh Võ Cổ Truyền Việt Nam kẻo làm mất mặt những tổ sư Việt và hãy giữ lại những tinh hoa của võ học Việt có từ trăm năm trước.

    Nông Huyền Sơn - Theo NXB CAND - Phóng sự Việt Nam

    Võ công Việt Nam võ cổ truyền và võ ứng dụng hiện đại

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Có lẽ trên thế giới, không có quốc gia nào có nhiều môn phái võ thuật như ở Việt nam. Cho đến tận bây giờ, dù cố gắng hết mức, Liên đoàn Võ thuật Việt Nam cũng chưa thể tập họp và thống kê hết các môn phái võ xuất xứ trong nước. Hàng trăm môn phái trãi dài từ Bắc đến Nam cho thấy tâm hồn Việt có tinh thần thượng võ cao ngút. Có võ phái lấy chân lý “tuyệt kỹ bế môn”, âm thầm khiêm tốn nơi thâm sơn cùng cốc nên thất truyền. Có võ phái mang màu sắc tâm linh huyền bí, không truyền thụ rộng rãi dẫn đến “bế truyền”, nhưng cũng có võ phái “trời ơi đất hỡi” không biết xuất xứ từ đâu, tự đến rồi đi, mất dạng giữa biển đời. Lại có võ phái xuất xứ từ … một ngày đẹp trời nào đó, có anh chàng mê kiếm hiệp bỗng xuất thần sáng tác vài đường quyền rồi vỗ ngực xưng tên “đại môn phái”.


    RỪNG VÕ

    Một danh sư làng võ cổ truyền Việt Nam cho rằng, đất nước ta có 5 hệ phái chính gồm: Bắc Hà, Bình Định, Nam Bộ, Trung Hoa và các hệ phái võ Việt đang phát triển ở nước ngoài. Nhiều bậc danh sư không đồng tình. Vì võ Việt ở nước ngoài bắt nguồn từ Việt Nam, hà tất phải xếp thành một hệ phái. Một danh sư nỗi tiếng với ngón “liên hoàn cước” thì chia võ Việt thành 4 hệ phái:

    - Xuất xứ tại Việt Nam, có ông tổ là người người Việt Nam.

    - Xuất xứ tại Việt Nam nhưng ông tổ là người nước ngoài lưu lạc đến Việt Nam.

    - Xuất xứ tại Việt Nam, ông tổ là người Việt Nam nhưng có pha trộn chiêu thức từ võ nước ngoài.

    - Xuất xứ tại Việt Nam nhưng ông tổ là… nhà văn Kim Dung!

    Trong phạm vi bài này không bàn đến các hệ phái võ xuất xứ từ nước ngoài.

    Ba hệ phái trên đều được xã hội trải nghiệm nhiều năm. Những hệ phái này có võ đạo, võ thuyết, võ pháp và được người đời tôn vinh, truyền tụng. Riêng hệ phái thứ tư mới làm những nhà nghiên cứu đau đầu. Hệ phái này sinh sau đẻ muộn nhưng luôn đòi hỏi các nhà nghiên cứu “phải đưa em vào danh phái xứ Nam”. Đó cũng là một phần lý do mấy chục năm nay, võ cổ truyền Việt Nam chưa có tiếng nói chung, chưa định hình được “võ Việt Nam là võ gì?”.

    Hầu hết các danh sư đều ngại đụng chạm nên không thể nêu tên đích danh. Tất cả họ đều nhất trí với nhau rằng, đã gọi là võ học phải hội đủ 3 yếu tố chính: Võ đạo, võ thuyết và võ pháp. Nếu thiếu một trong 3 yếu tố ấy thì không thể gọi là võ thuật mà chỉ đáng gọi là võ biền. Một hệ phái võ chỉ biết đánh đấm mà không hiểu đánh vào cái gì, tại sao đánh như vậy thì chỉ đáng gọi là đánh cuội.
    Ngay như võ vật Liễu Đôi xuất xứ từ Hà Nam cũng có 3 yếu tố chính. Đạo: Rèn luyện thân thể. Thuyết: Mượn sức người vật người. Pháp: Lừa miếng.

    Võ Nhất Nam ở Thanh Hoá và Nghệ An xuất thân từ cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông cũng có tiêu chí rõ rệt về võ thuật.

    Võ Bình Định xuất xứ từ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đến nay đã truyền được hơn 20 đời truyền nhân vẫn giữ nguyên giá trị võ học.

    Riêng võ thuật Nam Bộ rất đa dạng phong phú với nhiều hệ phái do sự pha trộn văn hoá giữa các quốc gia. Văn hoá Việt và Chămpa từ miền Trung di cư vào. Văn hoá Miên (Campuchia) và Xiêm (Thái Lan) từ hướng Tây qua. Văn hoá Trung Hoa từ cực Nam do Mạc Cửu đi lên. Võ thuật cũng ảnh hưởng sự pha trộn văn hoá ấy tạo thành rừng võ xuất xứ từ miền Nam với những hệ phái vang danh: Tân Khánh Bà Trà; Gò công, Thất Sơn võ đạo; Sơn Trà kha; Pali thần quyền…

    Những hệ phái có xuất xứ từ miền Tây, hầu hết điều có liên quan đến các cuộc khởi nghĩa yêu nước như Trương Định (Gò Công), Trần Văn Thành (Thất Sơn võ đạo)…

    Miền Nam xưa có các danh sư được xã hội công nhận và tôn vinh: “Tam nhật, tam nguyệt, tứ tú”. Tam nhật gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa. Tam nguyệt gồm: Trương Thanh Đăng, Quách Văn Kế, Vũ Bá Oai. Tứ tú gồm: Hồ Lành, Trần Sil, Xuân Bình và Lý Huỳnh.
    Nhiều phái võ Việt không chỉ rạng danh ở quê nhà mà còn được các Trưởng chi quảngbá, truyền thụ ở nước ngoài tạo thành tên tuổi.
    Việt Võ Đạo, còn gọi là Vo Vi Nam do danh sư Nguyễn Công Tốt sáng lập dựa trên những tinh hoa các phái võ nước ngoài. Võ phái này sử dụng các chiêu thức hay của nước ngoài biến thành những chiêu thức phù hợp với thể chất người Việt. Hiện nay, các môn đệ của ông đã thu hút hàng ngàn võ sinh trên 10 quốc gia trên thế giới (*). Nhiều phái võ Việt khác như Cửu Long, Nam Hổ Quyền, Song Klong Khiên, Tây Sơn, Nam Hải phát triễn mạnh ở các nước phương Tây, thu hút gần 20.000 võ sinh, tạo nên một phong trào võ Việt sôi nổi. Tinh thần thượng võ của người Việt đã được các chưởng môn, trưởng chi chứng minh ở nước ngoài rất phong phú. Nhiều danh sư được các quốc gia trao cờ, khen tặng...

    VÕ THUẬT MIỀN TÂY NAM BỘ XƯA

    Từ thuở mở đất tiền về phương Nam, do chống chọi với thiên nhiên, thú dữ và cướp phỉ, người Việt nơi đây đã sáng lập nhiều môn phái võ mang tính chiến đấu cao như Tân Khánh Bà Trà, Gò Công, Thất Sơn võ đạo….

    Do ảnh hưởng phong trào kháng Pháp, nhiều chí sỹ khóc hận nước mất nhà tan đã lánh vào rừng sâu núi thẳm rèn binh chờ cơ hội cứu nước nên khắp miền Nam thuở trước, vùng nào cũng có một hệ phái ra đời. Ở vùng Thất Sơn - Nơi chưởng cơ Trần Văn Thành tụ nghĩa kháng chiến đã có hàng chục hệ phái xuất hiện.

    Một số Chưởng môn truyền nhân của các hệ phái đều nhắc đến ông tổ Cử Đa - Một nhà sư tay không đã hổ ở núi Thiên Cấm Sơn. Cũng có thể đó là ông tổ chung nhiều môn phái võ có xuất xứ ở vùng thất sơn.

    Tương truyền, ông Cử Đa là một trong số chỉ huy của Chưởng cơ Thành. Khi nghĩa quân bị thực dân Pháp đàn áp, các vị chỉ huy nghĩa quân phân tán lực lượngvao các cánh rừng già để bào toàn lực lượng và chờ đợi người liên lạc của Chưởng cơ Thành. Họ không ngờ rằng chủ soái đã bị giặc bắt và tử hình. Với quân số ít ỏi, Cử Đa không thể làm được gì ngoài việc chiêu mộ thêm nghĩa quân và ngày đêm luyện tập võ nghệ. Do ảnh hưởng tín ngưỡng và điều kiện rèn quân nên hệ phái tổ sư Cử Đa có võ pháp nghiêng về các thế tấn công quyền pháp và binh khí. Về võ đạo, hệ phái tôn vinh tinh thần dân tộc, chống ngoại xâm và tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh sư phụ (chỉ huy) bằng lời thề độc khi nhập môn. Về võ thuyết, hệ phái này lấy niềm tin từ “cõi âm”, vì vậy, ngoài những bài tập rèn luyện về thể chất, võ sinh còn phải luyện bùa, phép, ngải, chú. Do sống trong vùng rừng thiên nước độc, không có giấy tờ ghi chép nên các võ sinh chỉ học bằng cách truyền khẩu. Sau này, các đệ tử (Nghĩa quân) của tổ sư Cử Đa tiếp tục đi khắp nơi chiêu mộ nghĩa quân, chiêu mộ đến đâu huấn luyện võ thuật đến đó. Vì lưu trữ kiến thức võ học bằng trí nhớ nên chuyện tam sao thất bồn là lẽ đương nhiên. Sau nhiều thế hệ nối tiếp, dần dà, Thất Sơn võ phái biến thành nhiều chi phái khác nhau. Có nhiều chi Thất Sơn nhưng hầu hết đều không nhận ra bài quyền nào của nhau. Thậm chí có chi phái hoàn toàn không luyện đòn thế mà chỉ chú tâm vào huyền thuật, gọi là chi phái “thần quyền”. Khoảng thập niên 70 của thế kỷ trước, nhiều người đã cố công sưu tầm, tập hợp các tinh hoa của tổ sư Cử Đa nhưng chưa thành công đã giài tán do chiến tranh.

    Ở Gò Công có hệ phái Lâm Sơn phát nguôn từ lực lượng kháng chiến của Trương Định. Sau nhiều thế hệ truyền nhân, hệ phái này cũng phân mảnh thành nhiều chi phái khác nhau.

    KỲ TÍCH VÀ HUYỀN THOẠI

    Một danh sư Thất Sơn võ đạo đã mai danh tại Long Xuyên, cho biết: “Ngày xưa (đầu thế kỷ 20) tỷ thí võ đài không như bây giờ. Do nhiều hệ phái, chi phái xuất sơn hoà nhập với cộng đồng, ai cũng muốn phái của mình là đệ nhất võ lâm nên các võ sư thường tổ chức tỷ thí võ đài để tranh ngôi cao thấp. Vì vậy, nhiều cuộc thư hùng tranh tài cao thấp đã diễn ra”.

    Thông thường, các võ sỹ không bao giờ dám tỷ thí võ đài nếu không có sự đồng ý của sư phụ.

    Tỷ thí võ đài ngày xưa khác xa với đấu võ đài ngày nay như một số người lầm tưởng.

    Ngày xưa, những cuộc tỷ thí võ đài thường do sư phụ, huynh trưởng của môn phái này với môn phái kia hoặc chi phái này với chi phái kia “thách thức” nhau. Họ chọn một bãi đất trống giăng dây hoặc vẽ vòng trên mặt đất. Trước mỗi trận thư hùng, hai bên đều lập bàn thờ tổ tại đài võ, khấn vái. Sau đó, sư phu hoặc huynh trưởng mỗi bên lập bản giao kèo, quy ước. Bên cạnh là hai chiếc quan tài để sẵn.

    Trận thư hùng giữa võ phái thần quyền Thất Sơn ở cù lao Ông Chưởng và võ phái Trà Kha ở Bạc Liêu được võ sư Ba ở Cao Lãnh, Đồng Tháp kể lại: “Lúc đó, tôi 15 tuổi vừa nhập môn bái sư võ phái Thất Sơn vài ngày. Sư phụ tôi là Bảy Hớn. Nghe mấy huynh trưởng kể lại, mấy ngày trước, khi mọi người đang luyện võ thì một người gốc Miên xuất hiện xin gặp sư phụ. Người này tên No Sa Dăm là môn đệ của võ sư No Sa gốc Nam Vang đang mở võ đường ở Bạc Liêu. Họ nghe danh Thất Sơn Thần quyền đã lâu, nay muốn thí võ đài để học hỏi. Sư phụ tôi nhận lời. Bữa tỷ thí võ đài, bà con nghe tin chèo xuồng kéo đến coi cả ngàn người. Theo giao kèo giữa hai sư phụ thì, mỗi bên chọn ra 5 võ sỹ đấu thành 5 cặp. Võ sỹ bên nào văng ra khỏi vòng vẽ, xem như thua. Võ sỹ bên nào đo ván, lưng chạm đất, xem như thua. Võ sỹ bên nào đưa một cánh tay lên trời xem như xin thua. Đấu không nghỉ giải lao, đến khi có người thắng kẻ thua mới kết thúc trận. Bên nào có người bị thương, bị chết tự lo liệu thuốc men, chôn cất, không bên nào được thưa kiện ra Chánh quyền thuộc Pháp. Nếu bị pháp luật truy cứu, bên này phải làm tờ bãi nại cho bên kia. Hai bên đấu với nhau chỉ vì sỹ diện môn phái chứ không mua bán, tranh chấp gì cả. Sư phụ tôi lựa 5 đệ tử giỏi nhất ra đấu. Kết quả, phía Thất Sơn 1 người bị gãy tay, 1 người bể be sườn. Phía Trà Kha 2 người gãy chân, 1 người bất tỉnh. Thất Sơn Thần quyền có chiêu phá mã, còn phía gồng Trà Kha thì có chiêu khóa tay vật. Xem như hai bên bất phân thắng bại hẹn sẽ có dịp tái đấu. Sau đó cánh mạng tháng 8 bùng nổ, hai bên không có dịp gặp lại nhau. Sau này nghe nói No Sa Dăm đào tạo được rất nhiều thế hệ võ sỹ giỏi. Học trò của No Sa Dăm đào tạo được những võ sỹ nỗi tiếng sau năm 1975 như No Sa Long, No Sa Liên…”. Năm 1973, võ sư Ba có dịp gặp lại võ sư No Sa tại Sài Gòn. Lúc bấy giờ No Sa là huyến luyện viên trưởng đoàn võ thuật Caqmpuchia dẫn đoàn võ sỹ Campuchia sang đấu võ đài do Tổng hội võ thuật Sài Gòn tổ chức.

    Sau này, vào khoảng thập niên 60 thế kỷ 20, những cuộc tỷ thí chết chóc không được tổ chức nữa mà chỉ tổ chức đấu vọ đài theo luật thể thao. Luật thể thao quy định hai võ sỹ đấu với nhau phải cùng hạng cân, mỗi trận chỉ có 3 hiệp, mỗi hiệp 3 phút. Võ sỹ bên nào cũng có săn sóc viên y tế đi theo và cuộc đấu luôn có hội đồng trọng tài chấm điểm.

    Thời điểm này, phong trào võ thuật vùng miền Nam bộ như có làn gió mới, nơi nào cũng có võ đường tên tuổi như cồn: Sa Đéc có lò võ Sáu Cường; Lý Suol ở Châu Đốc; Bảy Biển ở Kiên Giang; Ba Hoằng ở Long Xuyên; Tiểu La Thành ở Vĩnh Long. Nhiều võ sư tạo được tiếng vang nhờ đào tạo được những võ sỹ vô địch trong các trận đấu võ đài. Đến tận ngày nay, những võ sư ấy vẫn còn được nhiều người nhắc như: Hai Diệp, Lê Bình Tây, Mười Nho, Nguyễn Mách, Cao Lý Nhơn, Út Dài, Phạm Thành Long, Lý Huỳnh Yến, Lâm Văn Có, Thiên Đường, Đoàn Tâm Ảnh, Tần Hớn, Vương Văn Quảng, Lâm Hổ Hội, Lê Hông Chương, Mười Cùi, Từ Thiện, Hồ Tường, TRần Xil, Lê Đại Hoan, Minh Sang… rất nhiều.

    Họ thường tổ chức thi đấu tại Chợ Lớn (quận 5) mang tính giao hữu với các quốc gia trong khu vực như Campuchia, Hồng Kong. Trong những cuộc đấu giao lưu ấy, nhiều võ sỹ Việt Nam đã tạo được sự thán phục của các võ sư, võ sỹ nước ngoài. Báo chí thể thao dạo ấy đã bình luận từng tuyệt chiêu của các võ sỹ. Võ sỹ Minh Sang (võ đường Minh Sang) nỗi tiếng gan lỳ và ngọn quyền vũ bão; Võ sỹ Minh Sơn (võ đường Denis Minh) có cú đấm như điện xẹt; Võ sỹ Xuân Quỳnh là “cây trụ đồng của võ đường Kim Kê”… Những trận thư hùng này đã khiến các đối thủ nước bạn nhớ những tên đòn thế: “Bàn sa cước” của võ sỹ Nguyễn bình; Cú húc chỏ “hồi mã thương” của Minh Sơn; “Liên tiền cước” của Trần Nho…

    Các nữ võ sỹ Việt cũng tạo nên song gió như Hồ Ngọc Thọ (võ đường Từ Thiện) vô dịch hạng ruồi nhẹ; Lân Ngọc Vân (võ đường Lâm Sơn Hải) vô địch hạng ruồi; Võ sỹ Xuân Liễu (võ đường Biên Hòa) vô địch hạng ruồi.

    Trong một trận thư hùng giữa võ sỹ Việt với các võ sỹ Hong Kong là môn đệ của Lý Tiểu Long Vịnh Xuân Quyền xảy ra năm 1973 khiến báo chí thể thao miền Nam lúc đó tốn khá nhiều công sức bình luận. Trong đợt thi đấu này võ sỹ Trần Mạnh Hiền Việt Nam đã thắng tuyệt đối bằng nốc ao võ sỹ Châu Đạt Vinh Hong Kong bằng một cú đá thần sầu ở hiệp ba khiến khán giả hâm mộ võ thuật sôi sục. Ngày nay, những võ sỹ thuở ấy đã trở thành đại võ sư.

    Nhờ những trận đấu võ đài ấy, các võ đường Việt Nam nườm nượp môn sinh đến đăng ký học võ. Thời điểm đó, học phí mỗi tháng khoảng 700 đồng/học viên. Chỉ cần huấn luyện 100 võ sinh là sư phụ có thể yêm tâm về cơm áo gạo tiền để chuyên tâm nghiên cứu võ học. Thời điểm đó, chiếc xe Hon Da 67 còm măng chính hãng, giá khoảng 15.000 đồng/ chiếc.

    Bỗng dưng thời hưng thịnh của võ học Việt xẹp lép. Nhiều võ sư chạy theo kế sinh nhai bỏ nghề. “Loạn võ sư” bắt đầu manh nha phát triễn. Nhiều môn phái không hiểu từ đâu xuất hiện như: Sát Tử Quyền, Bạch Long Sát Tử Quyền, Vô Biên Võ đạo, Nghịch Tất Tử Võ phái, Cao Đài quyền pháp. Thậm chí một cơ sở sản xuất thuốc sơn đông mãi võ cũng tự sáng tác ra môn phái “Y võ” rồi tự lu loa là võ Việt Nam cổ truyền…

    Nhiều nước đã tôn vinh môn võ xuất sắc của họ như Indo có pencatxilat, Trung Hoa có Thiếu lâm, Thái Lan có Maya… Còn Việt Nam, môn phái nào là Việt Nam võ đạo cổ truyền chính hiệu? Điều đầu tiên, có lẽ nên cấm tiệt những kiểu tự sáng tác vài bài quyền múa rối rồi xưng danh Võ Cổ Truyền Việt Nam kẻo làm mất mặt những tổ sư Việt và hãy giữ lại những tinh hoa của võ học Việt có từ trăm năm trước.

    Nông Huyền Sơn - Theo NXB CAND - Phóng sự Việt Nam

    Bắc Giang vốn thuộc xứ Kinh Bắc ngàn năm văn hiến, thời phong kiến đã có người 58 thi đỗ đại khoa làm rạng rỡ truyền thống khoa bảng và hiếu học của quê hương. Về mặt chiến lược quân sự, các triều đại phong kiến xưa đều quan tâm tới vùng đất này, vì nó nằm trên con đường thiên sứ nối kinh đô Thăng Long với phương Bắc, vì thế vùng đất này cũng được coi là một trong 4 trấn quan trọng của Kinh thành Thăng Long.

    Là vùng đất phên dậu che chắn cho kinh thành Thăng Long, có nhiệm vụ ngăn chặn các thế lực ngoại xâm và xâm chiếm nước ta, cho nên Bắc Giang cũng là miền đất thượng võ, sản sinh ra nhiều nhân tài có công giúp dân giúp nước, giữ gìn non sông đất nước. Đó là các nhân vật lịch sử như: Thân Thiệu Thái, Thân Cảnh Phúc ở triều Lý (Thế kỷ XI), là Hán Quận công Thân Công Tài, Cẩm Quận Công Trần Đình Ngọc, Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc ở triều Lê; Giáp Văn Trận, Giáp Văn Tường, Nguyễn Văn Thịnh (Cai Vàng), Hoàng Hoa Thám ở thời Nguyễn. Đó là những con người tiêu biểu vang tiếng trong lịch sử. Còn biết bao các vị Quận công, Hầu tước, biết bao ông Đề, ông Lãnh khác ở khắp các làng quê mà ngày nay dân gian vẫn truyền tụng công tích và thờ phụng ở chốn đình trung. Tất cả những con người ấy, với những hành trang đẹp đẽ ấy đã làm giàu cho kho tàng phương ngôn xứ Bắc: “Trai cầu vồng Yên Thế…”, “Đô vật Cẩm Bào…”, “Đấu vật Song Khê…”... các vùng đất ấy, cho đến ngày nay vẫn là niềm tự hào về truyền thống văn vật của quê hương Bắc Giang.Truyền thống thượng võ là nét đẹp của Bắc Giang, để phát huy truyền thống này ở khắp các làng quê trong tỉnh đã gắn kết các yếu tố thượng võ vào trong các lễ hội hàng năm, như ở lễ hội Cầu Vồng với tinh thần “Trai cầu Vồng Yên Thế”, ở lễ hội Xương Giang với tinh thần của hào khí Xương Giang muôn đời oanh liệt, ở lễ hội Phồn Xương (Yên Thế) với tinh thần khởi nghĩa Yên Thế muôn đời bất diệt,... và các lễ hội khác như hội Từ Hả (Lục Ngạn), hội Tòng Lệnh (Lục Nam), hội Bơi chải (An Châu), hội Bơi chải Làng Mai (Hiệp Hoà)... đều phản ánh tinh thần thượng võ của một miền xứ Bắc.

    Trong những năm qua, ngành thể dục thể thao của tỉnh đã tiến hành điều tra nghiên cứu tìm hiểu về tinh thần truyền thống thượng võ của Bắc Giang, kết quả điều tra nghiên cứu đã khẳng định rõ Bắc Giang cũng là miền đất thượng võ và có một dòng võ Yên Thế, có điều dòng võ này đang có nguy cơ mai một vì các võ sư ở các lò võ hiện còn rất ít và các làng này dấu tích rất còn mờ nhạt. Do đó cũng có thể nói rằng các lò võ cổ đến nay vẫn chưa được xác định chính xác. Vì thế cũng thật khó tin rằng: ở một vùng đất như ở Bắc Giang là miền đất có cả hàng trăm vị Quận công, hàng chục ông Đề, hàng trăm ông Lãnh, toàn là các võ tướng cầm quân đánh giặc, bất khuất kiên cường, vang danh trong sử sách mà lại không rõ học võ thuật ở đâu. Chẳng lẽ cả trăm người đó lại kéo nhau đến tỉnh khác để học quyền, cước, binh khí, võ thuật? Nhất định phải có chỗ dạy, có lò võ ở chính miền đất này, thế nhưng xưa nay vẫn chưa tìm ra dấu tích.



    Hoàng Hoa Thám người lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Yên Thế (1885 - 1913)

    Thật may mắn, một ngày đầu xuân năm 2008, chúng tôi có điều kiện trở lại điều tra khảo sát vùng Yên Thế đã gặp anh Lư Dũng, người dân tộc Nùng ở xã Tam Hiệp. Cũng vô tình mà anh Dũng cung cấp cho chúng tôi một tài liệu cổ. Đó là quyển sách nhỏ khổ 12cm x 6, 5cm gồm 61 tờ bằng 112 trang. Đây là quyển sách chữ Hán. Trong sách này mỗi trang có khoảng 6 dòng, mỗi dòng 15 chữ được viết trên giấy Lệnh hội (một loại giấy dó mỏng, mềm, rất tốt). Chữ viết chân phương dễ đọc. Bìa sách đã được đóng lại bằng loại giấy vỏ bao xi măng. Gáy sách không phải là dùng giấy dó se lại để khâu như truyền thống mà đóng kẹp bằng 2 sợi dây đồng. Các trang của sách đã qua sử dụng nên nhiều tờ quăn, mòn, rách tờ đôi. Tuy văn bản có bị quăn rách, nhưng may thay nội dung vẫn còn tương đối đầy đủ có thể đọc xem tốt.

    Qua xem xét, chúng tôi thấy quyển sách này có hai nội dung. Một là để xem một vài môn thuật số cổ như: xem ngày giờ tốt xấu, xem tướng, xem tay, xem chân giò gà, hướng dẫn thuật bấm độn Hàn Tín. Nội dung thứ hai liên quan đến một tổ chức võ lâm ở Yên Thế được thể hiện qua bài văn tế tổ sư võ phái. Qua bài văn này chúng tôi biết đó là bài văn soạn ra vào năm Thành Thái thứ 6 (1894).

    Anh Lư Dũng cho biết: Các cụ gia đình anh xưa có biết chữ Hán, sách vở để lại nhiều; về sau các cụ già qua đời không ai trong con cháu học chữ Hán nữa nên không ai biết số sách đó nói gì. Vì vậy có người anh ở Hữu Lũng về xin, gia đình đã cho gần hết, chỉ giữ lại vài quyển mỏng, trong số đó có quyển sách nêu trên, các cụ dặn giữ cẩn thận, chỉ giao cho người cần giao. Vì thế mà quyển sách còn tới hôm nay.

    Xét thấy nội dung bài văn tế võ lâm có liên quan tới dòng võ ở Yên Thế cũ, chúng tôi có hỏi anh Lư Dũng đôi điều liên quan đến võ thuật thì anh Dũng nói rằng: Trước đây, các cụ trong họ đều giỏi võ. Vào thời cụ Đề Thám đánh Pháp, có một cụ làm nghề dạy học chữ Hán, ta gọi là thầy Đồ có lên chốn này mở lò dạy võ. Họ nào cũng có người biết võ, truyền lại cho con cháu theo phương pháp bí truyền (truyền kín) không truyền ra ngoài. Chuyện kể, một hôm cụ nội anh đi qua Cầu Trắng (Nhã Nam) trên người có đeo túi tiền to, bất thình lình có 6, 7 tên cướp xông ra tấn công cướp của. Một tay giữ túi tiền, một tay thế thủ, đánh lại. Mấy tên cướp đã có vũ khí tấn công cụ mà không lại, thậm chí còn bị cụ đánh cho chạy cả. Chuyện này trong họ vẫn còn truyền.

    Anh Dũng cũng cho biết, hiện nay trong họ vẫn còn một số người biết võ song lâu ngày không luyện nên có biểu diễn cũng không điêu luyện. Bản thân anh Lư Dũng cũng biết nhiều bài võ được cha chú truyền dạy, nhưng cũng chưa đấu với ai bao giờ. Theo anh các bài cổ của các cụ truyền đều có, mỗi bài có một số miếng, mỗi miếng lại có một cái tên gọi theo tiếng dân tộc của anh. Chúng tôi đã đề nghị anh cho mang sách về để nghiên cứu, anh đồng ý và anh là người biết thuốc Nam, nên anh còn cắt cho thang thuốc về để uống cho khoẻ.

    Chúng tôi nghĩ rằng, một lò võ xưa được mở ra là lò của một họ. Võ xưa là rất cần và rất quý nên các cụ của các họ rất trân trọng. Không phải ai cũng truyền mà phải truyền cho người có tâm đức và có chí. Học võ là để tự vệ chứ không phải để đánh người. Do đó học phải có lò, có bài bản. Lò võ phải có thày, có tôn sư, có môn sinh…Tổ sư của một môn phái võ lâm hàng năm phải tổ chức tế lễ. Với quan niệm như thế, hơn nữa nhận thấy ý nghĩa của tập sách giúp cho việc tìm hiểu về truyền thống thượng võ của Yên Thế xưa nên chúng tôi lược dịch, để giới thiệu nội dung bài Văn tế Võ Lâm ở Yên Thế xưa mà chúng tôi mới sưu tầm được để các nhà nghiên cứu văn hoá cùng độc giả tham khảo.

    “ Văn tế võ lâm "

    Ngày 22 Việt, Quý Mão, tức ngày 01 Nhâm Tý, tháng năm Kỷ Nguyệt Kiến Kỷ Dậu, năm Giáp Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894).

    Tế chủ là Nguyễn Văn... cùng cả họ, kính cẩn dâng bánh, xôi, rượu, hương hoa các thứ cùng trầu cau, xin được kính cáo tới các vị: Hoàng Lục Nguyễn chưởng, Chân y xứ giả, Từ lâm Đại tướng, Võ lâm đại thần, Giám độ đại thần

    Giáng xuống nơi này.

    Xin được kính các vị tôn thần là các bậc thông minh chính trực, biến hoá vô cùng, khi cầu thì ứng, khi cảm được thì thông. Tài y nắm lĩnh; cấp giao xuống chốn linh thiêng; quỷ không giám đoạt; vong hồn thì yên vui; con cháu được phú quý; phúc lộc dồi dào.

    Cúi mong các vị hưởng lấy.

    Nay căn cứ.

    Ở xã Xa Khuê, tổng Phương Hạnh, châu Lương Sơn, tỉnh Phương Lâm, nước Đại Nam hiếu chủ là... và cả họ.

    Cúi xin được tiến một vị chân linh vì có Lệnh lang ở vận Trung nguyên là vị quan đất ấy mắc tội, vào lúc tốt thời có chân y, tài hoá, khí dụng các vật tiến dâng xin kể dưới đây:

    Áo gấm vuông một bức, toà thi 1 toà, áo một chiếc, khăn 1 chiếc. Khăn vuông 1 đôi, áo dài một chiếc. Khăn 1 chiếc, yếm một chiếc, hình nhân một người, quạt một cái, gối vuông 1 chiếc, điếu 1 cái, bàn 1 cái.

    Hộp trầu một hộp, phức một đôi, nồi đồng 1 cái, mâm đồng một chiếc, thau đồng 1 chiếc. ấm chuyên 1 cái, chén sứ một bộ. Hầu bao 1 cái, bát tàu một đôi, chén tàu một đôi, bát chiết yên 1 đôi, nậm 1 cái, trâu một thủ, bò một thủ, lợn 1 con, gà một con, vịt một con, ngan 1 con, mèo 1 con, chó 1 con, chiếu 1 cái, dao 1 con, khiên 1 cái, đột 1 cái, kiều 1 cái, cày 1 cái, bừa 1 cái, mai 1 cái, kim ngân vàng mã 100.

    Tất cả các thứ cứ xin các vị ở Địa phủ là các bậc Diêm la, Chưởng chân y sứ giả, Võ Lâm Đại thần giao phó tới hồn... là 1 vị chân linh đem về nơi âm trạch dùng mãi các thứ đó. Nếu gửi người nào vô danh không được có ý tranh chiếm, không được có ý chiếm đoạt.

    Xin cung kính các vị

    Hoàng Lục Nguyễn chưởng, Chân y sứ giả, Võ lâm đại thần, Giám độ đại thần chứng minh cho sự hóa chân hương.

    Cứ mong sự chứng minh.

    Qua bài văn tế võ lâm trên, chúng tôi thấy rằng đây là một văn bản có ý nghĩa cho việc tìm hiểu truyền thống thượng võ của Bắc Giang. Nó là một văn bản cách ngày nay đã hơn 100 năm, cùng thời mà Hoàng Hoa Thám phất cờ chống Pháp; lại là văn bản có ở đất cụ đề vì thế nó sẽ gợi mở cho chúng ta có thể tìm hiểu thêm nhiều điều về truyền thống thượng võ ngay trên mảnh đất cụ Đề, đúng như câu ca xưa rằng:

    Đất này là đất cụ Đề

    Tây lên thì có, Tây về thì không. /.

    Theo báo Bắc Giang

    Võ cổ truyền Yên Thế - Phát hiện tư liệu về võ cổ truyền Yên Thế

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Bắc Giang vốn thuộc xứ Kinh Bắc ngàn năm văn hiến, thời phong kiến đã có người 58 thi đỗ đại khoa làm rạng rỡ truyền thống khoa bảng và hiếu học của quê hương. Về mặt chiến lược quân sự, các triều đại phong kiến xưa đều quan tâm tới vùng đất này, vì nó nằm trên con đường thiên sứ nối kinh đô Thăng Long với phương Bắc, vì thế vùng đất này cũng được coi là một trong 4 trấn quan trọng của Kinh thành Thăng Long.

    Là vùng đất phên dậu che chắn cho kinh thành Thăng Long, có nhiệm vụ ngăn chặn các thế lực ngoại xâm và xâm chiếm nước ta, cho nên Bắc Giang cũng là miền đất thượng võ, sản sinh ra nhiều nhân tài có công giúp dân giúp nước, giữ gìn non sông đất nước. Đó là các nhân vật lịch sử như: Thân Thiệu Thái, Thân Cảnh Phúc ở triều Lý (Thế kỷ XI), là Hán Quận công Thân Công Tài, Cẩm Quận Công Trần Đình Ngọc, Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc ở triều Lê; Giáp Văn Trận, Giáp Văn Tường, Nguyễn Văn Thịnh (Cai Vàng), Hoàng Hoa Thám ở thời Nguyễn. Đó là những con người tiêu biểu vang tiếng trong lịch sử. Còn biết bao các vị Quận công, Hầu tước, biết bao ông Đề, ông Lãnh khác ở khắp các làng quê mà ngày nay dân gian vẫn truyền tụng công tích và thờ phụng ở chốn đình trung. Tất cả những con người ấy, với những hành trang đẹp đẽ ấy đã làm giàu cho kho tàng phương ngôn xứ Bắc: “Trai cầu vồng Yên Thế…”, “Đô vật Cẩm Bào…”, “Đấu vật Song Khê…”... các vùng đất ấy, cho đến ngày nay vẫn là niềm tự hào về truyền thống văn vật của quê hương Bắc Giang.Truyền thống thượng võ là nét đẹp của Bắc Giang, để phát huy truyền thống này ở khắp các làng quê trong tỉnh đã gắn kết các yếu tố thượng võ vào trong các lễ hội hàng năm, như ở lễ hội Cầu Vồng với tinh thần “Trai cầu Vồng Yên Thế”, ở lễ hội Xương Giang với tinh thần của hào khí Xương Giang muôn đời oanh liệt, ở lễ hội Phồn Xương (Yên Thế) với tinh thần khởi nghĩa Yên Thế muôn đời bất diệt,... và các lễ hội khác như hội Từ Hả (Lục Ngạn), hội Tòng Lệnh (Lục Nam), hội Bơi chải (An Châu), hội Bơi chải Làng Mai (Hiệp Hoà)... đều phản ánh tinh thần thượng võ của một miền xứ Bắc.

    Trong những năm qua, ngành thể dục thể thao của tỉnh đã tiến hành điều tra nghiên cứu tìm hiểu về tinh thần truyền thống thượng võ của Bắc Giang, kết quả điều tra nghiên cứu đã khẳng định rõ Bắc Giang cũng là miền đất thượng võ và có một dòng võ Yên Thế, có điều dòng võ này đang có nguy cơ mai một vì các võ sư ở các lò võ hiện còn rất ít và các làng này dấu tích rất còn mờ nhạt. Do đó cũng có thể nói rằng các lò võ cổ đến nay vẫn chưa được xác định chính xác. Vì thế cũng thật khó tin rằng: ở một vùng đất như ở Bắc Giang là miền đất có cả hàng trăm vị Quận công, hàng chục ông Đề, hàng trăm ông Lãnh, toàn là các võ tướng cầm quân đánh giặc, bất khuất kiên cường, vang danh trong sử sách mà lại không rõ học võ thuật ở đâu. Chẳng lẽ cả trăm người đó lại kéo nhau đến tỉnh khác để học quyền, cước, binh khí, võ thuật? Nhất định phải có chỗ dạy, có lò võ ở chính miền đất này, thế nhưng xưa nay vẫn chưa tìm ra dấu tích.



    Hoàng Hoa Thám người lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Yên Thế (1885 - 1913)

    Thật may mắn, một ngày đầu xuân năm 2008, chúng tôi có điều kiện trở lại điều tra khảo sát vùng Yên Thế đã gặp anh Lư Dũng, người dân tộc Nùng ở xã Tam Hiệp. Cũng vô tình mà anh Dũng cung cấp cho chúng tôi một tài liệu cổ. Đó là quyển sách nhỏ khổ 12cm x 6, 5cm gồm 61 tờ bằng 112 trang. Đây là quyển sách chữ Hán. Trong sách này mỗi trang có khoảng 6 dòng, mỗi dòng 15 chữ được viết trên giấy Lệnh hội (một loại giấy dó mỏng, mềm, rất tốt). Chữ viết chân phương dễ đọc. Bìa sách đã được đóng lại bằng loại giấy vỏ bao xi măng. Gáy sách không phải là dùng giấy dó se lại để khâu như truyền thống mà đóng kẹp bằng 2 sợi dây đồng. Các trang của sách đã qua sử dụng nên nhiều tờ quăn, mòn, rách tờ đôi. Tuy văn bản có bị quăn rách, nhưng may thay nội dung vẫn còn tương đối đầy đủ có thể đọc xem tốt.

    Qua xem xét, chúng tôi thấy quyển sách này có hai nội dung. Một là để xem một vài môn thuật số cổ như: xem ngày giờ tốt xấu, xem tướng, xem tay, xem chân giò gà, hướng dẫn thuật bấm độn Hàn Tín. Nội dung thứ hai liên quan đến một tổ chức võ lâm ở Yên Thế được thể hiện qua bài văn tế tổ sư võ phái. Qua bài văn này chúng tôi biết đó là bài văn soạn ra vào năm Thành Thái thứ 6 (1894).

    Anh Lư Dũng cho biết: Các cụ gia đình anh xưa có biết chữ Hán, sách vở để lại nhiều; về sau các cụ già qua đời không ai trong con cháu học chữ Hán nữa nên không ai biết số sách đó nói gì. Vì vậy có người anh ở Hữu Lũng về xin, gia đình đã cho gần hết, chỉ giữ lại vài quyển mỏng, trong số đó có quyển sách nêu trên, các cụ dặn giữ cẩn thận, chỉ giao cho người cần giao. Vì thế mà quyển sách còn tới hôm nay.

    Xét thấy nội dung bài văn tế võ lâm có liên quan tới dòng võ ở Yên Thế cũ, chúng tôi có hỏi anh Lư Dũng đôi điều liên quan đến võ thuật thì anh Dũng nói rằng: Trước đây, các cụ trong họ đều giỏi võ. Vào thời cụ Đề Thám đánh Pháp, có một cụ làm nghề dạy học chữ Hán, ta gọi là thầy Đồ có lên chốn này mở lò dạy võ. Họ nào cũng có người biết võ, truyền lại cho con cháu theo phương pháp bí truyền (truyền kín) không truyền ra ngoài. Chuyện kể, một hôm cụ nội anh đi qua Cầu Trắng (Nhã Nam) trên người có đeo túi tiền to, bất thình lình có 6, 7 tên cướp xông ra tấn công cướp của. Một tay giữ túi tiền, một tay thế thủ, đánh lại. Mấy tên cướp đã có vũ khí tấn công cụ mà không lại, thậm chí còn bị cụ đánh cho chạy cả. Chuyện này trong họ vẫn còn truyền.

    Anh Dũng cũng cho biết, hiện nay trong họ vẫn còn một số người biết võ song lâu ngày không luyện nên có biểu diễn cũng không điêu luyện. Bản thân anh Lư Dũng cũng biết nhiều bài võ được cha chú truyền dạy, nhưng cũng chưa đấu với ai bao giờ. Theo anh các bài cổ của các cụ truyền đều có, mỗi bài có một số miếng, mỗi miếng lại có một cái tên gọi theo tiếng dân tộc của anh. Chúng tôi đã đề nghị anh cho mang sách về để nghiên cứu, anh đồng ý và anh là người biết thuốc Nam, nên anh còn cắt cho thang thuốc về để uống cho khoẻ.

    Chúng tôi nghĩ rằng, một lò võ xưa được mở ra là lò của một họ. Võ xưa là rất cần và rất quý nên các cụ của các họ rất trân trọng. Không phải ai cũng truyền mà phải truyền cho người có tâm đức và có chí. Học võ là để tự vệ chứ không phải để đánh người. Do đó học phải có lò, có bài bản. Lò võ phải có thày, có tôn sư, có môn sinh…Tổ sư của một môn phái võ lâm hàng năm phải tổ chức tế lễ. Với quan niệm như thế, hơn nữa nhận thấy ý nghĩa của tập sách giúp cho việc tìm hiểu về truyền thống thượng võ của Yên Thế xưa nên chúng tôi lược dịch, để giới thiệu nội dung bài Văn tế Võ Lâm ở Yên Thế xưa mà chúng tôi mới sưu tầm được để các nhà nghiên cứu văn hoá cùng độc giả tham khảo.

    “ Văn tế võ lâm "

    Ngày 22 Việt, Quý Mão, tức ngày 01 Nhâm Tý, tháng năm Kỷ Nguyệt Kiến Kỷ Dậu, năm Giáp Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894).

    Tế chủ là Nguyễn Văn... cùng cả họ, kính cẩn dâng bánh, xôi, rượu, hương hoa các thứ cùng trầu cau, xin được kính cáo tới các vị: Hoàng Lục Nguyễn chưởng, Chân y xứ giả, Từ lâm Đại tướng, Võ lâm đại thần, Giám độ đại thần

    Giáng xuống nơi này.

    Xin được kính các vị tôn thần là các bậc thông minh chính trực, biến hoá vô cùng, khi cầu thì ứng, khi cảm được thì thông. Tài y nắm lĩnh; cấp giao xuống chốn linh thiêng; quỷ không giám đoạt; vong hồn thì yên vui; con cháu được phú quý; phúc lộc dồi dào.

    Cúi mong các vị hưởng lấy.

    Nay căn cứ.

    Ở xã Xa Khuê, tổng Phương Hạnh, châu Lương Sơn, tỉnh Phương Lâm, nước Đại Nam hiếu chủ là... và cả họ.

    Cúi xin được tiến một vị chân linh vì có Lệnh lang ở vận Trung nguyên là vị quan đất ấy mắc tội, vào lúc tốt thời có chân y, tài hoá, khí dụng các vật tiến dâng xin kể dưới đây:

    Áo gấm vuông một bức, toà thi 1 toà, áo một chiếc, khăn 1 chiếc. Khăn vuông 1 đôi, áo dài một chiếc. Khăn 1 chiếc, yếm một chiếc, hình nhân một người, quạt một cái, gối vuông 1 chiếc, điếu 1 cái, bàn 1 cái.

    Hộp trầu một hộp, phức một đôi, nồi đồng 1 cái, mâm đồng một chiếc, thau đồng 1 chiếc. ấm chuyên 1 cái, chén sứ một bộ. Hầu bao 1 cái, bát tàu một đôi, chén tàu một đôi, bát chiết yên 1 đôi, nậm 1 cái, trâu một thủ, bò một thủ, lợn 1 con, gà một con, vịt một con, ngan 1 con, mèo 1 con, chó 1 con, chiếu 1 cái, dao 1 con, khiên 1 cái, đột 1 cái, kiều 1 cái, cày 1 cái, bừa 1 cái, mai 1 cái, kim ngân vàng mã 100.

    Tất cả các thứ cứ xin các vị ở Địa phủ là các bậc Diêm la, Chưởng chân y sứ giả, Võ Lâm Đại thần giao phó tới hồn... là 1 vị chân linh đem về nơi âm trạch dùng mãi các thứ đó. Nếu gửi người nào vô danh không được có ý tranh chiếm, không được có ý chiếm đoạt.

    Xin cung kính các vị

    Hoàng Lục Nguyễn chưởng, Chân y sứ giả, Võ lâm đại thần, Giám độ đại thần chứng minh cho sự hóa chân hương.

    Cứ mong sự chứng minh.

    Qua bài văn tế võ lâm trên, chúng tôi thấy rằng đây là một văn bản có ý nghĩa cho việc tìm hiểu truyền thống thượng võ của Bắc Giang. Nó là một văn bản cách ngày nay đã hơn 100 năm, cùng thời mà Hoàng Hoa Thám phất cờ chống Pháp; lại là văn bản có ở đất cụ đề vì thế nó sẽ gợi mở cho chúng ta có thể tìm hiểu thêm nhiều điều về truyền thống thượng võ ngay trên mảnh đất cụ Đề, đúng như câu ca xưa rằng:

    Đất này là đất cụ Đề

    Tây lên thì có, Tây về thì không. /.

    Theo báo Bắc Giang

    Quảng Đông (Trung Quốc) từng có 10 nhân vật võ công-võ đức cực cao, hành hiệp trượng nghĩa, được mọi người tôn kính, giới võ lâm gọi là “Quảng Đông thập hổ” (10 con hổ ở đất Quảng Đông). Trong 10 người này, có một số về sau trở thành thủ lĩnh của những võ đoàn ở địa phương, tạo nên nhiều giai thoại truyền kỳ. Cuộc đời của họ là đề tài khai thác hấp dẫn của sân khấu cũng như điện ảnh.

    Hoàng Phi Hồng có nằm trong thập hổ? Đây là vấn đề vẫn còn tranh cãi. Trong phim về họ Hoàng do diễn viên nổi tiếng Quan Đức Hưng đóng thì nhiều lần đề cập đến “Quảng Đông thập hổ Hoàng Phi Hồng”. Trong tiểu thuyết võ hiệp “Võ đàn nhị hổ” của Trần Kính tiên sinh cũng liệt Hoàng Phi Hồng vào hàng thập hổ. Nhưng trong “Hoàng Phi Hồng truyện” của Chu Ngu Trai-đệ tử của Lâm Thế Vinh (cao đồ của Hoàng Phi Hồng) thì Phi Hồng không có tên trong “Quảng Đông thập hổ” mà thay vào đó là Châu Thái.

    Một nhân vật khác là Tô Xán cũng có nhiều nghi vấn về xuất thân. Trong phim “Võ trạng nguyên Tô Khất Nhi” của Châu Tinh Trì thì họ Tô có tên đầy đủ là Tô Sát Ha Nhi Xán, người Mãn Châu. Nhưng ngoài phim này ra thì chưa từng có tài liệu nào nói đến cái tên này.

    “Quảng Đông thập hổ” gồm các nhân vật sau

    Bạch hạc Hiệp gia quyền Vương Ẩn Lâm, Cửu long quyền Hoàng Trừng Khả, Hắc hổ Thập hình quyền Tô Hắc Hổ, Hồng quyền Hoàng Kỳ Anh (cha của Hoàng Phi Hồng), Đàm gia tam triển Đàm Tế Quân, Thất tinh quyền Lê Nhân Siêu, Túy quyền Tô Xán (tục xưng là Tô Khất Nhi), Thiết tuyến quyền Lương Khôn (tục xưng là Thiết Kiều Tam), Kim cang chỉ pháp Trần Trường Thái (tục xưng là Thiết Chỉ Trần), Nhuyễn miên chưởng Châu Thái (tục xưng là Châu Thiết Đầu).

    Bạch hạc Hiệp gia quyền - Vương Ẩn Lâm

    Hiệp gia quyền ở Quảng Đông là do đại hiệp Lý Hồ Tử từ Tứ Xuyên đến vùng Triệu Khánh truyền dạy tại chùa Khánh Vân, núi Đỉnh Hồ. Đại đệ tử là Vương Ẩn Lâm (còn có tên là Vương Phi Long) được chân truyền, sau về Quảng Châu hoàn tục dạy võ. Cao đồ của Vương Ẩn Lâm là Vương Luân truyền cho Đặng Cẩm Đào, Đặng truyền cho Ngô Triệu Chung, Ngô cải tiến quyền pháp, phát huy đặc điểm của Hạc hình, tạo thành Bạch hạc phái. Một phân chi của Bạch hạc phái phát triển ra nước ngoài, gọi tôn sư Vương Luân là “lạt ma” nên hình thành Lạt ma phái.

    Đặc điểm của Hiệp gia quyền là xuất quyền như mãnh hổ, chú trọng tấn công, trường kiều đại mã, lối đánh rộng thoáng, quyền pháp cương mãnh, chủ phát trường kình, chủ động tấn công. Công phu trấn môn có Thập nhị chi kiều, Đại-tiểu La hán, Hổ hạc tương đấu; binh khí có đơn đao, Tả bả thương, Cửu điểm thập nhị thương, Hưởng côn.

    Cửu long quyền - Hoàng Trừng Khả

    Hoàng Trừng Khả là nhân vật võ lâm nổi tiếng ngay thẳng, thiện lương. Hoàng vốn không thích võ thuật. Khi đại sư Hồng quyền Lục A Thái đang bị triều đình truy sát, Hoàng Trừng Khả một lòng cứu giúp. Lục sư phụ cảm cái ơn ấy mới khéo léo đem tuyệt học của Hồng quyền truyền cho Hoàng, từ đó mới vang danh thiên hạ.

    Hắc hổ Thập hình quyền - Tô Hắc Hổ

    Tô Hắc Hổ là người ở Bắc Cương, Thuận Đức, từ nhỏ ham võ nghệ. Sau nhờ hòa thượng Triệu Đức là võ tăng Thiếu Lâm Tự thường hạ sơn hóa duyên ở Quảng Đông đưa về Tung Sơn Thiếu Lâm Tự truyền dạy suốt 9 năm, tinh thông Hắc hổ Thập hình quyền, Túy bát tiên quyền, Hắc hổ đao, Kim cang côn… 24 tuổi Tô Hắc Hổ hạ sơn lập võ quán Thiếu Lâm Hắc hổ môn ở Sơn Quan, Quảng Châu, người đến học rất đông. Trong vùng có vị võ sư nổi tiếng phái Võ Đang là Lữ Vinh đố kỵ, đến võ quán thách đấu, bị Tô Hắc Hổ đánh bại thảm hại. Từ đó thanh danh nổi vang.

    Hắc hổ Thập hình quyền là quyền pháp mô phỏng thần thái của long (rồng), hổ (cọp), báo (beo), xà (rắn), hạc, sư (sư tử), tượng (voi), mã (ngựa, hầu (khỉ), điêu (chồn), động tác bài quyền phân làm 3 bộ phận là tiền thung, trung thung và hậu thung.

    Hồng quyền - Hoàng Kỳ Anh




    Hoàng Kỳ Anh là người Tây Tiều, Nam Hải. Công phu của ông là học từ Lục A Thái-truyền nhân của Hồng Hy Quan và Kim Câu Lý Hồ Tử, đều là danh thủ Thiếu Lâm. Kỳ Anh đem hết sở học của mình truyền cho con trai là Hoàng Phi Hồng. Hoàng Phi Hồng từng được thủ lĩnh quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc mời làm Tổng giáo luyện, huấn luyện kỹ thuật chiến đấu cho quân Cờ Đen, cùng đến Đài Loan chiến đấu chống quân Nhật. Hai cha con đều lừng danh ở chốn võ lâm.

    Túy quyền - Tô Xán

    Tô Xán vốn con nhà giàu có, lúc nhỏ mê võ nghệ, có gây oán thù với bang Phủ Đầu trong vùng. Sau bị bang này quấy phá, lại thêm bị mắc phải âm mưu của người Tây là Smith, lại thêm sai lầm của bản thân khiến người yêu là Hồng Ỷ Liên bỏ đi… do đó phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, phải xin ăn qua ngày. Về sau, tại trấn Trường Sa, Hồ Nam, Tô Xán được cha là Tô Quý và Thiết Kiều Tam hết lòng giúp đỡ, mới quyết tâm làm lại từ đầu. Võ nghệ, võ đức đều vang danh ngang với Thiết Kiều Tam, trở thành 1 trong “Quảng Đông thập hổ”.

    Thiết tuyến quyền - Lương Khôn

    Thiết Kiều Tam Lương Khôn lúc nhỏ học đại sư Thiếu Lâm Lý Hồ Tử, luyện thành công phu “thiết kiều”, tức cánh tay trước rắn như sắt. Ông tính tình rộng rãi, từng tại Quảng Châu dùng võ công chế thắng quần hùng từ các nơi đến, danh tiếng vang lừng. Sau Thiết Kiều Tam nghiện thuốc phiện nặng, được Viên Quang hòa thượng giúp cai, truyền cho Tam thập lục điểm Đồng hoàn côn pháp tại Năng Nhân tự. Nhưng vì thể lực quá suy nên nhiễm bệnh mà chết, thọ 73 tuổi.

    Nhuyễn miên chưởng - Châu Thái

    Châu Thái là người Trạm Giang, mê võ đến cuồng si. Lúc nhỏ luyện Châu gia quyền, tự cao tự đại, cho quyền pháp gia truyền của mình là nhất. Sau nhiều phen bại trận, được cao nhân chỉ điểm mới thoát thai hoán cốt, cải biến Châu gia quyền thành môn quyền lấy nhu làm chính, trong nhu có cương, thế thế nối nhau liên miên bất tận, hình thành tuyệt kỹ “Nhuyễn miên chưởng”.

    Thất tinh quyền - Lê Nhân Siêu

    Lê Nhân Siêu là người thông minh, cơ trí, có thể gọi là ‘trí tướng” trong “thập hổ”. Lê Nhân Siêu võ công cao cường nhưng kín đáo không lộ tướng, rất hiếm khi xuất thủ. Môn Thất tinh quyền của ông còn gọi là Thất thương quyền, chiêu thức cực hiểm, có thể giết đối phương trong một chiêu.

    Đàm gia tam triển - Đàm Tế Quân

    Đàm Tế Quân là người hào sảng, lúc nhỏ tính tình nóng nảy, sau theo tông sư Vịnh Xuân quyền Lương Tán tập luyện, không chỉ võ công tiến bộ mà tính cách trở nên ổn trọng, trầm tĩnh. Sau kết thân với những nhân vật cách mạng, không tiếc xả thân vì nghĩa.

    Kim cang chỉ pháp - Trần Trường Thái

    Trần Trường Thái võ công chủ về cương, xuất thủ nhanh như chớp, chỉ lực cực mạnh, luyện thành Kim cang chỉ pháp-ngón tay như sắt, nên được xưng là “Thiết chỉ Trần”. Trần vốn xuất thân thấp kém, khởi đầu quyết chí làm giàu, cho rằng “không quyền thế thì không thể giàu” nên sẵn sàng ỷ mạnh hiếp yếu. Về sau mới ngộ ra, cùng các anh em khác trong “thập hổ” lập chí chống ngoại xâm.

    Quảng Đông thập hổ 10 cao thủ võ thuật Quảng Đông Trung Quốc

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Quảng Đông (Trung Quốc) từng có 10 nhân vật võ công-võ đức cực cao, hành hiệp trượng nghĩa, được mọi người tôn kính, giới võ lâm gọi là “Quảng Đông thập hổ” (10 con hổ ở đất Quảng Đông). Trong 10 người này, có một số về sau trở thành thủ lĩnh của những võ đoàn ở địa phương, tạo nên nhiều giai thoại truyền kỳ. Cuộc đời của họ là đề tài khai thác hấp dẫn của sân khấu cũng như điện ảnh.

    Hoàng Phi Hồng có nằm trong thập hổ? Đây là vấn đề vẫn còn tranh cãi. Trong phim về họ Hoàng do diễn viên nổi tiếng Quan Đức Hưng đóng thì nhiều lần đề cập đến “Quảng Đông thập hổ Hoàng Phi Hồng”. Trong tiểu thuyết võ hiệp “Võ đàn nhị hổ” của Trần Kính tiên sinh cũng liệt Hoàng Phi Hồng vào hàng thập hổ. Nhưng trong “Hoàng Phi Hồng truyện” của Chu Ngu Trai-đệ tử của Lâm Thế Vinh (cao đồ của Hoàng Phi Hồng) thì Phi Hồng không có tên trong “Quảng Đông thập hổ” mà thay vào đó là Châu Thái.

    Một nhân vật khác là Tô Xán cũng có nhiều nghi vấn về xuất thân. Trong phim “Võ trạng nguyên Tô Khất Nhi” của Châu Tinh Trì thì họ Tô có tên đầy đủ là Tô Sát Ha Nhi Xán, người Mãn Châu. Nhưng ngoài phim này ra thì chưa từng có tài liệu nào nói đến cái tên này.

    “Quảng Đông thập hổ” gồm các nhân vật sau

    Bạch hạc Hiệp gia quyền Vương Ẩn Lâm, Cửu long quyền Hoàng Trừng Khả, Hắc hổ Thập hình quyền Tô Hắc Hổ, Hồng quyền Hoàng Kỳ Anh (cha của Hoàng Phi Hồng), Đàm gia tam triển Đàm Tế Quân, Thất tinh quyền Lê Nhân Siêu, Túy quyền Tô Xán (tục xưng là Tô Khất Nhi), Thiết tuyến quyền Lương Khôn (tục xưng là Thiết Kiều Tam), Kim cang chỉ pháp Trần Trường Thái (tục xưng là Thiết Chỉ Trần), Nhuyễn miên chưởng Châu Thái (tục xưng là Châu Thiết Đầu).

    Bạch hạc Hiệp gia quyền - Vương Ẩn Lâm

    Hiệp gia quyền ở Quảng Đông là do đại hiệp Lý Hồ Tử từ Tứ Xuyên đến vùng Triệu Khánh truyền dạy tại chùa Khánh Vân, núi Đỉnh Hồ. Đại đệ tử là Vương Ẩn Lâm (còn có tên là Vương Phi Long) được chân truyền, sau về Quảng Châu hoàn tục dạy võ. Cao đồ của Vương Ẩn Lâm là Vương Luân truyền cho Đặng Cẩm Đào, Đặng truyền cho Ngô Triệu Chung, Ngô cải tiến quyền pháp, phát huy đặc điểm của Hạc hình, tạo thành Bạch hạc phái. Một phân chi của Bạch hạc phái phát triển ra nước ngoài, gọi tôn sư Vương Luân là “lạt ma” nên hình thành Lạt ma phái.

    Đặc điểm của Hiệp gia quyền là xuất quyền như mãnh hổ, chú trọng tấn công, trường kiều đại mã, lối đánh rộng thoáng, quyền pháp cương mãnh, chủ phát trường kình, chủ động tấn công. Công phu trấn môn có Thập nhị chi kiều, Đại-tiểu La hán, Hổ hạc tương đấu; binh khí có đơn đao, Tả bả thương, Cửu điểm thập nhị thương, Hưởng côn.

    Cửu long quyền - Hoàng Trừng Khả

    Hoàng Trừng Khả là nhân vật võ lâm nổi tiếng ngay thẳng, thiện lương. Hoàng vốn không thích võ thuật. Khi đại sư Hồng quyền Lục A Thái đang bị triều đình truy sát, Hoàng Trừng Khả một lòng cứu giúp. Lục sư phụ cảm cái ơn ấy mới khéo léo đem tuyệt học của Hồng quyền truyền cho Hoàng, từ đó mới vang danh thiên hạ.

    Hắc hổ Thập hình quyền - Tô Hắc Hổ

    Tô Hắc Hổ là người ở Bắc Cương, Thuận Đức, từ nhỏ ham võ nghệ. Sau nhờ hòa thượng Triệu Đức là võ tăng Thiếu Lâm Tự thường hạ sơn hóa duyên ở Quảng Đông đưa về Tung Sơn Thiếu Lâm Tự truyền dạy suốt 9 năm, tinh thông Hắc hổ Thập hình quyền, Túy bát tiên quyền, Hắc hổ đao, Kim cang côn… 24 tuổi Tô Hắc Hổ hạ sơn lập võ quán Thiếu Lâm Hắc hổ môn ở Sơn Quan, Quảng Châu, người đến học rất đông. Trong vùng có vị võ sư nổi tiếng phái Võ Đang là Lữ Vinh đố kỵ, đến võ quán thách đấu, bị Tô Hắc Hổ đánh bại thảm hại. Từ đó thanh danh nổi vang.

    Hắc hổ Thập hình quyền là quyền pháp mô phỏng thần thái của long (rồng), hổ (cọp), báo (beo), xà (rắn), hạc, sư (sư tử), tượng (voi), mã (ngựa, hầu (khỉ), điêu (chồn), động tác bài quyền phân làm 3 bộ phận là tiền thung, trung thung và hậu thung.

    Hồng quyền - Hoàng Kỳ Anh




    Hoàng Kỳ Anh là người Tây Tiều, Nam Hải. Công phu của ông là học từ Lục A Thái-truyền nhân của Hồng Hy Quan và Kim Câu Lý Hồ Tử, đều là danh thủ Thiếu Lâm. Kỳ Anh đem hết sở học của mình truyền cho con trai là Hoàng Phi Hồng. Hoàng Phi Hồng từng được thủ lĩnh quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc mời làm Tổng giáo luyện, huấn luyện kỹ thuật chiến đấu cho quân Cờ Đen, cùng đến Đài Loan chiến đấu chống quân Nhật. Hai cha con đều lừng danh ở chốn võ lâm.

    Túy quyền - Tô Xán

    Tô Xán vốn con nhà giàu có, lúc nhỏ mê võ nghệ, có gây oán thù với bang Phủ Đầu trong vùng. Sau bị bang này quấy phá, lại thêm bị mắc phải âm mưu của người Tây là Smith, lại thêm sai lầm của bản thân khiến người yêu là Hồng Ỷ Liên bỏ đi… do đó phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, phải xin ăn qua ngày. Về sau, tại trấn Trường Sa, Hồ Nam, Tô Xán được cha là Tô Quý và Thiết Kiều Tam hết lòng giúp đỡ, mới quyết tâm làm lại từ đầu. Võ nghệ, võ đức đều vang danh ngang với Thiết Kiều Tam, trở thành 1 trong “Quảng Đông thập hổ”.

    Thiết tuyến quyền - Lương Khôn

    Thiết Kiều Tam Lương Khôn lúc nhỏ học đại sư Thiếu Lâm Lý Hồ Tử, luyện thành công phu “thiết kiều”, tức cánh tay trước rắn như sắt. Ông tính tình rộng rãi, từng tại Quảng Châu dùng võ công chế thắng quần hùng từ các nơi đến, danh tiếng vang lừng. Sau Thiết Kiều Tam nghiện thuốc phiện nặng, được Viên Quang hòa thượng giúp cai, truyền cho Tam thập lục điểm Đồng hoàn côn pháp tại Năng Nhân tự. Nhưng vì thể lực quá suy nên nhiễm bệnh mà chết, thọ 73 tuổi.

    Nhuyễn miên chưởng - Châu Thái

    Châu Thái là người Trạm Giang, mê võ đến cuồng si. Lúc nhỏ luyện Châu gia quyền, tự cao tự đại, cho quyền pháp gia truyền của mình là nhất. Sau nhiều phen bại trận, được cao nhân chỉ điểm mới thoát thai hoán cốt, cải biến Châu gia quyền thành môn quyền lấy nhu làm chính, trong nhu có cương, thế thế nối nhau liên miên bất tận, hình thành tuyệt kỹ “Nhuyễn miên chưởng”.

    Thất tinh quyền - Lê Nhân Siêu

    Lê Nhân Siêu là người thông minh, cơ trí, có thể gọi là ‘trí tướng” trong “thập hổ”. Lê Nhân Siêu võ công cao cường nhưng kín đáo không lộ tướng, rất hiếm khi xuất thủ. Môn Thất tinh quyền của ông còn gọi là Thất thương quyền, chiêu thức cực hiểm, có thể giết đối phương trong một chiêu.

    Đàm gia tam triển - Đàm Tế Quân

    Đàm Tế Quân là người hào sảng, lúc nhỏ tính tình nóng nảy, sau theo tông sư Vịnh Xuân quyền Lương Tán tập luyện, không chỉ võ công tiến bộ mà tính cách trở nên ổn trọng, trầm tĩnh. Sau kết thân với những nhân vật cách mạng, không tiếc xả thân vì nghĩa.

    Kim cang chỉ pháp - Trần Trường Thái

    Trần Trường Thái võ công chủ về cương, xuất thủ nhanh như chớp, chỉ lực cực mạnh, luyện thành Kim cang chỉ pháp-ngón tay như sắt, nên được xưng là “Thiết chỉ Trần”. Trần vốn xuất thân thấp kém, khởi đầu quyết chí làm giàu, cho rằng “không quyền thế thì không thể giàu” nên sẵn sàng ỷ mạnh hiếp yếu. Về sau mới ngộ ra, cùng các anh em khác trong “thập hổ” lập chí chống ngoại xâm.

    心意拳 : 有“外三合”和“內三合”.
    Tâm Ý Quyền : bao gồm "Ngoại tam hợp" cùng "Nội tam hợp".

    “外三合”是指“肩與胯合,肘與膝合,手與足合”,即是身體各部分在運拳時都要互相配合的;
    "Ngoại tam hợp" tức là "Vai với háng hợp, cùi trỏ với đầu gối hợp, đầu với chân hợp", tức toàn bộ thân thể các bộ phận phải phối hợp khi đưa quyền tới đích;

    “內三合”是指“心與意合,意與气合,气與力合”,即是要內心的心情與拳招、
    "Nội tam hợp" phải đạt "tâm với ý hợp, ý với khí hợp, khí với lực hợp", tức nội tâm cùng với đường quyền đều phải ra chiêu.

    五行練功法
    Ngũ hành luyện công pháp


    (一)劈拳是導引方法 動作是前擠后掣上擁下壓的正立圓形,要注意一气的起落.
    ( Nhất ) phách quyền thị đạo dẫn phương pháp động tác thị tiền tễ hậu xế thượng ủng hạ áp đích chánh lập viên hình, yếu chú ý nhất khí đích khởi lạc.

    (二)崩拳是催進方法 動作是前出后入,鑽翻的循環圓形,要注意一气的出入.
    Nhị ) băng quyền thị thôi tiến phương pháp động tác thị tiền xuất hậu nhập, toản phiên đích tuần hoàn viên hình, yếu chú ý nhất khí đích xuất nhập.

    (三)鑽拳是潮濟滋潤方法 動作是曲中求直,先高后低的小立圓形,要注意一气的上下.
    ( Tam ) toản quyền thị triều tể tư nhuận phương pháp động tác thị khúc trung cầu trực, tiên cao hậu đê đích tiểu lập viên hình, yếu chú ý nhất khí đích thượng hạ.

    (四)炮拳是排擠方法 動作是左右顧打的斜立圓形,要注意一气的開合.
    ( Tứ ) pháo quyền thị bài tễ phương pháp động tác thị tả hữu cố đả đích tà lập viên hình, yếu chú ý nhất khí đích khai hợp.

    (五) 橫拳是輾轉方法 動作是左右滾轉的圓形,要注意一气的團聚.
    ( Ngũ ) hoành quyền thị triển chuyển phương pháp động tác thị tả hữu cổn chuyển đích viên hình, yếu chú ý nhất khí đích đoàn tụ.

    Tâm Ý Quyền cơ bản quyền pháp :

    Nhất thị cơ bổn công ;
    Lưu kê thối, Kê thải bộ, Hùng xuất động (thung công).

    Nhị thị cơ bổn quyền pháp ;
    Thập tự Bả, Tứ bả quyền, Thập nhị Tượng (toàn chùy), Thập tam quyền, Dĩ cập lưỡng khố, Tứ bàng, Tứ trửu, Tứ tất, tứ phốc, tứ thủ, Lục pháo, Bát bả đẳng đơn bàn công.

    Khí giới sáo lộ ;
    Lục thương, Thất thương, Đại thương, Thập tam thương, Tam thập lục phong ma thương, Xuân thu đại đao, lục hợp đao, Tam thập lục loan đao dĩ cập liên kiếm (nhất côn my, nhất côn hung, dĩ thiết liên liên tiếp, thị tương huyền tâm ý quyền độc hữu binh khí) đẳng công, kĩ, pháp thức.


    Lục Hơp quyền (六合拳) :

    Lục Hợp quyền (六合拳) xuất sứ tại vùng Thương Châu - Hà Bắc, được sáng lập vào thời Minh Triều bên Trung Hoạ Lúc mới xuất hiện đã có 1 hệ thống huấn luyện hoàn chỉnh, gồm nhiều đơn thế chiến đấu riêng biệt, lưu hành tại phiêu cục Thanh Quí tại Bắc Kịnh Tại phiêu cục Thanh Quí đã có các loại hình thế võ thuật của các môn trộn lẫn cùng huấn luyện song hành như : Hợp Hồng Quyền, Pháo Quyền, Trường Quyền Đại Đồng,... Thời Dân Quốc xưng danh Thiếu Lâm Lục Hợp Môn.

    Cuối Minh đầu Thanh triều, có nhân sĩ là Cơ Tế Khả (姬際可) (1602 - 1683), được người đời tôn xưng là "Thần Thương", từng truyền thụ môn quyền thuật là Lục Hợp Quyền. Ban đầu là từ môn Lục Hợp Thương diễn hoá mà thành môn quyền thuật này. Nội dung của Lục Hợp Quyền bao gồm thập hình, sau này đổi tên là Tâm Ý Quyền, hay Tâm Ý Lục Hợp Quyền, tự thành một chi của Bắc Thiếu Lâm Quyền tại vùng Hà Bắc.

    Các lưu phái chủ yếu của Lục Hợp Quyền :

    - Lục Hợp Đường Lang -六合螳螂拳
    - Tiểu Lục Hợp Quyền - 小六合
    - Đại Lục Hợp Quyền - 大六合
    - Lục Hợp Tự Nhiên Môn - 六合自然門
    - Lục hợp Bát Pháp Quyền - 六合八法拳
    - Tâm Ý Lục Hợp Quyền - 心意六合拳
    - Hình Ý Lục Hợp Quyền - 形意六合拳
    ...........

    Các nhân vật danh tiếng của Lục Hợp Quyền :

    - Đại đao Vương Ngũ (大刀王五), tên thật là Vương Chánh Nghị, tự là Tử Bân, người vùng Thương Châu. Thời thơ ấu, cha mất sớm, ở với Lý Phượng Cương và tập Lục Hợp Quyền pháp dòng Hồi Giáo. Khi học thành môn quyền pháp này, tự xưng là "Đạo đao Vương Ngũ", lên Kinh truyền dạy võ thuật tại phiêu cục Nguyên Thuận, kết giao thân hữu với thanh quan Đàm Kế Tuân, tức Đàm Tự Đồng. Tự Đồng theo Vương Ngũ tập võ cường thân. Tham gia phong trào Duy Tân cùng Tự Đồng, khi Duy Tân không thành, Tự Đồng tặng Vương Ngũ thanh "Phượng Củ Bảo Kiếm", làm phó tướng hình dịch. Khi quân binh ngoại quốc vào Trung Hoa, Vương Ngũ đã hạ sát rất nhiều binh lính các nước và bị súng ngoại quốc bắn hạ, bị cắt đầu để thị uy ngoài thạnh

    - Lưu Đức Khoan (劉德寬) nổi tiếng với Lục Hợp Đại Thương vang danh bắc ngũ tỉnh, giang hồ xưng là Đại Thương Lựu Tại Bắc Kinh.

    - Yến Tử Lý Tam ( 燕子李三)

    - Lâm Thế Xuân (林世春), người vùng Thương Châu (1825 - 1912), có danh là thất thủ "Kim Bất Hoán" tuyệt kỹ, danh xưng môn Lục Hợp Đường Lang Thủ.

    Tâm Ý Lục Hợp Quyền dùng lối đánh của "Thương pháp" trên chiến trường :

    Thuở xưa, khi các Giáo đầu cấm quân của Trung Hoa luyện võ, đều rất chú trọng tới thương pháp (kỹ thuật đánh giáo). Do đặc điểm của thương (giáo) là đánh trường trận, tấn công cự ly xa, sử dụng rất hữu hiệu cả trên bộ - trên ngựa - dưới nước - công phá thành lũy đối phương, nên rất được coi trọng.

    Thời Tống triều có Chu Đồng rất giỏi sử thương, học trò là Khương Duy sau làm "Giáo đầu cấm quân", tiếp theo là "Báo Tử Đầu Lâm Xung" trong chuyện Thủy Hử có nhắc tên, danh tướng Nhạc Vũ Mục chống quân Kim được sử sách lưu danh (Thần Thương định Bắc Cương) trong sử Trung Hoa,...

    Tâm Ý Lục Hợp Quyền tôn xưng Cơ Tế Khả là "Tổ Sư".

    Tâm ý lục hợp quyền

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    心意拳 : 有“外三合”和“內三合”.
    Tâm Ý Quyền : bao gồm "Ngoại tam hợp" cùng "Nội tam hợp".

    “外三合”是指“肩與胯合,肘與膝合,手與足合”,即是身體各部分在運拳時都要互相配合的;
    "Ngoại tam hợp" tức là "Vai với háng hợp, cùi trỏ với đầu gối hợp, đầu với chân hợp", tức toàn bộ thân thể các bộ phận phải phối hợp khi đưa quyền tới đích;

    “內三合”是指“心與意合,意與气合,气與力合”,即是要內心的心情與拳招、
    "Nội tam hợp" phải đạt "tâm với ý hợp, ý với khí hợp, khí với lực hợp", tức nội tâm cùng với đường quyền đều phải ra chiêu.

    五行練功法
    Ngũ hành luyện công pháp


    (一)劈拳是導引方法 動作是前擠后掣上擁下壓的正立圓形,要注意一气的起落.
    ( Nhất ) phách quyền thị đạo dẫn phương pháp động tác thị tiền tễ hậu xế thượng ủng hạ áp đích chánh lập viên hình, yếu chú ý nhất khí đích khởi lạc.

    (二)崩拳是催進方法 動作是前出后入,鑽翻的循環圓形,要注意一气的出入.
    Nhị ) băng quyền thị thôi tiến phương pháp động tác thị tiền xuất hậu nhập, toản phiên đích tuần hoàn viên hình, yếu chú ý nhất khí đích xuất nhập.

    (三)鑽拳是潮濟滋潤方法 動作是曲中求直,先高后低的小立圓形,要注意一气的上下.
    ( Tam ) toản quyền thị triều tể tư nhuận phương pháp động tác thị khúc trung cầu trực, tiên cao hậu đê đích tiểu lập viên hình, yếu chú ý nhất khí đích thượng hạ.

    (四)炮拳是排擠方法 動作是左右顧打的斜立圓形,要注意一气的開合.
    ( Tứ ) pháo quyền thị bài tễ phương pháp động tác thị tả hữu cố đả đích tà lập viên hình, yếu chú ý nhất khí đích khai hợp.

    (五) 橫拳是輾轉方法 動作是左右滾轉的圓形,要注意一气的團聚.
    ( Ngũ ) hoành quyền thị triển chuyển phương pháp động tác thị tả hữu cổn chuyển đích viên hình, yếu chú ý nhất khí đích đoàn tụ.

    Tâm Ý Quyền cơ bản quyền pháp :

    Nhất thị cơ bổn công ;
    Lưu kê thối, Kê thải bộ, Hùng xuất động (thung công).

    Nhị thị cơ bổn quyền pháp ;
    Thập tự Bả, Tứ bả quyền, Thập nhị Tượng (toàn chùy), Thập tam quyền, Dĩ cập lưỡng khố, Tứ bàng, Tứ trửu, Tứ tất, tứ phốc, tứ thủ, Lục pháo, Bát bả đẳng đơn bàn công.

    Khí giới sáo lộ ;
    Lục thương, Thất thương, Đại thương, Thập tam thương, Tam thập lục phong ma thương, Xuân thu đại đao, lục hợp đao, Tam thập lục loan đao dĩ cập liên kiếm (nhất côn my, nhất côn hung, dĩ thiết liên liên tiếp, thị tương huyền tâm ý quyền độc hữu binh khí) đẳng công, kĩ, pháp thức.


    Lục Hơp quyền (六合拳) :

    Lục Hợp quyền (六合拳) xuất sứ tại vùng Thương Châu - Hà Bắc, được sáng lập vào thời Minh Triều bên Trung Hoạ Lúc mới xuất hiện đã có 1 hệ thống huấn luyện hoàn chỉnh, gồm nhiều đơn thế chiến đấu riêng biệt, lưu hành tại phiêu cục Thanh Quí tại Bắc Kịnh Tại phiêu cục Thanh Quí đã có các loại hình thế võ thuật của các môn trộn lẫn cùng huấn luyện song hành như : Hợp Hồng Quyền, Pháo Quyền, Trường Quyền Đại Đồng,... Thời Dân Quốc xưng danh Thiếu Lâm Lục Hợp Môn.

    Cuối Minh đầu Thanh triều, có nhân sĩ là Cơ Tế Khả (姬際可) (1602 - 1683), được người đời tôn xưng là "Thần Thương", từng truyền thụ môn quyền thuật là Lục Hợp Quyền. Ban đầu là từ môn Lục Hợp Thương diễn hoá mà thành môn quyền thuật này. Nội dung của Lục Hợp Quyền bao gồm thập hình, sau này đổi tên là Tâm Ý Quyền, hay Tâm Ý Lục Hợp Quyền, tự thành một chi của Bắc Thiếu Lâm Quyền tại vùng Hà Bắc.

    Các lưu phái chủ yếu của Lục Hợp Quyền :

    - Lục Hợp Đường Lang -六合螳螂拳
    - Tiểu Lục Hợp Quyền - 小六合
    - Đại Lục Hợp Quyền - 大六合
    - Lục Hợp Tự Nhiên Môn - 六合自然門
    - Lục hợp Bát Pháp Quyền - 六合八法拳
    - Tâm Ý Lục Hợp Quyền - 心意六合拳
    - Hình Ý Lục Hợp Quyền - 形意六合拳
    ...........

    Các nhân vật danh tiếng của Lục Hợp Quyền :

    - Đại đao Vương Ngũ (大刀王五), tên thật là Vương Chánh Nghị, tự là Tử Bân, người vùng Thương Châu. Thời thơ ấu, cha mất sớm, ở với Lý Phượng Cương và tập Lục Hợp Quyền pháp dòng Hồi Giáo. Khi học thành môn quyền pháp này, tự xưng là "Đạo đao Vương Ngũ", lên Kinh truyền dạy võ thuật tại phiêu cục Nguyên Thuận, kết giao thân hữu với thanh quan Đàm Kế Tuân, tức Đàm Tự Đồng. Tự Đồng theo Vương Ngũ tập võ cường thân. Tham gia phong trào Duy Tân cùng Tự Đồng, khi Duy Tân không thành, Tự Đồng tặng Vương Ngũ thanh "Phượng Củ Bảo Kiếm", làm phó tướng hình dịch. Khi quân binh ngoại quốc vào Trung Hoa, Vương Ngũ đã hạ sát rất nhiều binh lính các nước và bị súng ngoại quốc bắn hạ, bị cắt đầu để thị uy ngoài thạnh

    - Lưu Đức Khoan (劉德寬) nổi tiếng với Lục Hợp Đại Thương vang danh bắc ngũ tỉnh, giang hồ xưng là Đại Thương Lựu Tại Bắc Kinh.

    - Yến Tử Lý Tam ( 燕子李三)

    - Lâm Thế Xuân (林世春), người vùng Thương Châu (1825 - 1912), có danh là thất thủ "Kim Bất Hoán" tuyệt kỹ, danh xưng môn Lục Hợp Đường Lang Thủ.

    Tâm Ý Lục Hợp Quyền dùng lối đánh của "Thương pháp" trên chiến trường :

    Thuở xưa, khi các Giáo đầu cấm quân của Trung Hoa luyện võ, đều rất chú trọng tới thương pháp (kỹ thuật đánh giáo). Do đặc điểm của thương (giáo) là đánh trường trận, tấn công cự ly xa, sử dụng rất hữu hiệu cả trên bộ - trên ngựa - dưới nước - công phá thành lũy đối phương, nên rất được coi trọng.

    Thời Tống triều có Chu Đồng rất giỏi sử thương, học trò là Khương Duy sau làm "Giáo đầu cấm quân", tiếp theo là "Báo Tử Đầu Lâm Xung" trong chuyện Thủy Hử có nhắc tên, danh tướng Nhạc Vũ Mục chống quân Kim được sử sách lưu danh (Thần Thương định Bắc Cương) trong sử Trung Hoa,...

    Tâm Ý Lục Hợp Quyền tôn xưng Cơ Tế Khả là "Tổ Sư".

    Chúng ta với danh từ "con người" với sự tất cả sự thông minh nhất trong muôn loài vật, nhưng "con người" đối với ống kính của các nhà khoa học, chúng ta chỉ là 1 loài trong danh sách hàng số 11.806.327.000 loài động vật hiện có mặt cùng sinh tồn và hiện diện trên quả đất, tuy nhiên chúng ta có thể nói và được đánh giá là một trong những loài động vật “yếu đuối” nhất, dễ dàng gầy đổ, thân thể mong manh, sức chịu đựng yếu đuối vì cấu trúc thành hình của chúng ta qua sự uốn nắn của thời gian và môi trường xung quanh từ khi lọt lòng mẹ, chỉ thật sự thich nghi và sinh tồn với một xã hội có nền văn minh tối thiểu. Nếu đem 1 “con người” rất bình thường chúng ta được bỏ vào khu rừng Amazon, hay xa mạc Sahara, hoặc giữa Thái Bình Dương bao la.v.v. Nếu không có một sự huấn luyện kỹ càng thật đặc biệt hoặc phép mầu đặc biệt nào đó thì chắc chắn rằng ‘con người” chúng ta sẽ khó sinh tồn được trong vòng 12 tiếng đồng hồ.

    Vì sự bất lợi thể chất đó khi thân thể chúng ta khi cần phải vận động một cách mạnh mẻ hoặc vận động nhiều hơn sinh hoạt bình thường, thân thể (physical) và tinh thần (Mental) cần thiết phải vận hành cho thật hoàn toàn thích nghi với môi trường mới khi cần thay đổi. Một buổi tập luyện tại các võ đường thường có khuynh hướng kéo dài ít nhất là 1 giờ cho đến 3 giờ tập luyện, tuy nhiên 15 phút đầu tiên vận động nóng người chính là 15 phút quan trọng nhất, vì tất cả kết quả tập luyện trong suốt thời gian còn lại sẽ bị ảnh hưởng và chi phối hoàn toàn bởi kỷ thuật và sự hữu hiệu của sự vận động này, chỉ cần 15 phút thiết yếu làm nóng người chúng ta sẽ có một buổi tập luyện thành công tại võ đường với đầy thích thú hay chúng ta sẽ được tập luyện với các vị Bác sĩ tại bệnh viện khoa xương cốt trong thời gian dài đầy tốn kém.

    Trong mỗi ngành thể thao đều có một lối “làm nóng người” riêng biệt mặc dù điều có chung một mục đích. Trong võ thuật sự vận động thường bắt đầy từ trên cao đi xuống thấp (Đầu đến chân), từ nhẹ nhàng đến nhanh/mạnh (Xoay cổ = Nhẹ ; hít đất = mạnh), đến làm nóng người đem lại cho chúng ta các yếu tố ích lợi sau đây:

    Tình thần sàng khoái

    Chuẩn bị thể lực:

    Phòng ngừa sự chấn thương:

    Nếu bạn muốn tránh và giảm các chấn thương trong các đòn thế Aikido, bạn phải tự đầu tư cho mình khoảng thời gian nhất định trước và sau buổi tập, đó là các “Làm nóng người” (Warm-up), “Làm dẻo người” (Stretch), và “Hạ nhiệt” (Cool down).

    Một cuộc nghiên cứu tại “Viện cao đẳng thể thao Úc Đại Lợi” (Australian Institute of Sport) vào tháng 8/2004 cho thấy rằng thời gian vận động làm nóng người cũng tùy thuộc vào số tuổi của vận động viên, và thời gian nghỉ ngơi sau mỗi giờ (1 giờ) tập luyện, tuổi càng lớn người ta càng phải bỏ nhiều thời gian vận động liên tiếp để có đuợc sự an toàn tối thiểu và thời gian dài hơn để nghỉ ngơi, bảng nghiên cứu được tóm tắt sau đây:

    Số Tuổi >Thời Gian Làm Nóng Người > Thời Gian Nghỉ Ngơi Sau 1 Giờ Tập

    01 – 10 tuổi > 20 phút> 15 phút
    10 – 20 tuổi > 10 phút> 10 phút
    20 – 30 tuổi > 15 phút> 15 phút
    30 – 40 tuổi > 20 phút> 20 phút
    40 – 45 tuổi > 25 phút> 30 phút
    45 – 50 tuổi > 35 phút> 45 phút
    50 tuổi trở lên > 40 phút> 80 phút

    Chuyện chấn thương trong khi luyện tập võ thuật hoặc chơi 1 môn thể thao nào đó chắc chắn là điều không thể nào tránh khỏi, nhưng các bạn có biết là rất nhiều tai nạn trong khi luyện tập Aikido có thể đã phòng ngừa và bằng cách tìm hiểu rõ nguyên nhân để chúng ta hầu có thể tìm cách đề phòng một cách tích cực hơn. Hầu hết 90% thương tích đều xảy ra trong khi luyện tập không đúng cách và do sai phương pháp khi thực hành.

    Một cuộc làm nóng người thành công là làm sao cho thân thể bạn tăng nhiệt tương đương với số nhiệt cao nhất trong thân thể của bạn trong 1-2 giờ tập sắp tới, các cơ bắp của bạn sẽ được co giản tới mức có thể không bị rách khi dùng đến nó, ngoài ra còn tăng nhịp tim hầu đưa khí sạch nhanh đến và đi khắp thân thể.

    Làm dẻo người cho thân thể và các khớp, cơ, bắp của bạn có thể có độ chịu đựng cao khi cần dùng đế nó một cách nhanh hơn bình thường, mọi bộ phận của thân thể phải được tập liên tiếp tối thiểu 30 giây để đạt đến mức thích hợp cho các đòn thể cần di chuyển mạnh. Tuy nhiên trước và sau buổi tập luyện Aikido mọi hô hấp phải thật nhẹ nhàng, bắp thịt luôn ở trạng thái tĩnh chứ không động như các cuộc tập luyện của Quyền anh hay Karate hoặc các môn võ thuật thuần cương.

    Giảm nhiệt sau khi tập nếu làm đúng cách sẽ đem cho thân thể bạn cảm giác bạn nhẹ nhàng, giúp giảm nhiệt độ thân thể trở lại bình thường (37oC), lọc bớt các thoán khí còn tại phổi, một buổi tấm bằng nuớc ấm ở nhiệt độ trên 30oC sẽ giúp bạn giảm các nhức mõi của các bắp thịt sau khi luyện tập.

    Xin trích lược bài viết về cách làm nóng của tác giả Chu Tất Tiến:

    Làm nóng từ trên cổ xuống dưới chân, từ phải qua trái.

    1-Luyện cổ: Có hai cách luyện cổ: xoay vòng và chuyển động thẳng. Xoay cổ từ phải qua trái 10 lần xong làm ngược lại, từ trái qua phải. (Ðếm thầm trong óc 1, 2, 3,...) Xoay đầu theo vòng tròn dựa trên chiếc trục cổ. Sau đó, hất mạnh đầu qua phải đến hết mức rồi chuyển hướng hất mạnh cổ sang bên trái, cả hai bên chừng 10 lần. Tiếp theo, gập đầu xuống ngực tối đa, xong ngửa cổ lên tối đa, cả hai hướng trên dưới chừng 10 lần. (Thở bình thường.) Theo một số y sĩ chuyên trị đau nhức, thế tập này còn có thể giúp trị bệnh đau tay hay vai gây ra bởi dây thần kinh cổ bị kẹt giữa hai khớp xương cổ.

    2-Luyện vai: Thả lỏng vai, tay xuôi theo người, tự xoay hai vai theo vòng tròn từ đằng sau ra đằng trước 10 lần, sau đổi hướng ngược lại, từ trước ra sau.

    3-Luyện cổ tay: Lắc cổ tay từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, mỗi thức 10 lần.

    4-Luyện lưng và hông: Ðứng thẳng người, hai tay chống hông, lấy thắt lưng làm trục, tự xoay phần trên thắt lưng theo một vòng tròn từ phải qua trái, từ trái qua phải, mỗi thức 10 lần. Vẫn thở bình thường, nhưng dài hơi hơn.

    5-Luyện đầu gối: Hai tay thả lỏng theo thân người, dang chân rộng, lấy chân dưới làm trụ, hơi hướng chân về bên phải, xoay phần trên đầu gối theo vòng tròn từ phải qua trái 10 lần. Chuyển hướng về bên trái, xoay đầu gối từ trái qua phải 10 lần.

    6-Luyện bàn chân và ngón chân: Nhấc khẽ một bàn chân lên, xoay bàn chân trên ngón chân, mỗi bên 10 lần. Lưu ý: Tất cả các thế trên đều có thể giúp cho các khớp xương chuyển dịch trơn tru, làm giảm bệnh đau nhức gây ra tại các khớp, nhất là sau một đêm ngủ, các khớp xuơng bị tê cứng.

    Bài khởi động Làm nóng người trước khi tập luyện

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Chúng ta với danh từ "con người" với sự tất cả sự thông minh nhất trong muôn loài vật, nhưng "con người" đối với ống kính của các nhà khoa học, chúng ta chỉ là 1 loài trong danh sách hàng số 11.806.327.000 loài động vật hiện có mặt cùng sinh tồn và hiện diện trên quả đất, tuy nhiên chúng ta có thể nói và được đánh giá là một trong những loài động vật “yếu đuối” nhất, dễ dàng gầy đổ, thân thể mong manh, sức chịu đựng yếu đuối vì cấu trúc thành hình của chúng ta qua sự uốn nắn của thời gian và môi trường xung quanh từ khi lọt lòng mẹ, chỉ thật sự thich nghi và sinh tồn với một xã hội có nền văn minh tối thiểu. Nếu đem 1 “con người” rất bình thường chúng ta được bỏ vào khu rừng Amazon, hay xa mạc Sahara, hoặc giữa Thái Bình Dương bao la.v.v. Nếu không có một sự huấn luyện kỹ càng thật đặc biệt hoặc phép mầu đặc biệt nào đó thì chắc chắn rằng ‘con người” chúng ta sẽ khó sinh tồn được trong vòng 12 tiếng đồng hồ.

    Vì sự bất lợi thể chất đó khi thân thể chúng ta khi cần phải vận động một cách mạnh mẻ hoặc vận động nhiều hơn sinh hoạt bình thường, thân thể (physical) và tinh thần (Mental) cần thiết phải vận hành cho thật hoàn toàn thích nghi với môi trường mới khi cần thay đổi. Một buổi tập luyện tại các võ đường thường có khuynh hướng kéo dài ít nhất là 1 giờ cho đến 3 giờ tập luyện, tuy nhiên 15 phút đầu tiên vận động nóng người chính là 15 phút quan trọng nhất, vì tất cả kết quả tập luyện trong suốt thời gian còn lại sẽ bị ảnh hưởng và chi phối hoàn toàn bởi kỷ thuật và sự hữu hiệu của sự vận động này, chỉ cần 15 phút thiết yếu làm nóng người chúng ta sẽ có một buổi tập luyện thành công tại võ đường với đầy thích thú hay chúng ta sẽ được tập luyện với các vị Bác sĩ tại bệnh viện khoa xương cốt trong thời gian dài đầy tốn kém.

    Trong mỗi ngành thể thao đều có một lối “làm nóng người” riêng biệt mặc dù điều có chung một mục đích. Trong võ thuật sự vận động thường bắt đầy từ trên cao đi xuống thấp (Đầu đến chân), từ nhẹ nhàng đến nhanh/mạnh (Xoay cổ = Nhẹ ; hít đất = mạnh), đến làm nóng người đem lại cho chúng ta các yếu tố ích lợi sau đây:

    Tình thần sàng khoái

    Chuẩn bị thể lực:

    Phòng ngừa sự chấn thương:

    Nếu bạn muốn tránh và giảm các chấn thương trong các đòn thế Aikido, bạn phải tự đầu tư cho mình khoảng thời gian nhất định trước và sau buổi tập, đó là các “Làm nóng người” (Warm-up), “Làm dẻo người” (Stretch), và “Hạ nhiệt” (Cool down).

    Một cuộc nghiên cứu tại “Viện cao đẳng thể thao Úc Đại Lợi” (Australian Institute of Sport) vào tháng 8/2004 cho thấy rằng thời gian vận động làm nóng người cũng tùy thuộc vào số tuổi của vận động viên, và thời gian nghỉ ngơi sau mỗi giờ (1 giờ) tập luyện, tuổi càng lớn người ta càng phải bỏ nhiều thời gian vận động liên tiếp để có đuợc sự an toàn tối thiểu và thời gian dài hơn để nghỉ ngơi, bảng nghiên cứu được tóm tắt sau đây:

    Số Tuổi >Thời Gian Làm Nóng Người > Thời Gian Nghỉ Ngơi Sau 1 Giờ Tập

    01 – 10 tuổi > 20 phút> 15 phút
    10 – 20 tuổi > 10 phút> 10 phút
    20 – 30 tuổi > 15 phút> 15 phút
    30 – 40 tuổi > 20 phút> 20 phút
    40 – 45 tuổi > 25 phút> 30 phút
    45 – 50 tuổi > 35 phút> 45 phút
    50 tuổi trở lên > 40 phút> 80 phút

    Chuyện chấn thương trong khi luyện tập võ thuật hoặc chơi 1 môn thể thao nào đó chắc chắn là điều không thể nào tránh khỏi, nhưng các bạn có biết là rất nhiều tai nạn trong khi luyện tập Aikido có thể đã phòng ngừa và bằng cách tìm hiểu rõ nguyên nhân để chúng ta hầu có thể tìm cách đề phòng một cách tích cực hơn. Hầu hết 90% thương tích đều xảy ra trong khi luyện tập không đúng cách và do sai phương pháp khi thực hành.

    Một cuộc làm nóng người thành công là làm sao cho thân thể bạn tăng nhiệt tương đương với số nhiệt cao nhất trong thân thể của bạn trong 1-2 giờ tập sắp tới, các cơ bắp của bạn sẽ được co giản tới mức có thể không bị rách khi dùng đến nó, ngoài ra còn tăng nhịp tim hầu đưa khí sạch nhanh đến và đi khắp thân thể.

    Làm dẻo người cho thân thể và các khớp, cơ, bắp của bạn có thể có độ chịu đựng cao khi cần dùng đế nó một cách nhanh hơn bình thường, mọi bộ phận của thân thể phải được tập liên tiếp tối thiểu 30 giây để đạt đến mức thích hợp cho các đòn thể cần di chuyển mạnh. Tuy nhiên trước và sau buổi tập luyện Aikido mọi hô hấp phải thật nhẹ nhàng, bắp thịt luôn ở trạng thái tĩnh chứ không động như các cuộc tập luyện của Quyền anh hay Karate hoặc các môn võ thuật thuần cương.

    Giảm nhiệt sau khi tập nếu làm đúng cách sẽ đem cho thân thể bạn cảm giác bạn nhẹ nhàng, giúp giảm nhiệt độ thân thể trở lại bình thường (37oC), lọc bớt các thoán khí còn tại phổi, một buổi tấm bằng nuớc ấm ở nhiệt độ trên 30oC sẽ giúp bạn giảm các nhức mõi của các bắp thịt sau khi luyện tập.

    Xin trích lược bài viết về cách làm nóng của tác giả Chu Tất Tiến:

    Làm nóng từ trên cổ xuống dưới chân, từ phải qua trái.

    1-Luyện cổ: Có hai cách luyện cổ: xoay vòng và chuyển động thẳng. Xoay cổ từ phải qua trái 10 lần xong làm ngược lại, từ trái qua phải. (Ðếm thầm trong óc 1, 2, 3,...) Xoay đầu theo vòng tròn dựa trên chiếc trục cổ. Sau đó, hất mạnh đầu qua phải đến hết mức rồi chuyển hướng hất mạnh cổ sang bên trái, cả hai bên chừng 10 lần. Tiếp theo, gập đầu xuống ngực tối đa, xong ngửa cổ lên tối đa, cả hai hướng trên dưới chừng 10 lần. (Thở bình thường.) Theo một số y sĩ chuyên trị đau nhức, thế tập này còn có thể giúp trị bệnh đau tay hay vai gây ra bởi dây thần kinh cổ bị kẹt giữa hai khớp xương cổ.

    2-Luyện vai: Thả lỏng vai, tay xuôi theo người, tự xoay hai vai theo vòng tròn từ đằng sau ra đằng trước 10 lần, sau đổi hướng ngược lại, từ trước ra sau.

    3-Luyện cổ tay: Lắc cổ tay từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, mỗi thức 10 lần.

    4-Luyện lưng và hông: Ðứng thẳng người, hai tay chống hông, lấy thắt lưng làm trục, tự xoay phần trên thắt lưng theo một vòng tròn từ phải qua trái, từ trái qua phải, mỗi thức 10 lần. Vẫn thở bình thường, nhưng dài hơi hơn.

    5-Luyện đầu gối: Hai tay thả lỏng theo thân người, dang chân rộng, lấy chân dưới làm trụ, hơi hướng chân về bên phải, xoay phần trên đầu gối theo vòng tròn từ phải qua trái 10 lần. Chuyển hướng về bên trái, xoay đầu gối từ trái qua phải 10 lần.

    6-Luyện bàn chân và ngón chân: Nhấc khẽ một bàn chân lên, xoay bàn chân trên ngón chân, mỗi bên 10 lần. Lưu ý: Tất cả các thế trên đều có thể giúp cho các khớp xương chuyển dịch trơn tru, làm giảm bệnh đau nhức gây ra tại các khớp, nhất là sau một đêm ngủ, các khớp xuơng bị tê cứng.

    Có lẽ chẳng cần xem xét rằng trong ngành Võ có nghệ thuật hay không. Bởi, trong dòng sinh hoạt thường hằng nghề ngành gì lại chẳng cần, có, hoặc liên quan tới nghệ thuật. Nghệ thuật là chỉ chung những việc làm có tính chuyên môn, đòi hỏi sự giỏi giang, khéo léo, nhằm đưa tới cái hoàn hảo nhất, cái đẹp. Có cả nghệ thuật mua bán, giao tế; nghệ thuật cắm hoa xẻ gỗ; thậm chí nghệ thuật khóc, cười, nghệ thuật nấu một cái … lẩu lươn kia mà. Điều cần bàn ở đây là vai trò của nghệ thuật trong Đạo và nghệ thuật của Võ như thế nào.

    Trong Đại Nam Quốc Âm tự vị, khi định nghĩa chữ võ, Huỳnh Tịnh Của có ghi: “Coi chữ Vũ” (QATV quyển hạ, trang 555, cột Phải). Khi định nghĩa chữ Vũ, tác giả lại ghi: “Coi chữ Võ” (QATV quyển hạ, trang 562, cột Phải). Hán tự, khi ta phát ra quốc âm có những chữ đọc trại đi, thành dị âm đồng nghĩa (những cặp Huỳnh – Hoàng, Nghinh – Nghênh, Giái – Giới, .v.v..). Chữ Vũ được đọc ra chữ Võ (Võ thuật hay Vũ thuật). Nhưng Võ đây có định nghĩa rõ ràng trong hầu hết các từ điển là: “Luyện gân cốt, nghề chiến đấu” (QATV – Huỳnh Tịnh Của); là: “Thuộc về dùng sức, dùng quân đội” (Tự điển Việt Nam, Ban Tu Thư Khai Trí – 1971 – trang 922); là: “Chỉ chung việc làm dựa trên sức mạnh – chỉ việc quân sự” (Hán – Việt Tân tự điển Nguyễn Quốc Hùng, trang 796); là: “Art of fighting – nghệ thuật chiến đấu” (Vietnamese English dictionary, Bùi Phụng – trang 947).

    Vậy, Võ (Vũ) không có ý nghĩa múa (Dance). Tuy nhiên về mặt ngoại hình, Vũ (múa) không có nội dung võ, nhưng võ lại có sự biểu trưng của múa, vờn. Do vậy từ lâu trong dân gian, trừ những lúc thượng đài (đấu võ), hoặc đang tranh đấu với ai đó (đánh võ), người ta gọi luôn là múa võ, múa quyền. Ngay cả khi có trang bị vật dụng binh khí, võ cụ, cũng gọi là múa roi, múa kiếm, múa gậy … Như vậy, trong một chừng mực nào đó, võ có cách múa. Chính điểm này, võ có khả năng trình diễn như một nghệ thuật thể hình.

    Trong quan hệ xã hội người, lúc hãy còn thiếu từ ngữ (hoặc trường hợp dị ngôn) thoạt kỳ thủy con người phải ra dấu, thay tiếng, bằng mắt, miệng, tay, chân. Bằng vào ý nghĩa ngôn tự, vào sắc thái tình cảm, mà sự ra dấu khác nhau. Lúc hạnh phúc, mừng rỡ, tán đồng, người ta vui vẻ bắt tay, ôm nhau, vỗ tay; thậm chí vờn múa hả hê. Vạn vật cũng có cách múa của nó khi vui vầy: con công xòe đôi cánh, chó vẫy đuôi, bầy én chao liệng mùa xuân, chim đá cá trừng. Một khi bất đồng, phản kháng, giận dữ, con người có sự chỉ trỏ, xô đẩy, thủ thế, những sinh vật khác cũng không ngoài qui luật tự vệ, sinh tồn, nên chó, mèo, cọp, khỉ mỗi loài đều có mỗi thế “võ” của chúng. Tóm lại, võ là khoa học về phương pháp tự vệ, hoặc tấn công kẻ khác bằng sức mạnh, hay phương tiện tạo ra sức mạnh. Có sức mạnh thì có sự tàn phá. Để hạn chế sự tàn phá của Võ, đã có Đạo.

    Võ không chỉ có kim chỉ nam là Đạo, mà cần có cái Nền, là Thuật. Thuật đây gồm kỹ, mỹ và nghệ thuật. Kỹ thuật là cái kỹ năng, là phần khoa học trong trong lãnh vực dạy võ, học võ, hành võ; là phương pháp xử lý sao cho chính xác, đạt hiệu quả cao nhất trong hoàn cảnh. Mỹ thuật là tinh thần thượng võ, cái nhân bản sáng tỏa bên trong, và thể hình sức lực bên ngoài. Người lực sĩ, võ sĩ, trước tiên phải đẹp từ trong cốt cách tinh thần mới ra ngoài hành động; từ cuộc sống bình thường tới lúc thượng võ đài. Chính cái đẹp bên trong chủ đạo cái đẹp hành động bên ngoài. Tổng thể thẩm mỹ này có ý nghĩa bảo chứng cho sức sống của Võ.

    Vậy nghệ thuật ẩn tàng chỗ nào trong võ? Đó là sự hòa quyện, kết tinh giữa kỹ thuật và mỹ thuật để tạo khởi một nội dung thuần khiết, đưa tiến trình hành động tới chỗ cao hơn, hoàn chỉnh; đẩy tới chỗ phần hữu hình của Đạo. Kỹ thuật là phần nâng cao, làm rộng sức mạnh. Nghệ thuật là phần tinh túy của võ. Nghệ thuật càng thâm sâu, càng huyền nhiệm, thực tế của võ càng đơn giản, nhưng tinh vi huyền ảo; thậm chí gọi rằng “vô chiêu”. Lúc ấy, sử dụng không khí, hóa gió, khiển mây, dùng thanh thay lực; sử dụng những thành phần ấy như từng sử dụng binh khí.

    Để giải thích chỗ này, có người bảo rằng võ thuật Đông Phương có nền móng trong cái nôi của nền văn hóa Tâm Thức. Cái Tâm và cái Thức ấy nằm trong ba dòng nguồn cội: Phật, Lão, Khổng. Nó thể hiện trọn vẹn, dứt khoát sự Xuất Nhập; hoặc giả nhập mà man mác như xuất, xuất mà hiện hữu như nhập. Cho nên, võ thuật đã mang không ít tính siêu nhiên và ý nghĩa siêu hình. Võ sư có khi là Đạo sĩ, Thiền giả. Võ nghệ cao cường lại sản sinh trong chùa chiền. Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Võ là hiện thực của đấu tranh, lắm khi lại nhuộm màu Lão Trang, nên nghệ thuật Sống, trong Võ, rất thênh thang cao khiết. Hành trình của võ thuật Đông Phương không thông qua – nếu không muốn nói là phó mặc – cái gọi là khoa học duy lý, mà là Tâm Đạo. Có người hành võ mà tầm ra đạo, đi từ bên này bến mê sang được bờ giác bên kia, thông qua đại ngộ.

    Từ tâm thức ảo diệu trên, chúng ta khó tìm thấy môn võ xuất hiện ở phương Đông có lối đánh hùng hục như Boxe, cho dù đó là những môn võ “son trẻ” được hiện đại hóa, kết hợp Đông Tây như Nhu Đạo, Karatedo, Thái Cực Đạo, Vovinam … Võ Phương Đông nói chung, và Việt Nam nói riêng, có những đặc trưng sau đây – cũng là nội dung nghệ thuật – là: lấy nhu trị cương, dứt khoát mà tinh tế; hoành mà tung, kinh mà quyền (hay ngược đảo lại); cái hiểm ẩn tàng trong sự uyển chuyển; vẻ đẹp thể hiện trong bước quyền, cước; chỗ thượng thừa thì tâm, linh, trí, lực quyện làm một; và khả năng đích thực của Võ Thuật là đưa tới sự chinh phục, hoàn thiện một hoàn cảnh hay một tình thế, hơn là có ý nghĩa triệt hạ, tàn sát.

    Nghệ thuật trong võ thuật có tác dụng gạn lọc, loại bỏ những hành vi thô bạo, thế tục, vụ lợi. Do quan niệm khắt khe – và do cái thực tế không kém phần thô bạo của một số võ quan, võ sĩ – mà ngày xưa ông bà ta có trọng văn khinh võ; xem con nhà võ là thành phần tổng hợp bởi những cơ bắp, dọa dẫm kẻ yếu bằng những thứ binh khí rổn rảng chốn võ biền.

    Ngày nay quan niệm trọng văn khinh võ đã trở nên xa lạ, trong một xã hội mong muốn hòa bình, nhưng mỗi con người phải có khả năng chinh phục, và không dễ dàng bị chinh phục. Võ thuật đã là một khoa học của sức mạnh mang tính nhân văn. Do nhu cầu sinh hoạt của con người mà có, vậy võ thuật sẽ được cải tiến, tồn tại mãi cùng với những sinh hoạt hữu ích khác. Mỗi cá nhân được may mắn tiếp cận với võ thuật, là con nhà võ, nếu cố gắng tu luyện, sẽ đạt tới chỗ lành mạnh, cân bằng, điều hòa tâm, sinh, thể, trí. Ở chừng mực nào đó, võ thuật có vai trò làm sáng tỏ, chứng minh rằng xã hội con người hãy còn tồn tại lòng vị tha bác ái, đức tính dũng cảm, chân thật.

    Nghệ thuật nào cũng có một mục đích duy nhất là phục vụ cho Nghệ thuật Sống. Mà nghệ thuật sống, có một ý nghĩa tích cực và triệt để, là làm sao cho mỗi cá nhân trong mỗi xã hội càng ngày càng tiến tới hoàn chỉnh chất Người. Mong rằng trong đó có đóng góp của võ thuật, một nghệ thuật của khoa học sức mạnh, khác với thế giới chữ nghĩa, nhưng hoàn toàn không đối lập, mà đầy đậm bản chất nhân văn.

    Cung Tích Biền
    Võ thuật và các bộ môn nghệ thuật
    Điện ảnh
    Võ thuật và các bộ môn nghệ thuật sân khấu, điện ảnh gắn bó với nhau từ rất lâu, nhưng hầu như chỉ bắt đầu phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của Lý Tiểu Long trong loạt phim quyền cước do anh thủ vai diễn viên chính như Thanh Phong Hiệp, Đường Sơn Đại Huynh, Tinh Võ Môn, Long Tranh Hổ Đấu, Mãnh Long Quá Giang, Tử Vong Du Hí. Sau anh, rất nhiều diễn viên, võ sĩ đã tham gia diễn xuất như Khương Đại Vệ, Địch Long, La Liệt, Vương Vũ, Trần Tinh, Trần Quang Thái, Phó Thanh, ... là những diễn viên nổi tiếng của Hồng Kông vào những năm đầu thập kỷ 1970, sau này còn có thêm Thành Long (Jackie Chan), Hồng Kim Bảo, Quan Chi Lâm, Hà Gia Kính, Lý Liên Kiệt(Jet Li), Triệu Văn Trác, Chân Tử Đan (còn gọi là Chung Tử Đơn), Phàn Thiếu Hoàng, Ngô Kinh, Chu Nhuận Phát, với loạt phim về Hồng Hi Quan và Phương Thế Ngọc, Nam Thiếu Lâm,Hoàng Phi Hồng, Hoắc Nguyên Giáp, Nghiêm Vịnh Xuân và Vịnh Xuân Quyền, Hồng Gia Quyền, v.v.

    Dòng "phim chưởng" nhiều tập một thời phát triển mạnh mẽ từ những năm cuối của thập kỷ 1960 ở Hồng Kông và các nước trong khu vực Đông Nam Á hiện đã dần nhường chỗ cho sự xuất hiện của những phim một tập được phương Tây đánh giá cao như phim Anh hùng, Ngọa Hổ Tàng Long, Thập diện mai phục, Kungfu, v.v. Và gần đây nhất là Tony Jaa, một chiến binh Muay Thái xuất sắc, anh đã cho ra series phim OngBak (Truy tìm tượng Phật) và Tom Yung Goong (The Protector), những pha hành động của anh làm bao nhiêu người phải thán phục, nhào lộn và trình diễn võ thuật. Có thể nói anh là lớp trẻ sau này nối tiếp Lý Tiểu Long, Thành Long và Lý Liên Kiệt.


    Vũ đạo
    Vũ đạo là một loại hình nghệ thuật múa cổ truyền của Trung Hoa, loại hình nghệ thuật này phổ biến mạnh từ các bộ tộc người Hán ở phương bắc Trung Quốc từ khu vực nội Mông cho đến các vùng Hoa Bắc, Sơn Đông và Hà Bắc (Trung Quốc).

    Vũ đạo có một vai trò ảnh hưởng nhất định đến các bộ môn võ thuật thuộc miền Bắc Trung Hoa làm cho văn hóa nghệ thuật của đất nước này trở nên đa sắc thái và giàu tính nhân văn.


    Kinh Kịch
    Kinh kịch là một loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu cổ truyền của Trung Hoa thường có các màn biểu diễn võ thuật cổ truyền Trung Hoa.

    Các thể loại phim quyền cước còn được gọi là phim Kungfu của Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan không phải là loại phim hành động của Mỹ mà thật ra có nguồn gốc từ Kinh kịchdo các diễn viên và đạo diễn sân khấu chuyển sang.


    Tuồng, Chèo
    MỞ MÀN

    Quang cảnh trước sân đình, ngày hội làng được mùa tại nông thôn miền Bắc (Sơn Tây), hai bên trai gái quây quần hát quan họ (Bài Thanh Bình Ca), rồi rút vào. Tiếp theo đó, một đoàn thôn nữ xuất hiện với bài ca và điệu vũ ca ngợi được mùa. Một lúc sau, đoàn thôn nữ múa hát lùi dần vào hậu trường, chỉ còn tiếng hát xa vời, rồi tắt hẳn....

    THANH BÌNH CA

    NỮ:

    Kiếp người là người ngắn ngủi ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Ngắn ngủi bóng câu qua thềm (láy)
    Hỏi người là người trai Việt ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Tinh thần, tinh thần yêu nước ra sao ? Anh Hai đó ơi (i hi)
    Hãy trả áo cơm cho đời (láy)

    NAM:

    Quyết rằng là rằng quyết trả ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Quyết trả áo cơm cho đời (láy)
    Hỏi người là người thanh nữ ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Tâm đồng, tâm đồng gánh vác giang sơn ? Cô Ba đó ơi (ihi)
    Nghĩa cả sáng hơn trăng rằm (láy)

    NỮ:

    Nghĩa rằng là rằng nghĩa cả ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Nghĩa cả sáng hơn trăng rằm (láy)
    Hỏi người là người trai Việt ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Nguyện gì, nguyện gì dưới ánh gươm thiêng ? Anh Hai đó ơi (ihi)
    Nước Việt sáng tươi muôn màu (láy)

    NAM:

    Nước rằng là rằng nước Việt ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Nước Việt sáng tươi muôn màu (láy)
    Thỏa lòng là lòng mơ ước ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Thanh bình, thanh bình khucù hát chơi vơi, cô Ba đó ơi (ihi)
    Thanh sử nét son tô bồi (láy)

    NỮ:

    Thanh rằng là rằng thanh sử ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Thanh sử nét son tô bồi (láy)
    Hỡi người là người trai Việt ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Đi vào, đi vào nếp sống cao sang, anh Hai đó ơi (ihi)
    Võ Đạo viết lên ngang trời (láy).

    ĐƯỢC MÙA

    Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát
    Ánh trăng thanh chiếu qua làng xơ xác
    Chiêu hồn quê bao khúc ca yêu đời (láy)

    Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát
    Ước mong sao luau hai mùa thơm ngát
    Lúa về mang bao khúc ca tuyệt vời (láy)

    Lờ lững trôi qua trôi mãi trong chiều tà tiếng tiêu buồn êm quá.
    Hồn ngất ngây trong tiếng hát đưa nhịp nhàng tiếng cười thơ ngây.
    Mừng trăng khuya tiếng chày chênh chếch bóng khuất sau rặng tre thưa.
    Tiếng ai hò chập chùng xa đưa.
    Hò là hò lơ hó lơ hò lờ, nầy anh em ơi giã cho thật đều, giã cho thật nhanh, giã cho khéo kẻo trăng phai tàn. Khoan hò khoan tiếng chày khua vang mãi trong đêm tàn. Hò là hò lơ hó lơ hò lờ.


    Chiếc quán bên đường có một mái hiên, bên ngoài bày hai chiếc bàn nhỏ lơ thơ một ống đũa, mấy chiếc chén úp, mộït điếu thuốc lào và mấy chiếc ghế gỗ (khoảng 1/3sân khấu). Nàng Ba đang loay hoay dọn dẹp bên trong quán.

    ÔNG LỘC HỘ: (bước vào, khoan thai ngồi xuống phía bàn bên trái ngoài hiên)

    Nào cháu Ba! Cho ta bát nước che tươi...
    Nắm lá chè xanh cháu vẫn hái trên đồi
    Ướp hoa bưởi, hoa nhài trong xóm nắng...

    NÀNG BA: (Kính cẩn chào và mang ấm ra rót vào chiếc bát trên bàn được mở ra)

    - Thưa thầy Lộc, hội làng ta đã vãn
    Còn em Tư, sao chưa thấy trở về ?
    Nó lại ham chơi ...

    ÔNG LỘC HỘ: (cười vui vẽ):

    - Nó tiễn bạn bè
    Vừa mãn khóa đầu quân đi giúp nước
    Ta hiểu lắm, cháu ba, trận Thăng Long thưở trước
    Giặc vào thành, tàn sát hết sinh linh
    Hưng Đạo Vương nhất đáng phải lui binh
    Gia đình cháu...
    (Nàng Ba xúc động, ngồi xuống ghế ôm mặt khóc, làm ông ngừng lại một chút, đổi hướng chuyện)
    Ồ chuyện xưa tiếp diễn
    Giặc đại bại lần đầu chưa nguôi hiếu chiến
    Lại tính trò sách nhiễu dọa binh đao
    Quê hương ta đành mài kiếm luyện anh hào ...!

    NÀNG BA: (Lau nước mắt đứng lên):

    Thưa thầy Lộc, vì khí thiêng tiếp nối
    Song thân cháu ngày xưa ... khi hấp hối
    Vẫn không quên trăng trối với đàn sau:
    Nước non này không thoát khỏi binh đao
    Phải luyện võ, dựng anh hào cứu nước...

    ÔNG LỘC HỘ:

    Đúng, phải giữ vững cơ đồ thuở trước
    Bằng bàn tay dũng lược trước thù xa
    Bằng trái tim từ ái trước dân ta
    Chí hướng đó tỏ như vầng nhật nguyệt
    Đẹp như hoa, nhưng vững như núi biếc
    Dài như sông và rộng tựa đại dương ...
    (có thể hát điệu lý con sáo)
    Bởi tình đất nuớc quê hương
    Dùng chân lấy xã Đông Bang làm nhà
    (làm, làm nhà, làm nhà ở xã Đông Bang)
    Chợt quên nếp sống giang hà
    Mở trường dạy võ dân ta giúp đời...
    (giúp, giúp đời, giúp đời dạy võ thanh niên)
    (Ông nhấp một hốp nước, trong lúc từ xa có tiếng vó ngựa nổi lên gần dần)
    Lợi danh là bóng mậy trôi
    Nước non là chuyện muôn đời bền lâu...
    (Chuyện, muôn đời, muôn đời non nước yêu thương)

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Hiên ngang bước vào, phía ngoài còn tiếng ngựa hí vọng theo.

    Chàng thoáng quan sát, rồi ngồi xuống chiếc bàn đối diện với ông Lộc Hộ, cởi bao kiếm dằn mạnh lên bàn tay đầy vẻ oai phong lẫm liệt, rồi cất giọng sang sảng hách dịch về phía nàng Ba):
    Cô chủ quán! Cho ta hồ rượu quý
    Nhớ thịt mềm chiên nhấy gấp vài cân
    Tráng sĩ ta, vó ngựa thấm phong trần
    Mau rượu thịt tẩy trần cho ấm bụng !

    NÀNG BA:

    Thưa ! quán nghèo chốn đồi cao gió lộng
    Dám đâu khoe hải vị với sơn hào...
    Chút nem chua xin thế thịt chiên xào ...

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Ồ...! Được thôi...! Nhớ cho ra rượu quý
    Một bình men Đông Hải nhớ đong nay
    Uống một bình xem thế sự vần xoay
    Sao Hôm đó hóa sao Mai trong khoảnh khắc
    (Nàng Ba lui vào, Đoàn Tự Tôn cảm khái rút kiếm gõ lên mặt bàn ngâm):
    Bừng bừng uy vũ cõi trời Nam
    Muôn thuở còn vang tiếng họ Đoàn
    Ơn nước không quên thề bách thắng
    Nghĩa nhà dám vượt cuộc thiên nan
    Kiếm thần tỏa sáng muôn cường địch
    Ngựa báu tung hoành vain ải quan
    Đổi loạn thành yên thay tạo hóa
    Anh Hùng nhất thống một giang san...
    (chợt nhìn sang bàn ông Lộc Hộ, khẽ nhíu mày, vổ mạnh kiếm xuống bàn hách dịch hỏi):
    Này lão hữu ! Bộ đồ kia ... Hừ ! võ phục
    Thật hay đùa ! dám mặc dọa nhi đồng !
    A ...! Có điều ta hỏi, biết hay không !
    Phải nói that chớ quanh co, lỗ mỗ
    Này! Có biết cửa nhà ông Lộc Hộ...?

    ÔNG LỘC HỘ: (Ngạc nhiên)
    Lộc Hộ...?

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Hừ, người phải gọi là Ông Lộc Hộ
    Để biểu dương tôn kính bậc hiền tài

    ÔNG LỘC HỘ: (hỏi lại)
    Ông Lộc Hộ ...

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Người anh hùng suốt một lộ Quốc Oai
    Hừ, vị đó chính là Ông Lộc Hộ
    Giết giặc gúp đời, gần xa mến mộ
    Suốt Đà Giang cho tới Phụng Hoàng Sơn
    Từ Thăng Long trẩy xuống lộ Thiên Trường
    Đều khét tiếng Đệ Nhất Nam Phương Võ Sĩ.
    Núi Đa Chông đánh tan loài thổ phỉ
    Chặn sông Lô, tận diệt giặc trên nguồn
    Như tiềm long, hiện biến đó ai lường
    Mới thấy khúc đầu, mình đuôi biến mất
    Sớm đó Ba Vì chiều qua Thạch Thất
    Rồi, cần câu thuyền nhỏ thoắt sông Đà...

    ÔNG LỘC HỘ: Tráng sĩ quá lời

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Rót rượu tợp một hơi uống cạn, cười ha hả):

    Ta sợ vẫn nôm na
    Không diễn tả nổi chân dung người được
    A ... Vị đó có tên là Thầy Lộc
    Quanh quất đâu đây dạy võ giúp đời
    Nào tiên sinh, có biết, nói ra lời ...?

    ÔNG LỘC HỘ: (Thở dài)

    Tôi có nghe đó là người tri bỉ
    Tự biết mình tài trí kém người xưa
    Nên xếp gươm, buộc sách lánh sông hồ
    Câu danh lợi thả trôi trên dòng suối ...!

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Vổ bàn quát)

    Người biết gì đến nước nguồn, cây cội !!
    Dám coi thường khí tiết bậc hùng anh !
    Thấy rồng bay dám nghĩ rắn trong tranh
    Nghe sấm nổ tưởng nồi cơm động vỡ!
    (lại uống và ăn nhồm nhoàm)
    Ta cấm đó ! Phải, vì... Ông Lộc Hộ
    Người ta tìm vò võ đã ba thu...

    ÔNG LỘC HỘ: Có phải ruổi rong vì tráng sĩ muốn thù ?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Lại nổi giận quát tháo ầm ỉ)

    Lại láo khoét ! Dám đặt điều vô lễ
    Ta họ Đoàn, muốn phục hưng nhà Đại Lý
    Cháu đích tôn Đoàn Thượng đại anh hùng
    Giận vì quân Thủ Độ quá gian hùng
    Đào hầm lợp cỏ lễ Thái Đường diệt Lý
    Giật hầm sập, chôn sống mấy trăm người đang tế lễ
    Bắt Chiêu Hoàng bé tý phải nhường ngôi
    Tổ phụ ta thề chẳng đội chung trời
    Cùng Nguyễn Nộn dấy binh trừ Thủ Độ
    Ghê cho lão gian hùng bày trò Lục Sở
    Chia đất giảng hòa chân vạc, thế tam phân
    Súc siểm Nguyễn kia đột kích họ Đoàn
    Rồi trở mặt dấy binh tiêu diệt Nguyễn
    Từ đó sài lang nghênh ngang chính điện
    Chính nghĩa diệt Trần phù Lý hóa tiêu vong...

    ÔNG LỘC HỘ:

    Từ đó thù kia tráng sĩ ghi lòng ...?
    Muốn khôi phục một ngai vàng đổi chủ ?

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Phải, vì thế, ta muốn tìm ông Lộc Hộ
    Nhờ một tay, làm lại chuyện hưng binh ...!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Căn cứ vào đâu, người muốn chuyện tày đình ?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Cười ha hả, lại uống)

    Ếch đáy giếng hiểu trời cao bằng miệng thúng
    Người u mê thích nói chuyện trên trời
    Túc hạ biết không ? Trò vật đổi sao dời
    Sắp tái diễn triền miên trên đất Việt!
    Kìa Mông Cổ, đám binh hùng chém giết
    Vượt Trường Thành, diệt Tống với bình Kim
    Lửa Bắc Kinh ngùn ngụt bốn mươi đêm
    Thây tử sĩ chất cao hơn đỉnh núi
    Như bảo tố cuống phong ào ào cuốn tới
    Suốt Đông Âu, Tiêu Á thoắt tơi bời
    Vùng Cận Đông nay gió máu tanh hôi
    Nước La Sát chìm trong màu khói lửa
    Chúng thừa thắng, nhắm Tây Âu tiến nữa
    Rồi thăm dò trận nhỏ nước Nam này
    Hai ngàn quân dưới trướng Ngột Lương Hợp Thai
    Mới ấp đánh, Trần Triều lùi hết cỡ
    Như gió lốc ập vào Thăng Long bỏ ngỏ
    Tàn sát dân ta già, trẻ, gái, trai
    Hưng Đạo Vương lùi về lộ Quốc Oai
    Thu thập tàn binh cố tìm đường sống
    Trần Nhật Hiệu muốn hàng, nêu câu nhập Tống
    Vua toan theo, ngại Thủ Độ mưu đồ
    Dám ba hoa: Đầu chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo
    May giặc nhỏ, mới còn cơ cứu độ
    Và cũng nhờ giặc không quen thủy thổ
    Ốm bò lê, nên rượt đuổi tơi bời
    Nhưng rồi sau, lại tiến cống từng hồi
    Giặc bắt nộp bốn hạng người: Nho; Y; Lý; Thủ
    Về tiến vật, lại trò xưa tích cũ
    Bắt về Tàu kỳ vật nước Nam ta
    Nào, bây giờ ta hãy thử bàn xa
    Theo túc hạ, giặc hòa hay đánh nữa ?

    ÔNG LỘC HỘ: Ôi vận nước, lại mắc vòng binh lửa ...!

    ĐOÀN TỰ TÔN: (lại uống và khinh bạc)

    Ta khá khen túc hạ hiểu thời cơ
    Đã tới hồi hưng phục Lý triều xưa...

    ÔNG LỘC HỘ: (giật mình thoáng sửng sốt)

    Tráng sĩ nói gì, kẻ ngu phu không kịp hiểu
    Sao giặc tới, phải tống tân nghênh cựu ?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (cười ha hả)

    Có gì đâu túc hạ, thế tam phân
    Nước Nam ta sẽ diễn lại một lần
    Nhờ Mông Cổ sẽ diệt Trần hưng LÝ
    Từ Vân Nam, Đoàn gia bên Đại Lý
    Chạy về Nam cùng hợp sức điều quân
    Ta chờ coi Mông Cổ phá nhà Trần
    Sẽ xuất phát phục hưng nhà Đại Lý
    Đất nước ta, rồi vang danh bốn bể
    Từ Vân Nam chạy suốt tới Diễn Châu...
    (lại uống rượu)
    Chà, mãi vui, cần lập lại từ đầu
    Đại sự ấy, phải một người cầm soái ấn
    Chà, người đó ẩn danh, thừa tài lược trận
    Chính duệ tôn vọng tộc Lý triều ta
    Túc hạ biết không, người đó chính là...

    ÔNG LỘC HỘ: (cười ngất)

    Ông Lộc Hộ ...?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Trừng mắt,. Đứng vụt dậy rút gươm)

    Sao dám kêu căng cười ngất
    Ông Lộc Hộ, vi anh hùng Thạch Thất
    Chính tiềm Long ở ẩn Phượng Hoàng Sơn
    Người ta tìm, người đó phải phi thường
    Sao dám buông lời...

    CẬU TƯ: (Em trai nàng Ba, vừa dẫn sứ giả Trần Thành tới, khoanh tay lên tiếng):

    Dạ thưa thầy Lộc!
    Ông khách lạ hỏi thăm đường, gặp con trên triền dốc
    Ngựa lạc trong rừng, người hoảng hốt đã nhiều đêm...

    ÔNG LÔC HỘ: (Giật mình quay lại hỏi khách)

    Người tìm ai ?

    TRẦN THÀNH: (Cung tay kính cẩn):

    Mộ danh ông Lộc Hộ
    Suốt tháng trường ruổi rong trên mình ngựa
    Lạc lối rừng, không đến nỗi Phượng Hoàng Sơn
    Rủi hóa may, gập cháu nhỏ bên đường
    Lão gợi ý, mới về nay diện kiến!

    ĐOÀN TỰ TÔN: (sửng sốt đứng bật dậy, chỉ vào ông Lộc Hộ hỏi hoảng hốt):

    Ông Lộc Hộ... Không, không, người lầm sông với biển
    Biển hay sông...? Chẳng lẽ mắt không tròng
    Người là ai...? Ông Lộc Hộ phải người không?

    NÀNG BA: (bước ra, trong lúc ông Lộc Hộ tủm tỉm cười)
    Ông Lộc Hộ cũng có tên thầy Lộc
    Từ Phượng Hoàng Sơn về ẩnnáu xã Đông Bang
    Tráng sĩ vừa khen Rồng ẩn với Ngu Lang...

    ĐOÀN TỰ TÔN: (vội quỳ xuống vài như tế sao, giọng nghẹn ngào thảng thốt)

    Ông Lộc Hộ phải rồi... Người ở ẩn...
    Tuổi trẻ vô tình, xin người chớ giận...
    Sư Phụ ! Đệ tử mỏi công tìm
    Suốt ba năm ruổi ngựa suốt ngày đêm
    Mỏi mắt tìm người như chim non tìm mẹ
    (Chỉ vào Trần Thành)
    Thưa Sư Phụ ...Người này, sao... cũng thế ?
    (Lùi lại, quan sát một lúc)
    Đúng người rồi gian kế của Trần Triều!
    (Tiến tới sờ mó vào y phục của khách lạ)
    Hắn giả lái buôn đi lục lọi ở xóm nghèo
    Hòng truy diệt duệ tôn nhà họ Lý!
    (Hung hăng rút gươm)
    Xin Sư Phụ đừng can ngăn đồ đệ
    Kiếm long tuyền phải giết kẻ hung tàn!
    Nghĩ tới Trần Triều, ôi ứa máu sôi gan...!
    (Định ra tay, nhưng bị cậu Tư ngăn lại)

    CẬU TƯ:

    Đồ lỗ mãng mau dừng ngay kiếm lại!
    Nói ba hoa nào Sư Phụ, Môn Đồ
    Khách của ta sao giở thói côn đồ ?
    (Trần Thành lùi lại, Ông Lộc Hộ gật đầu ra hiệu ngồi xuống)

    ĐOÀN TỰ TÔN: (cũng hung hăng nồi giận)

    Tên tiểu tặc dám bênh Trần chống Lý
    Trước Thái Sơn còn giở thói hung hăng
    Rởn oai hùm, ta sẽ chém đầu phăng...!
    (Cả hai cùng thủ thế. Trận đấu diễn ra chớp nhoáng giữa Đoàn Tự Tôn dùng kiếm và cậu Tư tay không. Chỉ vài thế , cậu Tư đã đoạt được kiếm và đánh ngã đối thủ)

    ÔNG HỘC HỘ: (ôn tồn nâng Đoàn Tự Tôn dậy và ra hiệu cho cậu tư trả kiếm cho
    chàng)

    Xin thứ lỗi tiện đồ vừa thất lễ
    Việc còn đó, có gì mà tức khí
    Xin nể tình bộc trực của lão phu
    Mời tráng sĩ ngồi...
    (Và khoát tay quay sang Trần Thành)
    Tiên sinh an vị
    (Cả hai kéo ghế ngồi xuống hai bên Ông Lộc Hộ. Ông quay sang Trần Thành)
    Kẻ ngu phu biết sơ tài thiển trí
    Trót lánh mình miền cỏ nội hoa ngàn
    Bên Hươu nai mong hưởng thú an nhàn
    Có điều chi khiến triều đình trọng vọng
    Cử túc hạ tới vấn an đời sống?

    TRẦN THÀNH:

    Túc hạ khiêm nhường tôi biết nói sao nay?
    Vận nước đảo điên làm thế sự vần xoay
    Giặc Mông Cổ đánh Kinh Đô, người đã biết
    Suốt Thăng Long true già đều bị giết
    Xác lương dân xếp đống chật đường đi
    Thế giặc trùng trùng suốt giải biên thùy
    Cảnh xâm lược name xưa toan tái diễn
    Hưng Đạo Vương biết nước nhà nghịch biến
    Vội ngày đêm thao dượt, chống quân Mông
    Nghe đại danh người chẳng quản núi sông
    Sai tại hạ tới thỉnh cầu, xin giúp nước...

    ĐOÀN TỰ TÔN: (vổ bàn thét)

    Lại Thủ Độ, trò hề mua chuộc
    Đem lợi danh, nhử kẻ anh hùng
    Sư Phụ đừng tin, tiếp sức lũ ngông cuồng
    (Xa xa chợt có tiếng la thép ầm ầm, tiếng vó ngựa rượt đuổi, cảnh đốt phá
    sáng rực, cùng với tiếng người kêu khóc dồn dập)

    ÔNG LỘC HỘ: (vội đứng bật dậy)

    Giặc đã về, xin khoan câu khách lễ
    Cháu Tư đâu! Ra nghe ngóng tình hình...
    (Cậu tư vâng mệnh đi ngay)

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Vùng đứng bật dậy)

    Chẳng có lẽ là.. tiền quân Đại Lý?

    TRẦN THÀNH: (Ngơ ngác, hoảng hốt)

    Đại Lý nào?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (cười ngất)

    Đại Lý của thiên đình
    Từ Vân Nam, xuống diệt ngụy Trần thoán nghịch
    Thưa Sư Phụ đó là ta, không là địch ...
    (Tiếng ngựa hí quân reo, tiếng kêu khóc gần hơn. Cậu Tư hốt hoảng chạy vào)

    CẬU TƯ:

    Đám tàn quân Đại Lý từ Vân Nam...
    Sư Phụ ơi...!Chúng đốt phá xóm làng
    Cướp tài vật, giết người như đốn củi
    Người ngựa trùng trùng, chúng đang ập tới...

    ÔNG LỘC HỘ: (Mỉm cười quay sang Đoàn Tự Tôn)

    Đoàn Tự Tôn .. Phải Đại Lý họ Đoàn
    Đang vung bàn tay khát máu bạo tàn
    Giết đám dân hiền vô tội?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Lúng túng)

    Không, không, không phải tiền quân Đại Lý...

    ÔNG LỘC HỘ: (Đanh thép)

    Dù chúng là ai, cũng giống tanh hôi
    Đã giết dân. Là thù địch với ta rồi
    Cháu Ba, cháu Tư, cháu Đoàn cùng sứ giả
    Mau rút lui để mình ta tử thủ ngăn đường...

    NÀNG BA: (chạy ra quỳ xuống)

    Cháu không đành chạy giặc bỏ quê hương
    Mặc thày Lộc chặn đường quân giặc dữ!
    (quay sang mọi người hỏi lớn)
    Các người biết mãnh hổ nan địch quần hồ chứ?
    Đánh hay lùi, hãy nói rõ hết ra đi
    Tài tướng quân đâu hãy tỏ mặt nam nhi...!
    (mọi người đều hô đánh, trừ Đoàn Tự Tôn ngồi xuống ghế run lẩy bẩy)

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Không được đâu... giặc đông, đừng... tự tử !
    Hàng là hơn rồi sẽ tính chuyện trùng hưng...

    CẬU TƯ:

    Nào ngựa, nào gươm, nào vỗ ngực anh hùng,
    Thấy giặc đến ngồi run như cốt khỉ
    Thế cũng khoe Tự Tôn nhà họ Lý ...!
    (định xông lại hành hung, ông Lộc Hộ phải khoát tay can)

    ÔNG LỘC HỘ:

    Cháu Tư hãy khoan, đâu phải lúc thị cường !
    (quay về phía Đoàn Tự Tôn)
    Đoàn Tự tôn ngươi hãy trốn sau vườn...
    (tiếng ngựa hí rồn rập, tướng giặc và một toán giặc khách xuất hiện)

    TƯỚNG GIẶC:

    Ta muốn biết: Có ai tên Lộc Hộ?
    Lộc Hộ chính là người ta hâm mộ
    Nói cho mau, không chớ trách vô tình !

    ÔNG LỘC HỘ:

    Xin tướng quân hãy bớt nổi lôi đình
    Lộc Hộ chính là tôi, có điều chi chỉ giáo?

    TƯỚNG GIẶC: (lùi lại, trỏ vào ông Lộc Hộ, cười ha hả)

    Lộc Hộ đó ư? Thật tình hay nói láo?
    Ta nghe danh, nay mới gặp nhà ngươi
    Nhưng Nam Phương Dũng Sĩ là thực chất hay nói chơi?
    Muốn thử kiếm, côn, quyền hay kích dáo?

    ÔNG LỘC HỘ:

    Kẻ ngu phu xin thêm lời thỉnh giáo
    Thắng thì sao, va nếu bại thì sao?

    TƯỚNG GIẶC:

    Nếu ngươi thua, ta sẽ bắt về Tàu
    Chừng người thắng
    (cười vang)
    Ta lui binh tức khắc!


    ÔNG LỘC HỘ:

    Lời nói đó lấy gì làm chính xác?

    TƯỚNG GIẶC:

    Ta xin thề!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Quyền cước sẽ trận đầu.
    Nào tướng quân, xin dẹp heat gươm đao...
    (Trận đấu ác liệt đưộc diễn ra. Cuối cùng, tướng giặc bị ông Lộc Hộ khóa tay
    giao cho cậu Tư. Rồi cấm kiếm dí vào ngực)
    Trói nó lại đứng sau ta thành lớp...!
    (mọi người đứng sau ông Lộc Hộ)

    TƯỚNG GIẶC:

    Mới có trận đầu, còn trận sau tiếp tục
    Sau nhà ngươi...

    ÔNG LỘC HỘ: (ấn mạnh mũi kiếm sát ngực tướng giặc)

    Miễn nói chuyện hơn thua
    Cứu quê hương đâu phải chuyện vui đùa
    Mà tỷ võ..thôi mau ra lệnh thoái!

    TƯỚNG GIẶC: Ta không nói...

    ÔNG LỘC HỘ: (Múa kiếm ra oai trước mặt tướng giặc)

    Phải mau mau kêu gọi
    Không, chớ trách ta đường kiếm vô tình

    (Lũ bộ hạ tướng giặc ngơ ngác, muốn tiến lên lại bị ông Lộc Hộ múa kiếm dọa giết, tướng giặc đành phải lùi)

    TƯỚNG GIẶC: (cuốicùng sợ chết, đành lên tiếng)

    Bớ ba quân! Hãy cấp tốc lui binh...!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Phải lui binh mười dậm!

    (lũ giặc rút khỏi, tướng giặc mới hoàn hồn khi ông Lộc Hộ thu kiếmlại)

    TƯỚNG GIẶC:

    Cởi trói cho ta. Ta đã làm theo lời dặn!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Thả ngươi đi, để tiếp tục điều quân
    Về bao vây, tàn sát xã Đông Bang?
    Ngươi lầm rồi, chờ quân Nam sắp tới...
    Ta sẽ bàn giao trước khi cởi trói...

    TƯỚNG GIẶC:

    Người anh hùng lấy thành tính làm đầu
    Vậy mà ngươi nuốt lời hứa hay sao ?

    ÔNG LỘC HỘ:

    Có chứ, ta tín với dân, thành với nước
    Còn quân xâm lăng như ngươi, ta đâu tha được !
    (Mọi người hoàn hồn bao quanh ông Lộc Hộ)

    NÀNG BA:

    Thầy Lộc trí mưu, đổi Biến thành An
    Cháu xin dâng chén rượu khải hoàn

    CẬU TƯ:

    Sư phụ ơi, tay không thầy đuổi giặc
    Tự ngàn xưa, câu chuyện thật hoang đường

    TRẦN THÀNH:

    Lão cảm phục vị hiền tài Kinh Bắc
    Trí mưu kia sẽ dẹp bọn ngông cuồng
    Xin vì dân nhắc mệnh Hưng Đạo Vương
    Mong túc hạ lên đường đi giúp nước...

    ĐOÀN TỰ TÔN: (quỳ xuống)

    Chút ảo vọng được thầy châm chước
    Xin từ nay xóa hết mọi mưu đồ
    Sư Phụ nhận cho... thâu nạp tiểu đồ...

    ÔNG LỘC HỘ: (Đỡ Đoàn Tự Tôn dậy, nói với tất cả mọi người)

    Đứng lên con! Lời con, ta chấp nhận
    Kể từ nay, con phải quên thù hận
    Rèn Tâm Thân vào Sức - Sống - Non -Sông
    Đất nước nào riêng của một giống dòng
    Đinh, Lê đó - đã Lý, Trần tiếp nối
    Lẽ tuần hoàn. Từ vọng cơ sang thịnh hội
    Mệnh trời ban ai tài đức kiên cường
    Sông dài kia, sông khác lại dài hơn
    Núi lớn đó, vẫn còn bao núi thẩm
    (vái chào Trần Thành)
    Kẻ sơn dã không quen nhìn trướng gấm
    Xin tha cho, về neap sống sông hồ
    Lộc Hộ tôi dành mắc tội cưỡng mệnh Vua
    Chỉ ước nguyện lui về miền núi biếc
    Lều cỏ,hang sâu, xem hoa, vịnh nguyệt
    Nhưng vẫn không quên vận nước trước cuồng Mông...

    TRẦN THÀNH: (Chấp tay vái tạ)

    Lưng ngựa chinh yên còn đó đợi anh hùng
    Không quên nước cớ sao người chẳng biết
    Vó ngựa quân thù sẽ bụi mù trên đất Việt
    Chốn hang sâu, lều cỏ, vững gì không?
    Có cỏ nào sống nổi với quân Mông?
    Hang sâu nào bảo vệ người khói lửa?
    Nước sắp mất, xin người đừng do dự nữa...!

    ÔNG LỘC HỘ: (Trầm ngâm)

    Túc hạ hoàn toàn hữu lý giữa trần ai
    Giữa trần ai...xin túc hạ ngắm sao Mai...
    Ruộng vẫn đó, đàn trâu còn sới đất
    Nhật nguyệt đó, có khi còn khi tắt
    Trên rừng kia, hoa nở vẫn ươm chồi
    Suối trên nguồn về với biển ngàn khơi
    Mây tụ rồi tan, người còn rồi mất
    Tất cả sống... để ngày mai về với đất...
    Còn lại quê hương, Tổ Quốc sông hồ...

    TRẦN THÀNH:

    Người nói gì thêm, lão vẫn ngẩn ngơ?

    ÔNG LỘC HỘ: (thở dài)

    Người có thấy, sau cơn mưa trời sẽ nắng
    Trải hào quang, trên khắp nẻo cô thôn?
    Người có thấy mây đen rồi sẽ trắng
    Nước từ sông ra biển lại mưa về nguồn?

    NÀNG BA: (reo lên hoan hỉ)

    Cháu hiểu rồi... Cháu hiểu rồi...Thưa thầy Lộc
    Trời sanh mây, vì thế tục cần mưa
    Trên cành non, nhện đó vẫn vương tơ
    Trong rừng xanh, đàn chim kia phải hót
    Trời xanh sông, sông phải mang nước ngọt
    Có biển xanh, biển đó mặn muôn trùng
    Các vật kỳ an..luật tạo hóa vô cùng!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Cháu đã hiểu, ta chỉ là người áo vải
    Nghiệp trời ban, tằm đó phải se tơ
    Kiếm giang hồ gặp màn nhung ngừng lại
    Nghề võ kia, sông đã laic đò rồi...
    (thở dài)
    Sao kia phải hiện trên trời
    Trăng kia phải mọc khi đời vào đêm...
    (chấp tay vái tạ Trần Thành)
    Xin cho kẻ ngu phu về núi thẳm
    Nghiệp tằm tơ sẽ nguyện luyện anh hào
    Người áo vải làm sao quen trướng gấm
    Thiếu dâu rồi, tằm biết sống ra sao...?

    TRẦN THÀNH: (cảm kích vái tạ)

    Người sống mãi với niềm đau dân tộc
    Người biến hóa những anh hùng đơn độc
    Một thành mười, mười sẽ hóa nên trăm
    Sắt kia rèn thành kiếm, trấn giang san,
    Non nước vững, dân tộc ta còn mãi

    Người thay đổi tam thân that vững chãi
    Rồi hy sinh quyết dựng lại ngày mai
    Người là ai thưa thầy Lộc, người là ai?
    Tình vẫn đó, quê hương ta sống mãi...!

    Nghệ thuật trong võ thuật - võ thuật, cuộc sống và các bộ môn nghệ thuật

    Posted at  tháng 11 14, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Có lẽ chẳng cần xem xét rằng trong ngành Võ có nghệ thuật hay không. Bởi, trong dòng sinh hoạt thường hằng nghề ngành gì lại chẳng cần, có, hoặc liên quan tới nghệ thuật. Nghệ thuật là chỉ chung những việc làm có tính chuyên môn, đòi hỏi sự giỏi giang, khéo léo, nhằm đưa tới cái hoàn hảo nhất, cái đẹp. Có cả nghệ thuật mua bán, giao tế; nghệ thuật cắm hoa xẻ gỗ; thậm chí nghệ thuật khóc, cười, nghệ thuật nấu một cái … lẩu lươn kia mà. Điều cần bàn ở đây là vai trò của nghệ thuật trong Đạo và nghệ thuật của Võ như thế nào.

    Trong Đại Nam Quốc Âm tự vị, khi định nghĩa chữ võ, Huỳnh Tịnh Của có ghi: “Coi chữ Vũ” (QATV quyển hạ, trang 555, cột Phải). Khi định nghĩa chữ Vũ, tác giả lại ghi: “Coi chữ Võ” (QATV quyển hạ, trang 562, cột Phải). Hán tự, khi ta phát ra quốc âm có những chữ đọc trại đi, thành dị âm đồng nghĩa (những cặp Huỳnh – Hoàng, Nghinh – Nghênh, Giái – Giới, .v.v..). Chữ Vũ được đọc ra chữ Võ (Võ thuật hay Vũ thuật). Nhưng Võ đây có định nghĩa rõ ràng trong hầu hết các từ điển là: “Luyện gân cốt, nghề chiến đấu” (QATV – Huỳnh Tịnh Của); là: “Thuộc về dùng sức, dùng quân đội” (Tự điển Việt Nam, Ban Tu Thư Khai Trí – 1971 – trang 922); là: “Chỉ chung việc làm dựa trên sức mạnh – chỉ việc quân sự” (Hán – Việt Tân tự điển Nguyễn Quốc Hùng, trang 796); là: “Art of fighting – nghệ thuật chiến đấu” (Vietnamese English dictionary, Bùi Phụng – trang 947).

    Vậy, Võ (Vũ) không có ý nghĩa múa (Dance). Tuy nhiên về mặt ngoại hình, Vũ (múa) không có nội dung võ, nhưng võ lại có sự biểu trưng của múa, vờn. Do vậy từ lâu trong dân gian, trừ những lúc thượng đài (đấu võ), hoặc đang tranh đấu với ai đó (đánh võ), người ta gọi luôn là múa võ, múa quyền. Ngay cả khi có trang bị vật dụng binh khí, võ cụ, cũng gọi là múa roi, múa kiếm, múa gậy … Như vậy, trong một chừng mực nào đó, võ có cách múa. Chính điểm này, võ có khả năng trình diễn như một nghệ thuật thể hình.

    Trong quan hệ xã hội người, lúc hãy còn thiếu từ ngữ (hoặc trường hợp dị ngôn) thoạt kỳ thủy con người phải ra dấu, thay tiếng, bằng mắt, miệng, tay, chân. Bằng vào ý nghĩa ngôn tự, vào sắc thái tình cảm, mà sự ra dấu khác nhau. Lúc hạnh phúc, mừng rỡ, tán đồng, người ta vui vẻ bắt tay, ôm nhau, vỗ tay; thậm chí vờn múa hả hê. Vạn vật cũng có cách múa của nó khi vui vầy: con công xòe đôi cánh, chó vẫy đuôi, bầy én chao liệng mùa xuân, chim đá cá trừng. Một khi bất đồng, phản kháng, giận dữ, con người có sự chỉ trỏ, xô đẩy, thủ thế, những sinh vật khác cũng không ngoài qui luật tự vệ, sinh tồn, nên chó, mèo, cọp, khỉ mỗi loài đều có mỗi thế “võ” của chúng. Tóm lại, võ là khoa học về phương pháp tự vệ, hoặc tấn công kẻ khác bằng sức mạnh, hay phương tiện tạo ra sức mạnh. Có sức mạnh thì có sự tàn phá. Để hạn chế sự tàn phá của Võ, đã có Đạo.

    Võ không chỉ có kim chỉ nam là Đạo, mà cần có cái Nền, là Thuật. Thuật đây gồm kỹ, mỹ và nghệ thuật. Kỹ thuật là cái kỹ năng, là phần khoa học trong trong lãnh vực dạy võ, học võ, hành võ; là phương pháp xử lý sao cho chính xác, đạt hiệu quả cao nhất trong hoàn cảnh. Mỹ thuật là tinh thần thượng võ, cái nhân bản sáng tỏa bên trong, và thể hình sức lực bên ngoài. Người lực sĩ, võ sĩ, trước tiên phải đẹp từ trong cốt cách tinh thần mới ra ngoài hành động; từ cuộc sống bình thường tới lúc thượng võ đài. Chính cái đẹp bên trong chủ đạo cái đẹp hành động bên ngoài. Tổng thể thẩm mỹ này có ý nghĩa bảo chứng cho sức sống của Võ.

    Vậy nghệ thuật ẩn tàng chỗ nào trong võ? Đó là sự hòa quyện, kết tinh giữa kỹ thuật và mỹ thuật để tạo khởi một nội dung thuần khiết, đưa tiến trình hành động tới chỗ cao hơn, hoàn chỉnh; đẩy tới chỗ phần hữu hình của Đạo. Kỹ thuật là phần nâng cao, làm rộng sức mạnh. Nghệ thuật là phần tinh túy của võ. Nghệ thuật càng thâm sâu, càng huyền nhiệm, thực tế của võ càng đơn giản, nhưng tinh vi huyền ảo; thậm chí gọi rằng “vô chiêu”. Lúc ấy, sử dụng không khí, hóa gió, khiển mây, dùng thanh thay lực; sử dụng những thành phần ấy như từng sử dụng binh khí.

    Để giải thích chỗ này, có người bảo rằng võ thuật Đông Phương có nền móng trong cái nôi của nền văn hóa Tâm Thức. Cái Tâm và cái Thức ấy nằm trong ba dòng nguồn cội: Phật, Lão, Khổng. Nó thể hiện trọn vẹn, dứt khoát sự Xuất Nhập; hoặc giả nhập mà man mác như xuất, xuất mà hiện hữu như nhập. Cho nên, võ thuật đã mang không ít tính siêu nhiên và ý nghĩa siêu hình. Võ sư có khi là Đạo sĩ, Thiền giả. Võ nghệ cao cường lại sản sinh trong chùa chiền. Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Võ là hiện thực của đấu tranh, lắm khi lại nhuộm màu Lão Trang, nên nghệ thuật Sống, trong Võ, rất thênh thang cao khiết. Hành trình của võ thuật Đông Phương không thông qua – nếu không muốn nói là phó mặc – cái gọi là khoa học duy lý, mà là Tâm Đạo. Có người hành võ mà tầm ra đạo, đi từ bên này bến mê sang được bờ giác bên kia, thông qua đại ngộ.

    Từ tâm thức ảo diệu trên, chúng ta khó tìm thấy môn võ xuất hiện ở phương Đông có lối đánh hùng hục như Boxe, cho dù đó là những môn võ “son trẻ” được hiện đại hóa, kết hợp Đông Tây như Nhu Đạo, Karatedo, Thái Cực Đạo, Vovinam … Võ Phương Đông nói chung, và Việt Nam nói riêng, có những đặc trưng sau đây – cũng là nội dung nghệ thuật – là: lấy nhu trị cương, dứt khoát mà tinh tế; hoành mà tung, kinh mà quyền (hay ngược đảo lại); cái hiểm ẩn tàng trong sự uyển chuyển; vẻ đẹp thể hiện trong bước quyền, cước; chỗ thượng thừa thì tâm, linh, trí, lực quyện làm một; và khả năng đích thực của Võ Thuật là đưa tới sự chinh phục, hoàn thiện một hoàn cảnh hay một tình thế, hơn là có ý nghĩa triệt hạ, tàn sát.

    Nghệ thuật trong võ thuật có tác dụng gạn lọc, loại bỏ những hành vi thô bạo, thế tục, vụ lợi. Do quan niệm khắt khe – và do cái thực tế không kém phần thô bạo của một số võ quan, võ sĩ – mà ngày xưa ông bà ta có trọng văn khinh võ; xem con nhà võ là thành phần tổng hợp bởi những cơ bắp, dọa dẫm kẻ yếu bằng những thứ binh khí rổn rảng chốn võ biền.

    Ngày nay quan niệm trọng văn khinh võ đã trở nên xa lạ, trong một xã hội mong muốn hòa bình, nhưng mỗi con người phải có khả năng chinh phục, và không dễ dàng bị chinh phục. Võ thuật đã là một khoa học của sức mạnh mang tính nhân văn. Do nhu cầu sinh hoạt của con người mà có, vậy võ thuật sẽ được cải tiến, tồn tại mãi cùng với những sinh hoạt hữu ích khác. Mỗi cá nhân được may mắn tiếp cận với võ thuật, là con nhà võ, nếu cố gắng tu luyện, sẽ đạt tới chỗ lành mạnh, cân bằng, điều hòa tâm, sinh, thể, trí. Ở chừng mực nào đó, võ thuật có vai trò làm sáng tỏ, chứng minh rằng xã hội con người hãy còn tồn tại lòng vị tha bác ái, đức tính dũng cảm, chân thật.

    Nghệ thuật nào cũng có một mục đích duy nhất là phục vụ cho Nghệ thuật Sống. Mà nghệ thuật sống, có một ý nghĩa tích cực và triệt để, là làm sao cho mỗi cá nhân trong mỗi xã hội càng ngày càng tiến tới hoàn chỉnh chất Người. Mong rằng trong đó có đóng góp của võ thuật, một nghệ thuật của khoa học sức mạnh, khác với thế giới chữ nghĩa, nhưng hoàn toàn không đối lập, mà đầy đậm bản chất nhân văn.

    Cung Tích Biền
    Võ thuật và các bộ môn nghệ thuật
    Điện ảnh
    Võ thuật và các bộ môn nghệ thuật sân khấu, điện ảnh gắn bó với nhau từ rất lâu, nhưng hầu như chỉ bắt đầu phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của Lý Tiểu Long trong loạt phim quyền cước do anh thủ vai diễn viên chính như Thanh Phong Hiệp, Đường Sơn Đại Huynh, Tinh Võ Môn, Long Tranh Hổ Đấu, Mãnh Long Quá Giang, Tử Vong Du Hí. Sau anh, rất nhiều diễn viên, võ sĩ đã tham gia diễn xuất như Khương Đại Vệ, Địch Long, La Liệt, Vương Vũ, Trần Tinh, Trần Quang Thái, Phó Thanh, ... là những diễn viên nổi tiếng của Hồng Kông vào những năm đầu thập kỷ 1970, sau này còn có thêm Thành Long (Jackie Chan), Hồng Kim Bảo, Quan Chi Lâm, Hà Gia Kính, Lý Liên Kiệt(Jet Li), Triệu Văn Trác, Chân Tử Đan (còn gọi là Chung Tử Đơn), Phàn Thiếu Hoàng, Ngô Kinh, Chu Nhuận Phát, với loạt phim về Hồng Hi Quan và Phương Thế Ngọc, Nam Thiếu Lâm,Hoàng Phi Hồng, Hoắc Nguyên Giáp, Nghiêm Vịnh Xuân và Vịnh Xuân Quyền, Hồng Gia Quyền, v.v.

    Dòng "phim chưởng" nhiều tập một thời phát triển mạnh mẽ từ những năm cuối của thập kỷ 1960 ở Hồng Kông và các nước trong khu vực Đông Nam Á hiện đã dần nhường chỗ cho sự xuất hiện của những phim một tập được phương Tây đánh giá cao như phim Anh hùng, Ngọa Hổ Tàng Long, Thập diện mai phục, Kungfu, v.v. Và gần đây nhất là Tony Jaa, một chiến binh Muay Thái xuất sắc, anh đã cho ra series phim OngBak (Truy tìm tượng Phật) và Tom Yung Goong (The Protector), những pha hành động của anh làm bao nhiêu người phải thán phục, nhào lộn và trình diễn võ thuật. Có thể nói anh là lớp trẻ sau này nối tiếp Lý Tiểu Long, Thành Long và Lý Liên Kiệt.


    Vũ đạo
    Vũ đạo là một loại hình nghệ thuật múa cổ truyền của Trung Hoa, loại hình nghệ thuật này phổ biến mạnh từ các bộ tộc người Hán ở phương bắc Trung Quốc từ khu vực nội Mông cho đến các vùng Hoa Bắc, Sơn Đông và Hà Bắc (Trung Quốc).

    Vũ đạo có một vai trò ảnh hưởng nhất định đến các bộ môn võ thuật thuộc miền Bắc Trung Hoa làm cho văn hóa nghệ thuật của đất nước này trở nên đa sắc thái và giàu tính nhân văn.


    Kinh Kịch
    Kinh kịch là một loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu cổ truyền của Trung Hoa thường có các màn biểu diễn võ thuật cổ truyền Trung Hoa.

    Các thể loại phim quyền cước còn được gọi là phim Kungfu của Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan không phải là loại phim hành động của Mỹ mà thật ra có nguồn gốc từ Kinh kịchdo các diễn viên và đạo diễn sân khấu chuyển sang.


    Tuồng, Chèo
    MỞ MÀN

    Quang cảnh trước sân đình, ngày hội làng được mùa tại nông thôn miền Bắc (Sơn Tây), hai bên trai gái quây quần hát quan họ (Bài Thanh Bình Ca), rồi rút vào. Tiếp theo đó, một đoàn thôn nữ xuất hiện với bài ca và điệu vũ ca ngợi được mùa. Một lúc sau, đoàn thôn nữ múa hát lùi dần vào hậu trường, chỉ còn tiếng hát xa vời, rồi tắt hẳn....

    THANH BÌNH CA

    NỮ:

    Kiếp người là người ngắn ngủi ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Ngắn ngủi bóng câu qua thềm (láy)
    Hỏi người là người trai Việt ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Tinh thần, tinh thần yêu nước ra sao ? Anh Hai đó ơi (i hi)
    Hãy trả áo cơm cho đời (láy)

    NAM:

    Quyết rằng là rằng quyết trả ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Quyết trả áo cơm cho đời (láy)
    Hỏi người là người thanh nữ ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Tâm đồng, tâm đồng gánh vác giang sơn ? Cô Ba đó ơi (ihi)
    Nghĩa cả sáng hơn trăng rằm (láy)

    NỮ:

    Nghĩa rằng là rằng nghĩa cả ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Nghĩa cả sáng hơn trăng rằm (láy)
    Hỏi người là người trai Việt ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Nguyện gì, nguyện gì dưới ánh gươm thiêng ? Anh Hai đó ơi (ihi)
    Nước Việt sáng tươi muôn màu (láy)

    NAM:

    Nước rằng là rằng nước Việt ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Nước Việt sáng tươi muôn màu (láy)
    Thỏa lòng là lòng mơ ước ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Thanh bình, thanh bình khucù hát chơi vơi, cô Ba đó ơi (ihi)
    Thanh sử nét son tô bồi (láy)

    NỮ:

    Thanh rằng là rằng thanh sử ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Thanh sử nét son tô bồi (láy)
    Hỡi người là người trai Việt ớ ớ ơ ớ ớ ớ
    Đi vào, đi vào nếp sống cao sang, anh Hai đó ơi (ihi)
    Võ Đạo viết lên ngang trời (láy).

    ĐƯỢC MÙA

    Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát
    Ánh trăng thanh chiếu qua làng xơ xác
    Chiêu hồn quê bao khúc ca yêu đời (láy)

    Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát
    Ước mong sao luau hai mùa thơm ngát
    Lúa về mang bao khúc ca tuyệt vời (láy)

    Lờ lững trôi qua trôi mãi trong chiều tà tiếng tiêu buồn êm quá.
    Hồn ngất ngây trong tiếng hát đưa nhịp nhàng tiếng cười thơ ngây.
    Mừng trăng khuya tiếng chày chênh chếch bóng khuất sau rặng tre thưa.
    Tiếng ai hò chập chùng xa đưa.
    Hò là hò lơ hó lơ hò lờ, nầy anh em ơi giã cho thật đều, giã cho thật nhanh, giã cho khéo kẻo trăng phai tàn. Khoan hò khoan tiếng chày khua vang mãi trong đêm tàn. Hò là hò lơ hó lơ hò lờ.


    Chiếc quán bên đường có một mái hiên, bên ngoài bày hai chiếc bàn nhỏ lơ thơ một ống đũa, mấy chiếc chén úp, mộït điếu thuốc lào và mấy chiếc ghế gỗ (khoảng 1/3sân khấu). Nàng Ba đang loay hoay dọn dẹp bên trong quán.

    ÔNG LỘC HỘ: (bước vào, khoan thai ngồi xuống phía bàn bên trái ngoài hiên)

    Nào cháu Ba! Cho ta bát nước che tươi...
    Nắm lá chè xanh cháu vẫn hái trên đồi
    Ướp hoa bưởi, hoa nhài trong xóm nắng...

    NÀNG BA: (Kính cẩn chào và mang ấm ra rót vào chiếc bát trên bàn được mở ra)

    - Thưa thầy Lộc, hội làng ta đã vãn
    Còn em Tư, sao chưa thấy trở về ?
    Nó lại ham chơi ...

    ÔNG LỘC HỘ: (cười vui vẽ):

    - Nó tiễn bạn bè
    Vừa mãn khóa đầu quân đi giúp nước
    Ta hiểu lắm, cháu ba, trận Thăng Long thưở trước
    Giặc vào thành, tàn sát hết sinh linh
    Hưng Đạo Vương nhất đáng phải lui binh
    Gia đình cháu...
    (Nàng Ba xúc động, ngồi xuống ghế ôm mặt khóc, làm ông ngừng lại một chút, đổi hướng chuyện)
    Ồ chuyện xưa tiếp diễn
    Giặc đại bại lần đầu chưa nguôi hiếu chiến
    Lại tính trò sách nhiễu dọa binh đao
    Quê hương ta đành mài kiếm luyện anh hào ...!

    NÀNG BA: (Lau nước mắt đứng lên):

    Thưa thầy Lộc, vì khí thiêng tiếp nối
    Song thân cháu ngày xưa ... khi hấp hối
    Vẫn không quên trăng trối với đàn sau:
    Nước non này không thoát khỏi binh đao
    Phải luyện võ, dựng anh hào cứu nước...

    ÔNG LỘC HỘ:

    Đúng, phải giữ vững cơ đồ thuở trước
    Bằng bàn tay dũng lược trước thù xa
    Bằng trái tim từ ái trước dân ta
    Chí hướng đó tỏ như vầng nhật nguyệt
    Đẹp như hoa, nhưng vững như núi biếc
    Dài như sông và rộng tựa đại dương ...
    (có thể hát điệu lý con sáo)
    Bởi tình đất nuớc quê hương
    Dùng chân lấy xã Đông Bang làm nhà
    (làm, làm nhà, làm nhà ở xã Đông Bang)
    Chợt quên nếp sống giang hà
    Mở trường dạy võ dân ta giúp đời...
    (giúp, giúp đời, giúp đời dạy võ thanh niên)
    (Ông nhấp một hốp nước, trong lúc từ xa có tiếng vó ngựa nổi lên gần dần)
    Lợi danh là bóng mậy trôi
    Nước non là chuyện muôn đời bền lâu...
    (Chuyện, muôn đời, muôn đời non nước yêu thương)

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Hiên ngang bước vào, phía ngoài còn tiếng ngựa hí vọng theo.

    Chàng thoáng quan sát, rồi ngồi xuống chiếc bàn đối diện với ông Lộc Hộ, cởi bao kiếm dằn mạnh lên bàn tay đầy vẻ oai phong lẫm liệt, rồi cất giọng sang sảng hách dịch về phía nàng Ba):
    Cô chủ quán! Cho ta hồ rượu quý
    Nhớ thịt mềm chiên nhấy gấp vài cân
    Tráng sĩ ta, vó ngựa thấm phong trần
    Mau rượu thịt tẩy trần cho ấm bụng !

    NÀNG BA:

    Thưa ! quán nghèo chốn đồi cao gió lộng
    Dám đâu khoe hải vị với sơn hào...
    Chút nem chua xin thế thịt chiên xào ...

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Ồ...! Được thôi...! Nhớ cho ra rượu quý
    Một bình men Đông Hải nhớ đong nay
    Uống một bình xem thế sự vần xoay
    Sao Hôm đó hóa sao Mai trong khoảnh khắc
    (Nàng Ba lui vào, Đoàn Tự Tôn cảm khái rút kiếm gõ lên mặt bàn ngâm):
    Bừng bừng uy vũ cõi trời Nam
    Muôn thuở còn vang tiếng họ Đoàn
    Ơn nước không quên thề bách thắng
    Nghĩa nhà dám vượt cuộc thiên nan
    Kiếm thần tỏa sáng muôn cường địch
    Ngựa báu tung hoành vain ải quan
    Đổi loạn thành yên thay tạo hóa
    Anh Hùng nhất thống một giang san...
    (chợt nhìn sang bàn ông Lộc Hộ, khẽ nhíu mày, vổ mạnh kiếm xuống bàn hách dịch hỏi):
    Này lão hữu ! Bộ đồ kia ... Hừ ! võ phục
    Thật hay đùa ! dám mặc dọa nhi đồng !
    A ...! Có điều ta hỏi, biết hay không !
    Phải nói that chớ quanh co, lỗ mỗ
    Này! Có biết cửa nhà ông Lộc Hộ...?

    ÔNG LỘC HỘ: (Ngạc nhiên)
    Lộc Hộ...?

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Hừ, người phải gọi là Ông Lộc Hộ
    Để biểu dương tôn kính bậc hiền tài

    ÔNG LỘC HỘ: (hỏi lại)
    Ông Lộc Hộ ...

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Người anh hùng suốt một lộ Quốc Oai
    Hừ, vị đó chính là Ông Lộc Hộ
    Giết giặc gúp đời, gần xa mến mộ
    Suốt Đà Giang cho tới Phụng Hoàng Sơn
    Từ Thăng Long trẩy xuống lộ Thiên Trường
    Đều khét tiếng Đệ Nhất Nam Phương Võ Sĩ.
    Núi Đa Chông đánh tan loài thổ phỉ
    Chặn sông Lô, tận diệt giặc trên nguồn
    Như tiềm long, hiện biến đó ai lường
    Mới thấy khúc đầu, mình đuôi biến mất
    Sớm đó Ba Vì chiều qua Thạch Thất
    Rồi, cần câu thuyền nhỏ thoắt sông Đà...

    ÔNG LỘC HỘ: Tráng sĩ quá lời

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Rót rượu tợp một hơi uống cạn, cười ha hả):

    Ta sợ vẫn nôm na
    Không diễn tả nổi chân dung người được
    A ... Vị đó có tên là Thầy Lộc
    Quanh quất đâu đây dạy võ giúp đời
    Nào tiên sinh, có biết, nói ra lời ...?

    ÔNG LỘC HỘ: (Thở dài)

    Tôi có nghe đó là người tri bỉ
    Tự biết mình tài trí kém người xưa
    Nên xếp gươm, buộc sách lánh sông hồ
    Câu danh lợi thả trôi trên dòng suối ...!

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Vổ bàn quát)

    Người biết gì đến nước nguồn, cây cội !!
    Dám coi thường khí tiết bậc hùng anh !
    Thấy rồng bay dám nghĩ rắn trong tranh
    Nghe sấm nổ tưởng nồi cơm động vỡ!
    (lại uống và ăn nhồm nhoàm)
    Ta cấm đó ! Phải, vì... Ông Lộc Hộ
    Người ta tìm vò võ đã ba thu...

    ÔNG LỘC HỘ: Có phải ruổi rong vì tráng sĩ muốn thù ?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Lại nổi giận quát tháo ầm ỉ)

    Lại láo khoét ! Dám đặt điều vô lễ
    Ta họ Đoàn, muốn phục hưng nhà Đại Lý
    Cháu đích tôn Đoàn Thượng đại anh hùng
    Giận vì quân Thủ Độ quá gian hùng
    Đào hầm lợp cỏ lễ Thái Đường diệt Lý
    Giật hầm sập, chôn sống mấy trăm người đang tế lễ
    Bắt Chiêu Hoàng bé tý phải nhường ngôi
    Tổ phụ ta thề chẳng đội chung trời
    Cùng Nguyễn Nộn dấy binh trừ Thủ Độ
    Ghê cho lão gian hùng bày trò Lục Sở
    Chia đất giảng hòa chân vạc, thế tam phân
    Súc siểm Nguyễn kia đột kích họ Đoàn
    Rồi trở mặt dấy binh tiêu diệt Nguyễn
    Từ đó sài lang nghênh ngang chính điện
    Chính nghĩa diệt Trần phù Lý hóa tiêu vong...

    ÔNG LỘC HỘ:

    Từ đó thù kia tráng sĩ ghi lòng ...?
    Muốn khôi phục một ngai vàng đổi chủ ?

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Phải, vì thế, ta muốn tìm ông Lộc Hộ
    Nhờ một tay, làm lại chuyện hưng binh ...!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Căn cứ vào đâu, người muốn chuyện tày đình ?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Cười ha hả, lại uống)

    Ếch đáy giếng hiểu trời cao bằng miệng thúng
    Người u mê thích nói chuyện trên trời
    Túc hạ biết không ? Trò vật đổi sao dời
    Sắp tái diễn triền miên trên đất Việt!
    Kìa Mông Cổ, đám binh hùng chém giết
    Vượt Trường Thành, diệt Tống với bình Kim
    Lửa Bắc Kinh ngùn ngụt bốn mươi đêm
    Thây tử sĩ chất cao hơn đỉnh núi
    Như bảo tố cuống phong ào ào cuốn tới
    Suốt Đông Âu, Tiêu Á thoắt tơi bời
    Vùng Cận Đông nay gió máu tanh hôi
    Nước La Sát chìm trong màu khói lửa
    Chúng thừa thắng, nhắm Tây Âu tiến nữa
    Rồi thăm dò trận nhỏ nước Nam này
    Hai ngàn quân dưới trướng Ngột Lương Hợp Thai
    Mới ấp đánh, Trần Triều lùi hết cỡ
    Như gió lốc ập vào Thăng Long bỏ ngỏ
    Tàn sát dân ta già, trẻ, gái, trai
    Hưng Đạo Vương lùi về lộ Quốc Oai
    Thu thập tàn binh cố tìm đường sống
    Trần Nhật Hiệu muốn hàng, nêu câu nhập Tống
    Vua toan theo, ngại Thủ Độ mưu đồ
    Dám ba hoa: Đầu chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo
    May giặc nhỏ, mới còn cơ cứu độ
    Và cũng nhờ giặc không quen thủy thổ
    Ốm bò lê, nên rượt đuổi tơi bời
    Nhưng rồi sau, lại tiến cống từng hồi
    Giặc bắt nộp bốn hạng người: Nho; Y; Lý; Thủ
    Về tiến vật, lại trò xưa tích cũ
    Bắt về Tàu kỳ vật nước Nam ta
    Nào, bây giờ ta hãy thử bàn xa
    Theo túc hạ, giặc hòa hay đánh nữa ?

    ÔNG LỘC HỘ: Ôi vận nước, lại mắc vòng binh lửa ...!

    ĐOÀN TỰ TÔN: (lại uống và khinh bạc)

    Ta khá khen túc hạ hiểu thời cơ
    Đã tới hồi hưng phục Lý triều xưa...

    ÔNG LỘC HỘ: (giật mình thoáng sửng sốt)

    Tráng sĩ nói gì, kẻ ngu phu không kịp hiểu
    Sao giặc tới, phải tống tân nghênh cựu ?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (cười ha hả)

    Có gì đâu túc hạ, thế tam phân
    Nước Nam ta sẽ diễn lại một lần
    Nhờ Mông Cổ sẽ diệt Trần hưng LÝ
    Từ Vân Nam, Đoàn gia bên Đại Lý
    Chạy về Nam cùng hợp sức điều quân
    Ta chờ coi Mông Cổ phá nhà Trần
    Sẽ xuất phát phục hưng nhà Đại Lý
    Đất nước ta, rồi vang danh bốn bể
    Từ Vân Nam chạy suốt tới Diễn Châu...
    (lại uống rượu)
    Chà, mãi vui, cần lập lại từ đầu
    Đại sự ấy, phải một người cầm soái ấn
    Chà, người đó ẩn danh, thừa tài lược trận
    Chính duệ tôn vọng tộc Lý triều ta
    Túc hạ biết không, người đó chính là...

    ÔNG LỘC HỘ: (cười ngất)

    Ông Lộc Hộ ...?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Trừng mắt,. Đứng vụt dậy rút gươm)

    Sao dám kêu căng cười ngất
    Ông Lộc Hộ, vi anh hùng Thạch Thất
    Chính tiềm Long ở ẩn Phượng Hoàng Sơn
    Người ta tìm, người đó phải phi thường
    Sao dám buông lời...

    CẬU TƯ: (Em trai nàng Ba, vừa dẫn sứ giả Trần Thành tới, khoanh tay lên tiếng):

    Dạ thưa thầy Lộc!
    Ông khách lạ hỏi thăm đường, gặp con trên triền dốc
    Ngựa lạc trong rừng, người hoảng hốt đã nhiều đêm...

    ÔNG LÔC HỘ: (Giật mình quay lại hỏi khách)

    Người tìm ai ?

    TRẦN THÀNH: (Cung tay kính cẩn):

    Mộ danh ông Lộc Hộ
    Suốt tháng trường ruổi rong trên mình ngựa
    Lạc lối rừng, không đến nỗi Phượng Hoàng Sơn
    Rủi hóa may, gập cháu nhỏ bên đường
    Lão gợi ý, mới về nay diện kiến!

    ĐOÀN TỰ TÔN: (sửng sốt đứng bật dậy, chỉ vào ông Lộc Hộ hỏi hoảng hốt):

    Ông Lộc Hộ... Không, không, người lầm sông với biển
    Biển hay sông...? Chẳng lẽ mắt không tròng
    Người là ai...? Ông Lộc Hộ phải người không?

    NÀNG BA: (bước ra, trong lúc ông Lộc Hộ tủm tỉm cười)
    Ông Lộc Hộ cũng có tên thầy Lộc
    Từ Phượng Hoàng Sơn về ẩnnáu xã Đông Bang
    Tráng sĩ vừa khen Rồng ẩn với Ngu Lang...

    ĐOÀN TỰ TÔN: (vội quỳ xuống vài như tế sao, giọng nghẹn ngào thảng thốt)

    Ông Lộc Hộ phải rồi... Người ở ẩn...
    Tuổi trẻ vô tình, xin người chớ giận...
    Sư Phụ ! Đệ tử mỏi công tìm
    Suốt ba năm ruổi ngựa suốt ngày đêm
    Mỏi mắt tìm người như chim non tìm mẹ
    (Chỉ vào Trần Thành)
    Thưa Sư Phụ ...Người này, sao... cũng thế ?
    (Lùi lại, quan sát một lúc)
    Đúng người rồi gian kế của Trần Triều!
    (Tiến tới sờ mó vào y phục của khách lạ)
    Hắn giả lái buôn đi lục lọi ở xóm nghèo
    Hòng truy diệt duệ tôn nhà họ Lý!
    (Hung hăng rút gươm)
    Xin Sư Phụ đừng can ngăn đồ đệ
    Kiếm long tuyền phải giết kẻ hung tàn!
    Nghĩ tới Trần Triều, ôi ứa máu sôi gan...!
    (Định ra tay, nhưng bị cậu Tư ngăn lại)

    CẬU TƯ:

    Đồ lỗ mãng mau dừng ngay kiếm lại!
    Nói ba hoa nào Sư Phụ, Môn Đồ
    Khách của ta sao giở thói côn đồ ?
    (Trần Thành lùi lại, Ông Lộc Hộ gật đầu ra hiệu ngồi xuống)

    ĐOÀN TỰ TÔN: (cũng hung hăng nồi giận)

    Tên tiểu tặc dám bênh Trần chống Lý
    Trước Thái Sơn còn giở thói hung hăng
    Rởn oai hùm, ta sẽ chém đầu phăng...!
    (Cả hai cùng thủ thế. Trận đấu diễn ra chớp nhoáng giữa Đoàn Tự Tôn dùng kiếm và cậu Tư tay không. Chỉ vài thế , cậu Tư đã đoạt được kiếm và đánh ngã đối thủ)

    ÔNG HỘC HỘ: (ôn tồn nâng Đoàn Tự Tôn dậy và ra hiệu cho cậu tư trả kiếm cho
    chàng)

    Xin thứ lỗi tiện đồ vừa thất lễ
    Việc còn đó, có gì mà tức khí
    Xin nể tình bộc trực của lão phu
    Mời tráng sĩ ngồi...
    (Và khoát tay quay sang Trần Thành)
    Tiên sinh an vị
    (Cả hai kéo ghế ngồi xuống hai bên Ông Lộc Hộ. Ông quay sang Trần Thành)
    Kẻ ngu phu biết sơ tài thiển trí
    Trót lánh mình miền cỏ nội hoa ngàn
    Bên Hươu nai mong hưởng thú an nhàn
    Có điều chi khiến triều đình trọng vọng
    Cử túc hạ tới vấn an đời sống?

    TRẦN THÀNH:

    Túc hạ khiêm nhường tôi biết nói sao nay?
    Vận nước đảo điên làm thế sự vần xoay
    Giặc Mông Cổ đánh Kinh Đô, người đã biết
    Suốt Thăng Long true già đều bị giết
    Xác lương dân xếp đống chật đường đi
    Thế giặc trùng trùng suốt giải biên thùy
    Cảnh xâm lược name xưa toan tái diễn
    Hưng Đạo Vương biết nước nhà nghịch biến
    Vội ngày đêm thao dượt, chống quân Mông
    Nghe đại danh người chẳng quản núi sông
    Sai tại hạ tới thỉnh cầu, xin giúp nước...

    ĐOÀN TỰ TÔN: (vổ bàn thét)

    Lại Thủ Độ, trò hề mua chuộc
    Đem lợi danh, nhử kẻ anh hùng
    Sư Phụ đừng tin, tiếp sức lũ ngông cuồng
    (Xa xa chợt có tiếng la thép ầm ầm, tiếng vó ngựa rượt đuổi, cảnh đốt phá
    sáng rực, cùng với tiếng người kêu khóc dồn dập)

    ÔNG LỘC HỘ: (vội đứng bật dậy)

    Giặc đã về, xin khoan câu khách lễ
    Cháu Tư đâu! Ra nghe ngóng tình hình...
    (Cậu tư vâng mệnh đi ngay)

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Vùng đứng bật dậy)

    Chẳng có lẽ là.. tiền quân Đại Lý?

    TRẦN THÀNH: (Ngơ ngác, hoảng hốt)

    Đại Lý nào?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (cười ngất)

    Đại Lý của thiên đình
    Từ Vân Nam, xuống diệt ngụy Trần thoán nghịch
    Thưa Sư Phụ đó là ta, không là địch ...
    (Tiếng ngựa hí quân reo, tiếng kêu khóc gần hơn. Cậu Tư hốt hoảng chạy vào)

    CẬU TƯ:

    Đám tàn quân Đại Lý từ Vân Nam...
    Sư Phụ ơi...!Chúng đốt phá xóm làng
    Cướp tài vật, giết người như đốn củi
    Người ngựa trùng trùng, chúng đang ập tới...

    ÔNG LỘC HỘ: (Mỉm cười quay sang Đoàn Tự Tôn)

    Đoàn Tự Tôn .. Phải Đại Lý họ Đoàn
    Đang vung bàn tay khát máu bạo tàn
    Giết đám dân hiền vô tội?

    ĐOÀN TỰ TÔN: (Lúng túng)

    Không, không, không phải tiền quân Đại Lý...

    ÔNG LỘC HỘ: (Đanh thép)

    Dù chúng là ai, cũng giống tanh hôi
    Đã giết dân. Là thù địch với ta rồi
    Cháu Ba, cháu Tư, cháu Đoàn cùng sứ giả
    Mau rút lui để mình ta tử thủ ngăn đường...

    NÀNG BA: (chạy ra quỳ xuống)

    Cháu không đành chạy giặc bỏ quê hương
    Mặc thày Lộc chặn đường quân giặc dữ!
    (quay sang mọi người hỏi lớn)
    Các người biết mãnh hổ nan địch quần hồ chứ?
    Đánh hay lùi, hãy nói rõ hết ra đi
    Tài tướng quân đâu hãy tỏ mặt nam nhi...!
    (mọi người đều hô đánh, trừ Đoàn Tự Tôn ngồi xuống ghế run lẩy bẩy)

    ĐOÀN TỰ TÔN:

    Không được đâu... giặc đông, đừng... tự tử !
    Hàng là hơn rồi sẽ tính chuyện trùng hưng...

    CẬU TƯ:

    Nào ngựa, nào gươm, nào vỗ ngực anh hùng,
    Thấy giặc đến ngồi run như cốt khỉ
    Thế cũng khoe Tự Tôn nhà họ Lý ...!
    (định xông lại hành hung, ông Lộc Hộ phải khoát tay can)

    ÔNG LỘC HỘ:

    Cháu Tư hãy khoan, đâu phải lúc thị cường !
    (quay về phía Đoàn Tự Tôn)
    Đoàn Tự tôn ngươi hãy trốn sau vườn...
    (tiếng ngựa hí rồn rập, tướng giặc và một toán giặc khách xuất hiện)

    TƯỚNG GIẶC:

    Ta muốn biết: Có ai tên Lộc Hộ?
    Lộc Hộ chính là người ta hâm mộ
    Nói cho mau, không chớ trách vô tình !

    ÔNG LỘC HỘ:

    Xin tướng quân hãy bớt nổi lôi đình
    Lộc Hộ chính là tôi, có điều chi chỉ giáo?

    TƯỚNG GIẶC: (lùi lại, trỏ vào ông Lộc Hộ, cười ha hả)

    Lộc Hộ đó ư? Thật tình hay nói láo?
    Ta nghe danh, nay mới gặp nhà ngươi
    Nhưng Nam Phương Dũng Sĩ là thực chất hay nói chơi?
    Muốn thử kiếm, côn, quyền hay kích dáo?

    ÔNG LỘC HỘ:

    Kẻ ngu phu xin thêm lời thỉnh giáo
    Thắng thì sao, va nếu bại thì sao?

    TƯỚNG GIẶC:

    Nếu ngươi thua, ta sẽ bắt về Tàu
    Chừng người thắng
    (cười vang)
    Ta lui binh tức khắc!


    ÔNG LỘC HỘ:

    Lời nói đó lấy gì làm chính xác?

    TƯỚNG GIẶC:

    Ta xin thề!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Quyền cước sẽ trận đầu.
    Nào tướng quân, xin dẹp heat gươm đao...
    (Trận đấu ác liệt đưộc diễn ra. Cuối cùng, tướng giặc bị ông Lộc Hộ khóa tay
    giao cho cậu Tư. Rồi cấm kiếm dí vào ngực)
    Trói nó lại đứng sau ta thành lớp...!
    (mọi người đứng sau ông Lộc Hộ)

    TƯỚNG GIẶC:

    Mới có trận đầu, còn trận sau tiếp tục
    Sau nhà ngươi...

    ÔNG LỘC HỘ: (ấn mạnh mũi kiếm sát ngực tướng giặc)

    Miễn nói chuyện hơn thua
    Cứu quê hương đâu phải chuyện vui đùa
    Mà tỷ võ..thôi mau ra lệnh thoái!

    TƯỚNG GIẶC: Ta không nói...

    ÔNG LỘC HỘ: (Múa kiếm ra oai trước mặt tướng giặc)

    Phải mau mau kêu gọi
    Không, chớ trách ta đường kiếm vô tình

    (Lũ bộ hạ tướng giặc ngơ ngác, muốn tiến lên lại bị ông Lộc Hộ múa kiếm dọa giết, tướng giặc đành phải lùi)

    TƯỚNG GIẶC: (cuốicùng sợ chết, đành lên tiếng)

    Bớ ba quân! Hãy cấp tốc lui binh...!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Phải lui binh mười dậm!

    (lũ giặc rút khỏi, tướng giặc mới hoàn hồn khi ông Lộc Hộ thu kiếmlại)

    TƯỚNG GIẶC:

    Cởi trói cho ta. Ta đã làm theo lời dặn!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Thả ngươi đi, để tiếp tục điều quân
    Về bao vây, tàn sát xã Đông Bang?
    Ngươi lầm rồi, chờ quân Nam sắp tới...
    Ta sẽ bàn giao trước khi cởi trói...

    TƯỚNG GIẶC:

    Người anh hùng lấy thành tính làm đầu
    Vậy mà ngươi nuốt lời hứa hay sao ?

    ÔNG LỘC HỘ:

    Có chứ, ta tín với dân, thành với nước
    Còn quân xâm lăng như ngươi, ta đâu tha được !
    (Mọi người hoàn hồn bao quanh ông Lộc Hộ)

    NÀNG BA:

    Thầy Lộc trí mưu, đổi Biến thành An
    Cháu xin dâng chén rượu khải hoàn

    CẬU TƯ:

    Sư phụ ơi, tay không thầy đuổi giặc
    Tự ngàn xưa, câu chuyện thật hoang đường

    TRẦN THÀNH:

    Lão cảm phục vị hiền tài Kinh Bắc
    Trí mưu kia sẽ dẹp bọn ngông cuồng
    Xin vì dân nhắc mệnh Hưng Đạo Vương
    Mong túc hạ lên đường đi giúp nước...

    ĐOÀN TỰ TÔN: (quỳ xuống)

    Chút ảo vọng được thầy châm chước
    Xin từ nay xóa hết mọi mưu đồ
    Sư Phụ nhận cho... thâu nạp tiểu đồ...

    ÔNG LỘC HỘ: (Đỡ Đoàn Tự Tôn dậy, nói với tất cả mọi người)

    Đứng lên con! Lời con, ta chấp nhận
    Kể từ nay, con phải quên thù hận
    Rèn Tâm Thân vào Sức - Sống - Non -Sông
    Đất nước nào riêng của một giống dòng
    Đinh, Lê đó - đã Lý, Trần tiếp nối
    Lẽ tuần hoàn. Từ vọng cơ sang thịnh hội
    Mệnh trời ban ai tài đức kiên cường
    Sông dài kia, sông khác lại dài hơn
    Núi lớn đó, vẫn còn bao núi thẩm
    (vái chào Trần Thành)
    Kẻ sơn dã không quen nhìn trướng gấm
    Xin tha cho, về neap sống sông hồ
    Lộc Hộ tôi dành mắc tội cưỡng mệnh Vua
    Chỉ ước nguyện lui về miền núi biếc
    Lều cỏ,hang sâu, xem hoa, vịnh nguyệt
    Nhưng vẫn không quên vận nước trước cuồng Mông...

    TRẦN THÀNH: (Chấp tay vái tạ)

    Lưng ngựa chinh yên còn đó đợi anh hùng
    Không quên nước cớ sao người chẳng biết
    Vó ngựa quân thù sẽ bụi mù trên đất Việt
    Chốn hang sâu, lều cỏ, vững gì không?
    Có cỏ nào sống nổi với quân Mông?
    Hang sâu nào bảo vệ người khói lửa?
    Nước sắp mất, xin người đừng do dự nữa...!

    ÔNG LỘC HỘ: (Trầm ngâm)

    Túc hạ hoàn toàn hữu lý giữa trần ai
    Giữa trần ai...xin túc hạ ngắm sao Mai...
    Ruộng vẫn đó, đàn trâu còn sới đất
    Nhật nguyệt đó, có khi còn khi tắt
    Trên rừng kia, hoa nở vẫn ươm chồi
    Suối trên nguồn về với biển ngàn khơi
    Mây tụ rồi tan, người còn rồi mất
    Tất cả sống... để ngày mai về với đất...
    Còn lại quê hương, Tổ Quốc sông hồ...

    TRẦN THÀNH:

    Người nói gì thêm, lão vẫn ngẩn ngơ?

    ÔNG LỘC HỘ: (thở dài)

    Người có thấy, sau cơn mưa trời sẽ nắng
    Trải hào quang, trên khắp nẻo cô thôn?
    Người có thấy mây đen rồi sẽ trắng
    Nước từ sông ra biển lại mưa về nguồn?

    NÀNG BA: (reo lên hoan hỉ)

    Cháu hiểu rồi... Cháu hiểu rồi...Thưa thầy Lộc
    Trời sanh mây, vì thế tục cần mưa
    Trên cành non, nhện đó vẫn vương tơ
    Trong rừng xanh, đàn chim kia phải hót
    Trời xanh sông, sông phải mang nước ngọt
    Có biển xanh, biển đó mặn muôn trùng
    Các vật kỳ an..luật tạo hóa vô cùng!

    ÔNG LỘC HỘ:

    Cháu đã hiểu, ta chỉ là người áo vải
    Nghiệp trời ban, tằm đó phải se tơ
    Kiếm giang hồ gặp màn nhung ngừng lại
    Nghề võ kia, sông đã laic đò rồi...
    (thở dài)
    Sao kia phải hiện trên trời
    Trăng kia phải mọc khi đời vào đêm...
    (chấp tay vái tạ Trần Thành)
    Xin cho kẻ ngu phu về núi thẳm
    Nghiệp tằm tơ sẽ nguyện luyện anh hào
    Người áo vải làm sao quen trướng gấm
    Thiếu dâu rồi, tằm biết sống ra sao...?

    TRẦN THÀNH: (cảm kích vái tạ)

    Người sống mãi với niềm đau dân tộc
    Người biến hóa những anh hùng đơn độc
    Một thành mười, mười sẽ hóa nên trăm
    Sắt kia rèn thành kiếm, trấn giang san,
    Non nước vững, dân tộc ta còn mãi

    Người thay đổi tam thân that vững chãi
    Rồi hy sinh quyết dựng lại ngày mai
    Người là ai thưa thầy Lộc, người là ai?
    Tình vẫn đó, quê hương ta sống mãi...!

    About-Privacy Policy-Contact us
    Copyright © 2013 Võ thuật Cổ Truyền - Võ Cổ Truyền Việt Nam - tin tức liên đoàn Võ thuật cổ truyền. Distributed By Võ thuật cổ truyền Việt Nam | https://banhngot.vn by https://banhngot.vn/ cung cấp Giỏ quà tết Bình Dương
    Proudly Powered by Võ Cổ truyền Việt Nam Phát triển xây dựng nội sung Bánh ngọtViệt Nam Bánh kem Hương vị Việt #banhngotvn Xem nhiều mẫu bánh sinh nhật võ thuật Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương Xem nhiều Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương
    back to top