• Featured

    Chia sẻ thông tin kiến thức, phương pháp tập luyện, chế độ dinh dưỡng cần thiết võ cổ truyền

  • Featured

    Don't miss these 10 Things if you are going for Picnic.

  • Articles

    iPhone 6 Will Look Like

  • Articles

    Solar Powered UAVs To Replace Satellites

  • Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân-vật-võ-thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
    Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân-vật-võ-thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
    Giáo sư Hồ Cẩm Ngạc sinh năm 1923 tại Saigon, thuộc giáo phái Cao Đài, thông thạo năm ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nhật, Trung Hoa và Đức, nghề nghiệp giáo sư ngoại ngữ, và giáo sư Nhu Đạo tại bộ thanh niên.

    Cha tên là Hồ Hương Hà, một thương gia sinh quán tại cố đô Huế, thông thạo bảy ngoại ngữ: Anh, Pháp, Ấn, Trung Hoa, Miên và Thái Lan. Sau một thời gian lập gia đình ở Saigon, công việc thương mại bị thua lỗ, thất bại nhiều, ông thân sinh của cố giáo sư phải đổi nghề vào làm thư ký và thông dịch viên cho Pháp Quốc Ngân Hàng tại Saigon. Trong số mười anh em, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc là huynh trưởng, đã chịu ảnh hưởng nhiều nhất ở tư chất thông minh và đức hạnh của người cha, cho nên thuở nhỏ khi còn ở ghế nhà trường, chàng thiếu niên Hồ Cẩm Ngạc đã tỏ ra là một người học trò thông minh xuất sắc và gương mẫu.

    Ngoài việc trau luyện văn hóa, chàng thiếu niên Hồ Cẩm Ngạc còn rất hâm mộ võ nghệ và có năng khiếu về hội họa, âm nhạc và thích đọc sách, chàng thường giao du với những bạn học giỏi võ để có dịp tập luyện.

    Đến năm 1935, chàng thiếu niên mới thực sự thọ giáo với một người Trung Hoa rất giỏi về quyền thuật thiếu lâm. Vị quyền sư này không ai khác hơn là một trong những người bạn của thân sinh chàng. Vì cảm mến sự thông minh và hạnh kiểm cũng như tinh thần hâm mộ võ nghệ của chàng thiếu niên, vị quyền sư đã không ngần ngại thu nhận đứa con đầu lòng của bạn thân mình làm môn đệ phái thiếu lâm.

    Đến năm 1940, sau khi học xong ban trung học, vì gia đình bị túng thiếu nên ông không thể tiếp tục sự học được nữa và phải vào giữ chức thư ký cho một hiệu buôn của người Nhật tại saigon.

    Trong suốt thời gian giúp việc tại hiệu buôn này, ông đã chứng tỏ khả năng làm việc của mình gây được sự lưu ý đặc biệt và lòng cảm mến của vị giám đốc người Nhật. Chẳng bao lâu vị giám đốc Nhật này được lệnh hồi hương.

    Trước khi rời khỏi Việt Nam, vị giám đốc Nhật có nhã ý mời, thanh niên Hồ Cẩm Ngạc sang Nhật làm việc với ông ta.

    Sau khi được sự đồng ý của song thân, chàng vội vã thu xếp hành trang, giã từ đất mẹ, sang đất nước Phù Tang của những người võ sĩ đạo.

    Trong những ngày đầu tiên ngỡ ngàng nơi xứ lạ, chàng thanh niên Việt Nam Hồ Cẩm Ngạc đã được giới thiệu của vị giám đốc Nhật để đến trường học Nhật ngữ và ở tại nhà ông Toshiro- Mifune. Dần dần trong cảnh sống gần gũi trong nhà, ông Toshiro rất cảm mến về đức hạnh của chàng thanh niên Việt Nam. Rồi một hôm, nhân dịp đại úy Yenkoshan, đến thăm (ông này là một sĩ quan không quân Nhật cũng là một quyền sư Karate đệ bát đẳng huyền đai và Nhu Thuật (judo) đệ nhất đẳng huyền đai). Ông Toshiro-mifune đã không ngần ngại giới thiệu chàng thanh niên Việt Nam Hồ Cẩm Ngạc để có dịp theo học võ Karate với ông này, kể từ ngày đó chàng đã thực sự ở nhà của sư phụ mình để ngày đêm gia công luyện tập Karate và trao dồi văn hóa. Vì sẵn có căn bản võ Trung Hoa, cho nên ông đã lĩnh hội những điều chỉ dạy về Karate của sư phụ mình một cách nhanh chóng. Trong thời gian thụ giáo Karate, đại úy Yenkoshan đã có lòng cảm mến người đệ tử Việt Nam này, không ngần ngại thu nhận chàng làm dưỡng tử.

    Mãi đến cuối năm 1942 được tin thân phụ ở xứ nhà bị bệnh nặng, chàng giã từ dưỡng phụ, hồi hương và đến đầu năm 1943 thì ông thân sinh qua đời. Kế đó Ông lại bị chính quyền Việt Minh quản thúc mất hai mươi ngày vì ở ngoại quốc mới về.

    Đến cuối năm 1943, ông Hồ Cẩm Ngạc được thư của dưỡng phụ là đại úy Yenko gọi sang Nhật. Ông nhờ dưỡng phụ vào vận động cho ông được gia nhập vào ngành không quân Nhật Bản. Chính nhờ ở trong ngành không quân mà ông đã có dịp chu du tại nhiều quốc gia trên thế giới.

    Trong suốt thời gian sinh sống tại Nhật Bản, Ông đã theo học Nhu Đạo tại viện Kodokan (Đông Kinh), ngoài ra ông còn được thụ giáo với các võ sư cao cấp Nhật Bản về những môn: Karate do (không thủ đạo), aikido (hiệp khí đạo) kendo (kiếm đạo) với kết quả như sau:

    Môn Nhu Đạo (judo) với cấp bậc huyền đai nhị đẳng (và được thăng lên đệ tam đẳng trong thời gian hoạt động Nhu Đạo ở Việt Nam).
    Môn Không Thủ Đạo (Karatedo) với cấp bậc huyền đai đệ tam đẳng.
    Môn Hiệp Khí Đạo (Aikido) huyền đai đệ nhị đẳng.
    Môn Kiếm Đạo (kendo) huyền đai đệ tứ đẳng.

    Đầu năm 1947, ông Hồ Cẩm Ngạc được thăng cấp trung úy và sau đó ông được phép giải ngũ theo đơn xin của ông để ra khỏi ngành không quân Nhật rồi giã từ dưỡng phụ, trở về đất tổ.

    Năm 1948, ông cùng với vài người bạn thành lập một đoàn hát cải lương, ca kịch lấy hiệu đoàn “Xuân Thu”. Ông phụ trách phần đạo diễn và soạn giả viết tuồng hát. Đoàn hát Xuân Thu hoạt động được hai năm đến năm 1949 thì bị rã gánh vì tài chánh eo hẹp.

    Ngoài ra ông còn là tác giả của những họa phẩm sơn dầu lấy hiệu là Xuân Thu và cũng là một biên tập viên biên soạn và bình luận về truyện Tàu và giữ các mục khảo cứu võ thuật trong các báo như “Đuốc Tuệ” báo vào năm 1948-1949, báo “Đại Chúng” trong năm 1960-1963. Ông còn là tác giả quyển “Nhu Đạo Tạp Phương” xuất bản năm 1945.

    Đầu năm 1950, ông ra Vũng Tàu theo lời mời của một Pháp kiều để cùng hợp tác mở phòng tập Nhu Đạo, nhưng chương trình bất thành. Sau đó ông thành lập phòng tập Nhu Đạo đầu tiên tại tư gia xóm Rạch Đông, đường Công Lý (Phú Nhuận – Saigon) để huấn luyện một số môn sinh có thiện chí theo luyện tập (vì lúc bấy giờ môn Nhu Đạo chưa được phổ biến mạnh tại Việt Nam). Ông là một trong những người đầu tiên đẩy mạnh phong trào thanh thiếu niên Nhu Đạo Việt Nam.

    Cuối năm 1950, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc nhận được thơ mời của bộ Thanh Niên và Thể Thao tổ chức phòng tập Nhu Đạo tại số 75 Phan Đình Phùng (Saigon) – (Sân vận động Phan Đình Phùng), do một người bạn có thẩm quyền tại bộ thanh niên biết được giáo sư có thực tài về môn Nhu Đạo. Phòng tập Nhu Đạo tại sân vận động Phan Đình Phùng đã thu hút được một số rất lớn thanh thiếu niên Đô Thành đến tập Nhu Đạo cũng như học sinh các trường trung học công lập Saigon đều được gởi đến, số học sinh đáng kể nhất là trường kỹ thuật Cao Thắng, và trường thực nghiệp Nguyễn Trường Tộ. Ngoài ra, giáo sư còn huấn luyện một “đoàn biểu diễn võ thuật” gồm những võ sinh cao cấp có khả năng và thiện chí đi khắp các tỉnh trình diễn môn Nhu Đạo cùng với các môn Không Thủ Đạo, Hiệp Khí Đạo, kiếm Đạo và Đô Vật. Đoàn biểu diễn này gây được tiếng vang Nhu Đạo đúng theo ý nguyện của giáo sư.

    Đến năm 1955, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc là một trong những người sáng lập “Việt Nam Nhu Đạo Thân Thiện Hội” (sáng lập viên gồm có giáo sư Hồ Cẩm Ngạc, Đốc công Cảnh, Nguyễn Phú Bu, giáo sư Phan Văn Quan, giáo sư Phạm Lợi, ông Lê Văn Châu). Trụ sở của hội lúc bấy giờ đặt tại số 75 Phan Đình Phùng.

    Đầu năm 1961, sau mười một năm hoạt động, phòng tập Nhu Đạo được di chuyển về trung tâm sinh hoạt Thanh Niên (khu Đại thế giới cũ- Chợ Lớn), nơi đây phòng tập khá rộng rãi cho nên số võ sinh gia tăng mạnh mẽ. Phụ tá HLV Lê Hữu Phước và Thịnh Đức Phú.
    Giữa năm 1962, giáo sư lập thêm một phòng tập Nhu Đạo khá rộng rãi tại khu đất góc đường Duy Tân Hồng Thập Tự (bây giờ là trụ sở tổng hội sinh viên) phòng Nhu Đạo này do HLV Lê Hữu Phước hướng dẫn được hơn một năm. Cũng nên biết rằng anh Lê Hữu Phước đã là một HLV đai đen có công rất lớn trong nhiều năm phụ tá HLV Nhu Đạo với giáo sư Hồ Cẩm Ngạc tại phòng tập Phan Đình Phùng.

    Đồng thời giáo sư còn thành lập một phòng tập Nhu Đạo tại khu thể thao tỉnh Gia Định do bào đệ Hồ Châu Bội hướng dẫn.

    Đầu năm 1963, giáo sư còn phụ trách thêm một phòng Nhu Đạo tại Nha Kiến Thiết kế Đô thị đường dành riêng cho nhân viên tại đây tập luyện, trong thời gian này giáo sư cùng với ông Trần Bá Biện đứng ra sáng lập Hội Nhu Đạo Sơn Điền.

    Cuối năm 1963 giáo sư thành lập một lớp Nhu Đạo tại sở thanh niên Đô Thành góc Hai Bà Trưng- Hồng Thập Tự do hai huấn luận viên Thịnh Đức Phú và Lưu Kế Viễn hướng dẫn.

    Đầu năm 1964, phòng tập Nhu Đạo tại chi thanh niên quận 6 Chợ Lớn khánh thành do hai HLV Âu Vĩnh Hiền và Bùi Văn Lộc hướng dẫn.

    Đầu năm 1965, phòng tập tại sân vận động Cộng Hòa hoạt động được ba tháng thì giáo sư tử nạn nên số võ sinh này được sát nhập vào phòng Nhu Đạo tại chi thanh niên quận 6.

    Hơn nữa, tại các tỉnh Định Tường, Tây Ninh, Long Xuyên, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Phan Rang… giáo sư đều có gởi cán bộ đai đen đến phụ trách những phòng tập Nhu Đạo do giáo sư sáng lập làm chi nhánh cho Hội Sơn Điền.

    Trong suốt nhiều năm hoạt động Nhu Đạo giáo sư đã hướng dẫn trên mười ngàn thanh niên Nhu Đạo và đã đào tạo được một số lớn HLV đai đen đa số phục vụ trong quân đội.

    Thế rồi định mệnh đã an bài cho cuộc đời của giáo sư, phủi sạch nợ trần để trở về với cát bụi vào lúc 9h30 sáng ngày 01-5-65 để cứu lấy mạng sống của hai vị linh mục trong một tai nạn xe cộ tại ngã tư đường Hiền Vương và Bà Huyện Thanh Quang (Saigon).

    Giáo sư võ sư Hồ Cẩm Ngạc (1923-1965) giáo sư Judo đầu tiên của Việt Nam

    Posted at  tháng 12 15, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Giáo sư Hồ Cẩm Ngạc sinh năm 1923 tại Saigon, thuộc giáo phái Cao Đài, thông thạo năm ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nhật, Trung Hoa và Đức, nghề nghiệp giáo sư ngoại ngữ, và giáo sư Nhu Đạo tại bộ thanh niên.

    Cha tên là Hồ Hương Hà, một thương gia sinh quán tại cố đô Huế, thông thạo bảy ngoại ngữ: Anh, Pháp, Ấn, Trung Hoa, Miên và Thái Lan. Sau một thời gian lập gia đình ở Saigon, công việc thương mại bị thua lỗ, thất bại nhiều, ông thân sinh của cố giáo sư phải đổi nghề vào làm thư ký và thông dịch viên cho Pháp Quốc Ngân Hàng tại Saigon. Trong số mười anh em, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc là huynh trưởng, đã chịu ảnh hưởng nhiều nhất ở tư chất thông minh và đức hạnh của người cha, cho nên thuở nhỏ khi còn ở ghế nhà trường, chàng thiếu niên Hồ Cẩm Ngạc đã tỏ ra là một người học trò thông minh xuất sắc và gương mẫu.

    Ngoài việc trau luyện văn hóa, chàng thiếu niên Hồ Cẩm Ngạc còn rất hâm mộ võ nghệ và có năng khiếu về hội họa, âm nhạc và thích đọc sách, chàng thường giao du với những bạn học giỏi võ để có dịp tập luyện.

    Đến năm 1935, chàng thiếu niên mới thực sự thọ giáo với một người Trung Hoa rất giỏi về quyền thuật thiếu lâm. Vị quyền sư này không ai khác hơn là một trong những người bạn của thân sinh chàng. Vì cảm mến sự thông minh và hạnh kiểm cũng như tinh thần hâm mộ võ nghệ của chàng thiếu niên, vị quyền sư đã không ngần ngại thu nhận đứa con đầu lòng của bạn thân mình làm môn đệ phái thiếu lâm.

    Đến năm 1940, sau khi học xong ban trung học, vì gia đình bị túng thiếu nên ông không thể tiếp tục sự học được nữa và phải vào giữ chức thư ký cho một hiệu buôn của người Nhật tại saigon.

    Trong suốt thời gian giúp việc tại hiệu buôn này, ông đã chứng tỏ khả năng làm việc của mình gây được sự lưu ý đặc biệt và lòng cảm mến của vị giám đốc người Nhật. Chẳng bao lâu vị giám đốc Nhật này được lệnh hồi hương.

    Trước khi rời khỏi Việt Nam, vị giám đốc Nhật có nhã ý mời, thanh niên Hồ Cẩm Ngạc sang Nhật làm việc với ông ta.

    Sau khi được sự đồng ý của song thân, chàng vội vã thu xếp hành trang, giã từ đất mẹ, sang đất nước Phù Tang của những người võ sĩ đạo.

    Trong những ngày đầu tiên ngỡ ngàng nơi xứ lạ, chàng thanh niên Việt Nam Hồ Cẩm Ngạc đã được giới thiệu của vị giám đốc Nhật để đến trường học Nhật ngữ và ở tại nhà ông Toshiro- Mifune. Dần dần trong cảnh sống gần gũi trong nhà, ông Toshiro rất cảm mến về đức hạnh của chàng thanh niên Việt Nam. Rồi một hôm, nhân dịp đại úy Yenkoshan, đến thăm (ông này là một sĩ quan không quân Nhật cũng là một quyền sư Karate đệ bát đẳng huyền đai và Nhu Thuật (judo) đệ nhất đẳng huyền đai). Ông Toshiro-mifune đã không ngần ngại giới thiệu chàng thanh niên Việt Nam Hồ Cẩm Ngạc để có dịp theo học võ Karate với ông này, kể từ ngày đó chàng đã thực sự ở nhà của sư phụ mình để ngày đêm gia công luyện tập Karate và trao dồi văn hóa. Vì sẵn có căn bản võ Trung Hoa, cho nên ông đã lĩnh hội những điều chỉ dạy về Karate của sư phụ mình một cách nhanh chóng. Trong thời gian thụ giáo Karate, đại úy Yenkoshan đã có lòng cảm mến người đệ tử Việt Nam này, không ngần ngại thu nhận chàng làm dưỡng tử.

    Mãi đến cuối năm 1942 được tin thân phụ ở xứ nhà bị bệnh nặng, chàng giã từ dưỡng phụ, hồi hương và đến đầu năm 1943 thì ông thân sinh qua đời. Kế đó Ông lại bị chính quyền Việt Minh quản thúc mất hai mươi ngày vì ở ngoại quốc mới về.

    Đến cuối năm 1943, ông Hồ Cẩm Ngạc được thư của dưỡng phụ là đại úy Yenko gọi sang Nhật. Ông nhờ dưỡng phụ vào vận động cho ông được gia nhập vào ngành không quân Nhật Bản. Chính nhờ ở trong ngành không quân mà ông đã có dịp chu du tại nhiều quốc gia trên thế giới.

    Trong suốt thời gian sinh sống tại Nhật Bản, Ông đã theo học Nhu Đạo tại viện Kodokan (Đông Kinh), ngoài ra ông còn được thụ giáo với các võ sư cao cấp Nhật Bản về những môn: Karate do (không thủ đạo), aikido (hiệp khí đạo) kendo (kiếm đạo) với kết quả như sau:

    Môn Nhu Đạo (judo) với cấp bậc huyền đai nhị đẳng (và được thăng lên đệ tam đẳng trong thời gian hoạt động Nhu Đạo ở Việt Nam).
    Môn Không Thủ Đạo (Karatedo) với cấp bậc huyền đai đệ tam đẳng.
    Môn Hiệp Khí Đạo (Aikido) huyền đai đệ nhị đẳng.
    Môn Kiếm Đạo (kendo) huyền đai đệ tứ đẳng.

    Đầu năm 1947, ông Hồ Cẩm Ngạc được thăng cấp trung úy và sau đó ông được phép giải ngũ theo đơn xin của ông để ra khỏi ngành không quân Nhật rồi giã từ dưỡng phụ, trở về đất tổ.

    Năm 1948, ông cùng với vài người bạn thành lập một đoàn hát cải lương, ca kịch lấy hiệu đoàn “Xuân Thu”. Ông phụ trách phần đạo diễn và soạn giả viết tuồng hát. Đoàn hát Xuân Thu hoạt động được hai năm đến năm 1949 thì bị rã gánh vì tài chánh eo hẹp.

    Ngoài ra ông còn là tác giả của những họa phẩm sơn dầu lấy hiệu là Xuân Thu và cũng là một biên tập viên biên soạn và bình luận về truyện Tàu và giữ các mục khảo cứu võ thuật trong các báo như “Đuốc Tuệ” báo vào năm 1948-1949, báo “Đại Chúng” trong năm 1960-1963. Ông còn là tác giả quyển “Nhu Đạo Tạp Phương” xuất bản năm 1945.

    Đầu năm 1950, ông ra Vũng Tàu theo lời mời của một Pháp kiều để cùng hợp tác mở phòng tập Nhu Đạo, nhưng chương trình bất thành. Sau đó ông thành lập phòng tập Nhu Đạo đầu tiên tại tư gia xóm Rạch Đông, đường Công Lý (Phú Nhuận – Saigon) để huấn luyện một số môn sinh có thiện chí theo luyện tập (vì lúc bấy giờ môn Nhu Đạo chưa được phổ biến mạnh tại Việt Nam). Ông là một trong những người đầu tiên đẩy mạnh phong trào thanh thiếu niên Nhu Đạo Việt Nam.

    Cuối năm 1950, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc nhận được thơ mời của bộ Thanh Niên và Thể Thao tổ chức phòng tập Nhu Đạo tại số 75 Phan Đình Phùng (Saigon) – (Sân vận động Phan Đình Phùng), do một người bạn có thẩm quyền tại bộ thanh niên biết được giáo sư có thực tài về môn Nhu Đạo. Phòng tập Nhu Đạo tại sân vận động Phan Đình Phùng đã thu hút được một số rất lớn thanh thiếu niên Đô Thành đến tập Nhu Đạo cũng như học sinh các trường trung học công lập Saigon đều được gởi đến, số học sinh đáng kể nhất là trường kỹ thuật Cao Thắng, và trường thực nghiệp Nguyễn Trường Tộ. Ngoài ra, giáo sư còn huấn luyện một “đoàn biểu diễn võ thuật” gồm những võ sinh cao cấp có khả năng và thiện chí đi khắp các tỉnh trình diễn môn Nhu Đạo cùng với các môn Không Thủ Đạo, Hiệp Khí Đạo, kiếm Đạo và Đô Vật. Đoàn biểu diễn này gây được tiếng vang Nhu Đạo đúng theo ý nguyện của giáo sư.

    Đến năm 1955, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc là một trong những người sáng lập “Việt Nam Nhu Đạo Thân Thiện Hội” (sáng lập viên gồm có giáo sư Hồ Cẩm Ngạc, Đốc công Cảnh, Nguyễn Phú Bu, giáo sư Phan Văn Quan, giáo sư Phạm Lợi, ông Lê Văn Châu). Trụ sở của hội lúc bấy giờ đặt tại số 75 Phan Đình Phùng.

    Đầu năm 1961, sau mười một năm hoạt động, phòng tập Nhu Đạo được di chuyển về trung tâm sinh hoạt Thanh Niên (khu Đại thế giới cũ- Chợ Lớn), nơi đây phòng tập khá rộng rãi cho nên số võ sinh gia tăng mạnh mẽ. Phụ tá HLV Lê Hữu Phước và Thịnh Đức Phú.
    Giữa năm 1962, giáo sư lập thêm một phòng tập Nhu Đạo khá rộng rãi tại khu đất góc đường Duy Tân Hồng Thập Tự (bây giờ là trụ sở tổng hội sinh viên) phòng Nhu Đạo này do HLV Lê Hữu Phước hướng dẫn được hơn một năm. Cũng nên biết rằng anh Lê Hữu Phước đã là một HLV đai đen có công rất lớn trong nhiều năm phụ tá HLV Nhu Đạo với giáo sư Hồ Cẩm Ngạc tại phòng tập Phan Đình Phùng.

    Đồng thời giáo sư còn thành lập một phòng tập Nhu Đạo tại khu thể thao tỉnh Gia Định do bào đệ Hồ Châu Bội hướng dẫn.

    Đầu năm 1963, giáo sư còn phụ trách thêm một phòng Nhu Đạo tại Nha Kiến Thiết kế Đô thị đường dành riêng cho nhân viên tại đây tập luyện, trong thời gian này giáo sư cùng với ông Trần Bá Biện đứng ra sáng lập Hội Nhu Đạo Sơn Điền.

    Cuối năm 1963 giáo sư thành lập một lớp Nhu Đạo tại sở thanh niên Đô Thành góc Hai Bà Trưng- Hồng Thập Tự do hai huấn luận viên Thịnh Đức Phú và Lưu Kế Viễn hướng dẫn.

    Đầu năm 1964, phòng tập Nhu Đạo tại chi thanh niên quận 6 Chợ Lớn khánh thành do hai HLV Âu Vĩnh Hiền và Bùi Văn Lộc hướng dẫn.

    Đầu năm 1965, phòng tập tại sân vận động Cộng Hòa hoạt động được ba tháng thì giáo sư tử nạn nên số võ sinh này được sát nhập vào phòng Nhu Đạo tại chi thanh niên quận 6.

    Hơn nữa, tại các tỉnh Định Tường, Tây Ninh, Long Xuyên, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Phan Rang… giáo sư đều có gởi cán bộ đai đen đến phụ trách những phòng tập Nhu Đạo do giáo sư sáng lập làm chi nhánh cho Hội Sơn Điền.

    Trong suốt nhiều năm hoạt động Nhu Đạo giáo sư đã hướng dẫn trên mười ngàn thanh niên Nhu Đạo và đã đào tạo được một số lớn HLV đai đen đa số phục vụ trong quân đội.

    Thế rồi định mệnh đã an bài cho cuộc đời của giáo sư, phủi sạch nợ trần để trở về với cát bụi vào lúc 9h30 sáng ngày 01-5-65 để cứu lấy mạng sống của hai vị linh mục trong một tai nạn xe cộ tại ngã tư đường Hiền Vương và Bà Huyện Thanh Quang (Saigon).

    Những bông hoa tươi thắm.

    - Hoa tươi-món quà giá trị tinh thần bậc nhất.

    Nhắc đến những món quà mang giá trị tinh thần bậc nhất, chúng ta không thể không nhắc đến những loài hoa xinh đẹp, rực rỡ khoe sắc, ý nghĩa sâu sắc mang đến cho cuộc sống của con người nhiều điều thú vị nhất.







    Những bông hoa tươi thắm tạo nên những món quà đặc biệt, những sản phẩm hoa tươi thiết thực giúp chúng ta trao tặng nhau, truyền tải tình cảm hay cảm xúc chân thành nhất trong những ngày đặc biệt hoặc có thể là những ngày bình thường nhất. Những bó hoa, giỏ hoa, kệ hoa, lẵng hoa,... ra đời phục vụ mọi nhu cầu của con người chúng ta.


    Không chỉ vậy, có một số loài hoa rất đặc biệt, chúng sẽ là nguyên liệu cho những sản phẩm giúp chúng tốt cho sức khỏe, tốt cho sắc đẹp của con người. Như những bông hồng đỏ, chúng tạo nên nước hoa hồng giúp cải thiện làn da cho các chị em phụ nữ, hoặc những bông hoa cúc xinh đẹp sẽ làm nên món trà hoa cúc tốt cho sức khỏe mọi người,...





    - Những sản phẩm hoa tươi đặc biệt.

    Chúng ta thấy những bông hoa mang vẻ đẹp đơn giản, màu sắc nổi bật trong các sản phẩm thường sử dụng như bó hoa, giỏ hoa, kệ hoa, lẳng hoa,.. nhưng cũng có rất nhiều các sản phẩm rất đặc sắc được làm nên từ hoa tươi như:






    + Đó là những bộ trang phục được thiết kế bằng những cánh hoa tươi, những cánh hoa mỏng manh được xếp lên nhau để tạo nên những bộ trang phục xinh đẹp. Những loài hoa được sử dụng như: hoa hồng, hoa đào, hoa ly, hoa cẩm chướng, hoa loa kèn,...


    mỗi loài hoa mang kiểu dáng, kích thước, màu sắc khác nhau, chính vì vậy phải có sự tỉ mỉ, khéo léo và yêu những loài hoa này thật sự mới có thể làm nên được những sản phẩm như vậy.





    + Những bức tranh 3D hoa tươi được tạo nên, hoa làm tranh 3D sử dụng từ nguồn hoa tươi của Đà Lạt, kết hợp chất liệu như gốm, thạch cao, vỏ cây khô, lụa... để tạo nên một bức tranh sinh động vô cùng.



    Không chỉ vậy, còn rất nhiều những sản phẩm độc đáo được tạo nên từ hoa tươi khác và dưới đây là một sản phẩm độc đáo dành tặng những võ sư, những người được nói là khô cằn nhất.

    Hoa tươi rồng phụng tặng võ sư.

    - Món quà đặc biệt tặng các võ sư.




    Những bông hoa xinh đẹp nhiều màu sắc là nguyên liệu chính trong tạo hình rồng phượng. Từng bông hoa khác nhau được đúc kết bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân ghép thành hình rồng phượng vô cùng đẹp và bắt mắt. Những tác phẩm hoa độc đáo này sẽ là món quà mang ý nghĩa thịnh vượng gửi đến các võ sư, những người thầy dạy võ của bạn.













    Kết hoa tươi hoa rồng phụng tặng võ sư

    Posted at  tháng 11 28, 2019  |  in  võ-sư  |  Read More»

    Những bông hoa tươi thắm.

    - Hoa tươi-món quà giá trị tinh thần bậc nhất.

    Nhắc đến những món quà mang giá trị tinh thần bậc nhất, chúng ta không thể không nhắc đến những loài hoa xinh đẹp, rực rỡ khoe sắc, ý nghĩa sâu sắc mang đến cho cuộc sống của con người nhiều điều thú vị nhất.







    Những bông hoa tươi thắm tạo nên những món quà đặc biệt, những sản phẩm hoa tươi thiết thực giúp chúng ta trao tặng nhau, truyền tải tình cảm hay cảm xúc chân thành nhất trong những ngày đặc biệt hoặc có thể là những ngày bình thường nhất. Những bó hoa, giỏ hoa, kệ hoa, lẵng hoa,... ra đời phục vụ mọi nhu cầu của con người chúng ta.


    Không chỉ vậy, có một số loài hoa rất đặc biệt, chúng sẽ là nguyên liệu cho những sản phẩm giúp chúng tốt cho sức khỏe, tốt cho sắc đẹp của con người. Như những bông hồng đỏ, chúng tạo nên nước hoa hồng giúp cải thiện làn da cho các chị em phụ nữ, hoặc những bông hoa cúc xinh đẹp sẽ làm nên món trà hoa cúc tốt cho sức khỏe mọi người,...





    - Những sản phẩm hoa tươi đặc biệt.

    Chúng ta thấy những bông hoa mang vẻ đẹp đơn giản, màu sắc nổi bật trong các sản phẩm thường sử dụng như bó hoa, giỏ hoa, kệ hoa, lẳng hoa,.. nhưng cũng có rất nhiều các sản phẩm rất đặc sắc được làm nên từ hoa tươi như:






    + Đó là những bộ trang phục được thiết kế bằng những cánh hoa tươi, những cánh hoa mỏng manh được xếp lên nhau để tạo nên những bộ trang phục xinh đẹp. Những loài hoa được sử dụng như: hoa hồng, hoa đào, hoa ly, hoa cẩm chướng, hoa loa kèn,...


    mỗi loài hoa mang kiểu dáng, kích thước, màu sắc khác nhau, chính vì vậy phải có sự tỉ mỉ, khéo léo và yêu những loài hoa này thật sự mới có thể làm nên được những sản phẩm như vậy.





    + Những bức tranh 3D hoa tươi được tạo nên, hoa làm tranh 3D sử dụng từ nguồn hoa tươi của Đà Lạt, kết hợp chất liệu như gốm, thạch cao, vỏ cây khô, lụa... để tạo nên một bức tranh sinh động vô cùng.



    Không chỉ vậy, còn rất nhiều những sản phẩm độc đáo được tạo nên từ hoa tươi khác và dưới đây là một sản phẩm độc đáo dành tặng những võ sư, những người được nói là khô cằn nhất.

    Hoa tươi rồng phụng tặng võ sư.

    - Món quà đặc biệt tặng các võ sư.




    Những bông hoa xinh đẹp nhiều màu sắc là nguyên liệu chính trong tạo hình rồng phượng. Từng bông hoa khác nhau được đúc kết bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân ghép thành hình rồng phượng vô cùng đẹp và bắt mắt. Những tác phẩm hoa độc đáo này sẽ là món quà mang ý nghĩa thịnh vượng gửi đến các võ sư, những người thầy dạy võ của bạn.













    Sẵn vốn liếng võ cổ truyền Việt Nam cộng với tinh hoa võ thuật của các tông phái Trung Quốc và Nhật Bản… cùng kinh nghiệm dạy võ trong quân đội, lão võ sư Trần Tiến đã tinh lọc và đúc kết thành võ phái Thiếu Lâm nội gia võ thuật đạo Việt Nam và phổ biến tại Trung tâm TDTT quốc phòng 2, Nhà bảo tàng không quân phía Nam… Học trò của ông có cả người Mỹ, Pháp, Ý, Nga, Brazil…

    Võ sư Trần Tiến sinh ngày 04 tháng 02 năm 1911 (Tân Hợi) tại Cầu Vòng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Năm 1913, cụ Hoàng Hoa Thám qua đời, nghĩa quân tan rã; ông nội và bố mẹ Trần Tiến phải thay tên đổi họ, lẩn tránh về thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Trần Tiến được bố khai sinh lại: ngày 04.02.1913. Sinh trưởng trong gia đình có truyền thống võ nghệ, Trần Tiến được ông nội khai tâm võ học lúc 10 tuổi. Hai năm sau, ông Trần Tiến qua đời, Trần Tiến được thân phụ truyền dạy tiếp. Từ 15-20 tuổi, Trần Tiến học Thiếu Lâm với thầy Lý Giang Nam – quê ở Phúc Kiến (Trung Quốc), chạy sang Hải Phòng lánh nạn. Những năm sau, Trần Tiến tập Nhu thuật cùng ông Tanabe (Nhật), Judo với ông Karachi (Nhật) và luyện cả quyền Anh cùng võ sĩ Lafleur (người Pháp gốc Phi).Tuổi thanh niên sôi nổi lại biết võ nghệ, Trần Tiến đã tham gia nhiều cuộc so tài về roi và kiếm ở miền Bắc trong 6 tháng đầu năm 1936. Nhưng đến tháng 8.1936, Trần Tiến buộc lòng phải rời xa quê hương vào miền Nam do bị thực dân Pháp đe dọa bắt giam vì “xách động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự”. Đến Sài Gòn, Trần Tiến tạm dừng bước và luyện tập tại Cercle Sportif Saigonnais (nay là Cung văn hóa lao động Tp. HCM) và sau đó hoạt động võ thuật ở nhiều nơi…

    Năm 1943, Trần Tiến dạy thể dục tại đồn điền cao su Đất Đỏ (Plantation Terre Rouge de l’Indochine) ở Kompong Cham (Campuchia). Công nhân nơi đây phần lớn là người Việt từ miền Bắc sang. Trong thời gian làm việc, Trần Tiến đươc tên chủ đồn điền người Pháp “quý mến” vì đã giúp công nhân có sức khỏe để “làm việc suốt ngày đêm”. Thật lòng, lúc đó Trần Tiến chưa biết gì về sự bóc lột của bọn chủ nhân tư bản cũng như không hiểu mình đang bị lợi dụng. Mãi đến cuối năm 1945, trong một lần nghỉ phép, Trần Tiến trở ra Hà Nội, đau lòng trước cảnh nhân dân chết đói quá thê thảm và được Việt Minh kêu gọi, Trần Tiến đã tham gia bộ đội vào đầu năm 1946. Mây năm đầu, Trần Tiến huấn luyện võ thuật cho “Bộ đội đặc biệt tinh nhuệ” (năm 1967 cải danh là đặc công). Những năm sau, tuy đảm nhận nhiệm vụ khác nhưng Trần Tiến vẫn thường xuyên luyện võ và dạy võ cho mọi người khi có điều kiện. Sau 32 năm phục vụ trong quân ngũ, Trần Tiến nghỉ hưu vào năm 1978. Thế nhưng đến cuối năm 1981, Trần Tiến còn tự nguyện sang huấn luyện võ thuật định kỳ cho một số sĩ quan quân đội nhân dân cách mạng Campuchia và mãi đến 20.09.1989 mới về nghỉ hẳn tại Tp. HCM.

    Luyện khí công hàng ngày, sống thanh thản với tình thương yêu con người rõ rệt như vậy, ở tuổi xấp xỉ 100 (năm 2010), ông vẫn còn sáng suốt, khỏe mạnh và …đứng lớp môn khí công mở tại Nhà bảo tàng không quân phía Nam. Đập tay vào ngực thật mạnh, ông nói: “Đánh mạnh vậy nhưng tôi không đau. Tôi chết vì các cơ quan bị lão hóa thì có, chứ tôi không chết vì bệnh tật gì đâu”.

    Ông đã chuẩn bị trước cho thời khắc phải chia tay võ thuật, chia tay các môn đệ, bạn bè mà bước vào thế giới khác êm ả, bình yên hơn. “Hơn 80 năm sống với võ nghệ, trong đó có 32 năm phục vụ trong quân ngũ, nghỉ hưu với quân hàm đại tá, nhưng khi nhắm mắt, tôi không để nhà nước phải lo”. Vị đại tá về hưu đã đưa vào bản di chúc: thân của ông sẽ thành tro bụi để trở về với cát bụi, cô học trò trung tín nhất sẽ đọc điếu văn, tiền phúng điếu sẽ dành để giúp trẻ mồ côi, người nghèo khổ…

    Ngày 16-02-2011, do tuổi cao, sức yếu, ông bị ngã tại nhà riêng và dẫn đến chấn thương sọ não. Tuy được các bác sĩ ở bệnh viện Chợ Rẫy tận tình cứu chữa, nhưng ông đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 13 giờ 7 phút ngày 21-02-2011 (tức ngày 19, tháng Giêng, năm Tân Mão), hưởng thọ 101 tuổi.

    Cố Võ sư Trần Tiến mang Võ Việt sang trời tây

    Posted at  tháng 11 20, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Sẵn vốn liếng võ cổ truyền Việt Nam cộng với tinh hoa võ thuật của các tông phái Trung Quốc và Nhật Bản… cùng kinh nghiệm dạy võ trong quân đội, lão võ sư Trần Tiến đã tinh lọc và đúc kết thành võ phái Thiếu Lâm nội gia võ thuật đạo Việt Nam và phổ biến tại Trung tâm TDTT quốc phòng 2, Nhà bảo tàng không quân phía Nam… Học trò của ông có cả người Mỹ, Pháp, Ý, Nga, Brazil…

    Võ sư Trần Tiến sinh ngày 04 tháng 02 năm 1911 (Tân Hợi) tại Cầu Vòng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Năm 1913, cụ Hoàng Hoa Thám qua đời, nghĩa quân tan rã; ông nội và bố mẹ Trần Tiến phải thay tên đổi họ, lẩn tránh về thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Trần Tiến được bố khai sinh lại: ngày 04.02.1913. Sinh trưởng trong gia đình có truyền thống võ nghệ, Trần Tiến được ông nội khai tâm võ học lúc 10 tuổi. Hai năm sau, ông Trần Tiến qua đời, Trần Tiến được thân phụ truyền dạy tiếp. Từ 15-20 tuổi, Trần Tiến học Thiếu Lâm với thầy Lý Giang Nam – quê ở Phúc Kiến (Trung Quốc), chạy sang Hải Phòng lánh nạn. Những năm sau, Trần Tiến tập Nhu thuật cùng ông Tanabe (Nhật), Judo với ông Karachi (Nhật) và luyện cả quyền Anh cùng võ sĩ Lafleur (người Pháp gốc Phi).Tuổi thanh niên sôi nổi lại biết võ nghệ, Trần Tiến đã tham gia nhiều cuộc so tài về roi và kiếm ở miền Bắc trong 6 tháng đầu năm 1936. Nhưng đến tháng 8.1936, Trần Tiến buộc lòng phải rời xa quê hương vào miền Nam do bị thực dân Pháp đe dọa bắt giam vì “xách động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự”. Đến Sài Gòn, Trần Tiến tạm dừng bước và luyện tập tại Cercle Sportif Saigonnais (nay là Cung văn hóa lao động Tp. HCM) và sau đó hoạt động võ thuật ở nhiều nơi…

    Năm 1943, Trần Tiến dạy thể dục tại đồn điền cao su Đất Đỏ (Plantation Terre Rouge de l’Indochine) ở Kompong Cham (Campuchia). Công nhân nơi đây phần lớn là người Việt từ miền Bắc sang. Trong thời gian làm việc, Trần Tiến đươc tên chủ đồn điền người Pháp “quý mến” vì đã giúp công nhân có sức khỏe để “làm việc suốt ngày đêm”. Thật lòng, lúc đó Trần Tiến chưa biết gì về sự bóc lột của bọn chủ nhân tư bản cũng như không hiểu mình đang bị lợi dụng. Mãi đến cuối năm 1945, trong một lần nghỉ phép, Trần Tiến trở ra Hà Nội, đau lòng trước cảnh nhân dân chết đói quá thê thảm và được Việt Minh kêu gọi, Trần Tiến đã tham gia bộ đội vào đầu năm 1946. Mây năm đầu, Trần Tiến huấn luyện võ thuật cho “Bộ đội đặc biệt tinh nhuệ” (năm 1967 cải danh là đặc công). Những năm sau, tuy đảm nhận nhiệm vụ khác nhưng Trần Tiến vẫn thường xuyên luyện võ và dạy võ cho mọi người khi có điều kiện. Sau 32 năm phục vụ trong quân ngũ, Trần Tiến nghỉ hưu vào năm 1978. Thế nhưng đến cuối năm 1981, Trần Tiến còn tự nguyện sang huấn luyện võ thuật định kỳ cho một số sĩ quan quân đội nhân dân cách mạng Campuchia và mãi đến 20.09.1989 mới về nghỉ hẳn tại Tp. HCM.

    Luyện khí công hàng ngày, sống thanh thản với tình thương yêu con người rõ rệt như vậy, ở tuổi xấp xỉ 100 (năm 2010), ông vẫn còn sáng suốt, khỏe mạnh và …đứng lớp môn khí công mở tại Nhà bảo tàng không quân phía Nam. Đập tay vào ngực thật mạnh, ông nói: “Đánh mạnh vậy nhưng tôi không đau. Tôi chết vì các cơ quan bị lão hóa thì có, chứ tôi không chết vì bệnh tật gì đâu”.

    Ông đã chuẩn bị trước cho thời khắc phải chia tay võ thuật, chia tay các môn đệ, bạn bè mà bước vào thế giới khác êm ả, bình yên hơn. “Hơn 80 năm sống với võ nghệ, trong đó có 32 năm phục vụ trong quân ngũ, nghỉ hưu với quân hàm đại tá, nhưng khi nhắm mắt, tôi không để nhà nước phải lo”. Vị đại tá về hưu đã đưa vào bản di chúc: thân của ông sẽ thành tro bụi để trở về với cát bụi, cô học trò trung tín nhất sẽ đọc điếu văn, tiền phúng điếu sẽ dành để giúp trẻ mồ côi, người nghèo khổ…

    Ngày 16-02-2011, do tuổi cao, sức yếu, ông bị ngã tại nhà riêng và dẫn đến chấn thương sọ não. Tuy được các bác sĩ ở bệnh viện Chợ Rẫy tận tình cứu chữa, nhưng ông đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 13 giờ 7 phút ngày 21-02-2011 (tức ngày 19, tháng Giêng, năm Tân Mão), hưởng thọ 101 tuổi.

    Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh (tên thật là Tô Văn), biệt danh Sáu nhỏ sinh năm 1900 tại Chợ Lớn Sài Gòn.Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh là con trai út trong 1 gia đình đông con gồm 6 chị em, cha của ông là cụ Tô Nghiêm, người gốc Trung Quốc, mẹ là bà La Thị Muối, người Nghệ An, Việt Nam.Do thể chất nhỏ bé và thường hay bị bệnh tật nên cha mẹ đã gửi ông cho Mộc Đức Thiền Sư, một người Hoa lưu lạc ở Việt Nam, thâu nhận làm đệ tử với mong muốn ông được rèn luyện võ nghệ, tăng cường sức khỏe. Thấy Tô Văn nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn, tháo vát lại có năng khiếu về võ thuật, Mộc Đức Thiền Sư hết lòng quý mến truyền dạy võ nghệ cho cậu. Năm 1913, được sự đồng ý của gia đình, 2 chú cháu khăn gói sang Trung Quốc. Từ đây, cậu bé Tô Văn được các hòa thượng trong chùa Phi Lai Tự thâu nhận. Họ dạy cho ông cách Thiền định và võ học của Bắc phái như: Côn Luân, Cửu Ngũ Tam Vương, Xà Quyền.Ngoài ra ông được thầy Trường Giang Mạnh Vũ truyền dạy cho Thiếu lâm Nam phái.

    Sau 11 năm ông quay trở lại quê hương, đổi tên hiệu thành Thiện Tâm Thiền Sư Đoàn Tâm Ảnh. Từ bộ căn bản “Thất Thập Nhị Huyền Công” (72 thế căn bản tuyệt diệu nhất của Thiếu Lâm Tự), “Thập Bát La Hán Thế” bao gồm 18 chiêu thức chiến đấu (18 thế này đã được đúc thành 18 pho tượng ở Chùa Thiếu Lâm; “La Hán Thần Công” (18 chiêu thức tuyệt kỹ) đều được Tô Văn đón nhận, say mê luyện tập. Khi đã lĩnh hội được hầu hết những tinh hoa của Thiếu lâm, kết hợp với 1 số người, Tô Văn vận dụng “Thất thập nhị Huyền Công”, 18 thế quyền La Hán kết hợp với quyền của bên Bắc phái sáng chế ra 18 bài quyền, (Bài thấp nhất có 21 thức chính, bài dài nhất có 73 thức chính). Trong 18 bài quyền này ông lấy “Thất Thập Nhị Huyền Công” làm căn bản, lấy “Thập Bát Chưởng Công”, “Lục Bộ Thần Công” để ghép đan xen vào thành 18 bài quyền theo thức tự từ thấp lên cao, riêng bộ La Hán Thần Công ông để vào chương trình Thượng Đẳng và đặt tên cho môn võ này là môn “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền”.

    Ngày 03/11/2008 (tức ngày 06/10 năm Mậu Tý), lão Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh tạ thế, hưởng dương 109 tuổi. Ông mất đi để lại cho các thế hệ sau một kho tàng tài liệu về võ thuật; từ các bí kíp võ thuật của Bắc phái như “Côn Lôn”, “Cửu Ngũ Tam Vương”, “Xà Quyền“… cho đến tài liệu về võ học của phái “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền” và cả những kinh nghiệm mà ông đã đúc rút ra trong suốt cuộc đời phiêu bạt giang hồ của mình.
    Nhớ lại hồi nhỏ, khoảng năm 1969, tôi mới 15 tuổi, có dịp được thọ giáo môn Võ Lâm Côn Luân Bắc phái của Bác Sáu. Thời chúng tôi thọ giáo, Lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh bảo các môn sinh không được gọi là thầy, mà gọi là Bác Sáu. Đây là một duyên may, tôi thích học võ, nhưng học Judo không được vì không đủ tiền sắm bộ võ phục. Một anh bạn rủ tôi học võ ở hẻm Vườn Chuối, đối diện Trường Trung học Nông Lâm Súc Cần Thơ (cũ) nay là hẻm 58 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chỉ quần đùi, ở trần là tập được, không cần võ phục. Thêm một điều rất đặc biệt của Bác Sáu là nếu võ sinh là học sinh thì được miễn phí, Bác Sáu chỉ lấy học phí của những người có làm việc hoặc người lớn. Hai điều kiện này quá phù hợp với đám học sinh nghèo như bọn tôi.

    Trong thời gian học võ với Bác Sáu, các võ sinh được học tập với thời khóa biểu tự do, không có giờ học phổ thông thì cứ đến tập. Dần dần các võ sinh mới tự ổn định giờ tập luyện. Số giờ học không hạn chế, mệt thì nghỉ. Học tập bảy ngày trong tuần, không nhất thiết phải nghỉ Chủ nhật.

    Trong quá trình học tập, ngoài các bài võ, đôi khi Bác Sáu giảng dạy thêm cho chúng tôi về võ lý, đạo đức của võ sinh. Chúng tôi thường thấy Bác Sáu cặm cụi ghi ghi, chép chép vào các quyển tập. Rồi sau đó, các quyển này được chuyền tay cho các võ sinh chép lại tại chỗ hoặc mượn về nhà chép. Chỗ nào chưa hiểu thì hỏi, Bác Sáu giải thích rất cặn kẻ. Anh bạn tôi là một người siêng năng nên chép được rất nhiều di bút của Bác Sáu. Trong đó có nhiều bài võ của nhiều dòng võ La Hán, Tứ linh, Bát tiên, Mai hoa quyền… Nhiều bài lý luận về các nguyên tắc học võ, dạy võ, nhận định thế võ đúng hay sai,… Bác Sáu đã soạn nhiều sách võ thuật được xuất bản trước năm 1975. Trong đó, nổi tiếng nhất là quyển Thất thập nhị huyền công và Thập bát La Hán quyền, xuất bản năm 1971.

    Bác Sáu chính là người đã hệ thống hóa các thế căn bản của môn võ cổ truyền Việt Nam. Theo sách Võ Cổ Truyền Việt Nam của Liên đoàn Võ Cổ Truyền Việt Nam, xuất bản năm 2011, nếu thống kê sẽ thấy có trên hai phần ba các thế võ căn bản, còn gọi là căn bản công, tên gọi có một phần khác nhau, nhưng động tác trùng khớp với 72 thế căn bản mà Bác Sáu đã soạn trong sách trên.

    Picture10.jpg

    Phương pháp tập luyện của Bác Sáu có lẽ cũng có một không hai ở Việt Nam, mà cũng có thể cả quốc tế, đó là đấu quyền. Nếu như các phái võ khác chỉ có bài quyền riêng lẽ, hoặc đấu nhau cùng lúc vài ba thế. Bác Sáu lại dạy từng cặp bài quyền đối nhau. Hai võ sinh, mỗi người một bài võ đấu luyện với nhau. Đây là một trong những phương pháp huấn luyện võ thuật tuyệt vời, tạo hứng thú cho võ sinh, giúp quen đòn dạn thế trong chiến đấu. Sau một thời gian tập luyện sẽ trở thành phản xạ tức thời.

    Bác Sáu có rất nhiều đồ đệ thành danh trong và ngoài nước, kể cả ở môn phái võ khác. Điển hình là anh Nguyễn Văn Phước (Phu Nguyen), Việt kiều Canada, hiện là Bát đẳng huyền đai, Phó Tổng Thư ký Tae Kwon Do hệ phái WTF (World Taekwondo Federation), phụ trách Châu Á.

    Tôi và người bạn miệt mài tập võ cho đến năm 1973 thì bạn tôi qua đời. Thêm vào đó, bận việc học, tôi phải nghỉ tập để hoàn tất việc học phổ thông.

    Rồi sau năm 1975, thời gian khoảng từ năm 1987 - 1990 tôi có tham gia huấn luyện Võ lâm. Nhưng phần lớn thời gian còn lại, vì chuyện học hành, làm việc, sinh kế quá bận rộn, nên tôi không chuyên tâm đến chuyện võ nghệ. Gần đây, sắp đến tuổi về hưu, công việc giảm, tôi mới có dịp đọc lại các di bút của Bác Sáu, do các bạn sưu tầm trước và sau năm 1975, giao lại cho tôi. Một số khám phá mới mà tôi hồi nhỏ, hoặc không hiểu hoặc không để ý đến.

    Có lẽ Bác Sáu đã đạt đỉnh cao của võ thuật. Với triết lý, học võ cũng là học làm người, không tấn công trước mà lấy nhẫn làm đầu, áp dụng võ thuật theo cách của người Việt xưa là lấy nhu chế cương.

    Xin trích nguyên văn một đoạn trong di bút của Bác Sáu, được viết tại Cần Thơ, khoảng năm 1988: “… Tự vệ - thể thao - đạo hạnh, đào tạo người học cho k
    ỳ được cả nghề lẫn nết. Không chiến đấu cũng đặng khỏe mạnh, thể xác sung mãn, tinh thần có tác phong đạo đức.

    Bởi vì coi quyền thuật là môn giáo luyện về cơ thể. Trong đó, có những cử động cương nhu, khí lực biến chuyển thân thể. Khi dạy, động kình phát chiêu, đầy chưởng. Đó là làm cho động mạch, điều hòa hơi thở để bồi dưỡng sức khỏe, tăng cường khí lực, sung mãn tinh thần. Già bảy tám mươi còn sức lao động. Đó là môn võ chú trọng về ba điểm chính: ích cho nước, thuận cho nhà, lợi cho dân…...

    ….. Không có võ nào mà không chiến đấu. Là trường hợp cây muốn lặng mà gió không muốn ngừng mới có. Bởi vì võ Bắc phái luyện về di ảnh kỳ hình, lấy nhu áp cương. Nếu háo chiến thì thua bệnh viện, thắng nhà tù. Như vậy sao gọi là võ đạo được.

    Lối nhẫn nhịn của Bắc phái tối thượng. Bởi vì không nghiên cứu tấn công trước ai khi gây chiến, mà đứng chờ tối đa, nếu bãi chiến càng tốt. Vì cách di ảnh, khi bị ai tấn công, chỉ lắc lư một cái thì xuất nhập như quỷ thần. Nếu biết tấn công trước thì họ chết, như ta cũng chết tù. Thế nên, không biết đòn tấn công trước ai là chờ đợi cho hòa, càng tốt….”.

    Xin mạn phép vài dòng, cũng có thể suy nghĩ chưa thật thấu đáo, để tưởng niệm con người tài ba xuất chúng trong làng võ thuật Việt Nam, Lão Võ sư Đoàn Tâm Ảnh. Chúc hương hồn Bác Sáu an lạc ở cõi vĩnh hằng./.
    Khải Đăng

    Thiền sư - Võ sư Đoàn Tâm Ảnh (Tô Văn 1900-2008)

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh (tên thật là Tô Văn), biệt danh Sáu nhỏ sinh năm 1900 tại Chợ Lớn Sài Gòn.Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh là con trai út trong 1 gia đình đông con gồm 6 chị em, cha của ông là cụ Tô Nghiêm, người gốc Trung Quốc, mẹ là bà La Thị Muối, người Nghệ An, Việt Nam.Do thể chất nhỏ bé và thường hay bị bệnh tật nên cha mẹ đã gửi ông cho Mộc Đức Thiền Sư, một người Hoa lưu lạc ở Việt Nam, thâu nhận làm đệ tử với mong muốn ông được rèn luyện võ nghệ, tăng cường sức khỏe. Thấy Tô Văn nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn, tháo vát lại có năng khiếu về võ thuật, Mộc Đức Thiền Sư hết lòng quý mến truyền dạy võ nghệ cho cậu. Năm 1913, được sự đồng ý của gia đình, 2 chú cháu khăn gói sang Trung Quốc. Từ đây, cậu bé Tô Văn được các hòa thượng trong chùa Phi Lai Tự thâu nhận. Họ dạy cho ông cách Thiền định và võ học của Bắc phái như: Côn Luân, Cửu Ngũ Tam Vương, Xà Quyền.Ngoài ra ông được thầy Trường Giang Mạnh Vũ truyền dạy cho Thiếu lâm Nam phái.

    Sau 11 năm ông quay trở lại quê hương, đổi tên hiệu thành Thiện Tâm Thiền Sư Đoàn Tâm Ảnh. Từ bộ căn bản “Thất Thập Nhị Huyền Công” (72 thế căn bản tuyệt diệu nhất của Thiếu Lâm Tự), “Thập Bát La Hán Thế” bao gồm 18 chiêu thức chiến đấu (18 thế này đã được đúc thành 18 pho tượng ở Chùa Thiếu Lâm; “La Hán Thần Công” (18 chiêu thức tuyệt kỹ) đều được Tô Văn đón nhận, say mê luyện tập. Khi đã lĩnh hội được hầu hết những tinh hoa của Thiếu lâm, kết hợp với 1 số người, Tô Văn vận dụng “Thất thập nhị Huyền Công”, 18 thế quyền La Hán kết hợp với quyền của bên Bắc phái sáng chế ra 18 bài quyền, (Bài thấp nhất có 21 thức chính, bài dài nhất có 73 thức chính). Trong 18 bài quyền này ông lấy “Thất Thập Nhị Huyền Công” làm căn bản, lấy “Thập Bát Chưởng Công”, “Lục Bộ Thần Công” để ghép đan xen vào thành 18 bài quyền theo thức tự từ thấp lên cao, riêng bộ La Hán Thần Công ông để vào chương trình Thượng Đẳng và đặt tên cho môn võ này là môn “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền”.

    Ngày 03/11/2008 (tức ngày 06/10 năm Mậu Tý), lão Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh tạ thế, hưởng dương 109 tuổi. Ông mất đi để lại cho các thế hệ sau một kho tàng tài liệu về võ thuật; từ các bí kíp võ thuật của Bắc phái như “Côn Lôn”, “Cửu Ngũ Tam Vương”, “Xà Quyền“… cho đến tài liệu về võ học của phái “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền” và cả những kinh nghiệm mà ông đã đúc rút ra trong suốt cuộc đời phiêu bạt giang hồ của mình.
    Nhớ lại hồi nhỏ, khoảng năm 1969, tôi mới 15 tuổi, có dịp được thọ giáo môn Võ Lâm Côn Luân Bắc phái của Bác Sáu. Thời chúng tôi thọ giáo, Lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh bảo các môn sinh không được gọi là thầy, mà gọi là Bác Sáu. Đây là một duyên may, tôi thích học võ, nhưng học Judo không được vì không đủ tiền sắm bộ võ phục. Một anh bạn rủ tôi học võ ở hẻm Vườn Chuối, đối diện Trường Trung học Nông Lâm Súc Cần Thơ (cũ) nay là hẻm 58 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chỉ quần đùi, ở trần là tập được, không cần võ phục. Thêm một điều rất đặc biệt của Bác Sáu là nếu võ sinh là học sinh thì được miễn phí, Bác Sáu chỉ lấy học phí của những người có làm việc hoặc người lớn. Hai điều kiện này quá phù hợp với đám học sinh nghèo như bọn tôi.

    Trong thời gian học võ với Bác Sáu, các võ sinh được học tập với thời khóa biểu tự do, không có giờ học phổ thông thì cứ đến tập. Dần dần các võ sinh mới tự ổn định giờ tập luyện. Số giờ học không hạn chế, mệt thì nghỉ. Học tập bảy ngày trong tuần, không nhất thiết phải nghỉ Chủ nhật.

    Trong quá trình học tập, ngoài các bài võ, đôi khi Bác Sáu giảng dạy thêm cho chúng tôi về võ lý, đạo đức của võ sinh. Chúng tôi thường thấy Bác Sáu cặm cụi ghi ghi, chép chép vào các quyển tập. Rồi sau đó, các quyển này được chuyền tay cho các võ sinh chép lại tại chỗ hoặc mượn về nhà chép. Chỗ nào chưa hiểu thì hỏi, Bác Sáu giải thích rất cặn kẻ. Anh bạn tôi là một người siêng năng nên chép được rất nhiều di bút của Bác Sáu. Trong đó có nhiều bài võ của nhiều dòng võ La Hán, Tứ linh, Bát tiên, Mai hoa quyền… Nhiều bài lý luận về các nguyên tắc học võ, dạy võ, nhận định thế võ đúng hay sai,… Bác Sáu đã soạn nhiều sách võ thuật được xuất bản trước năm 1975. Trong đó, nổi tiếng nhất là quyển Thất thập nhị huyền công và Thập bát La Hán quyền, xuất bản năm 1971.

    Bác Sáu chính là người đã hệ thống hóa các thế căn bản của môn võ cổ truyền Việt Nam. Theo sách Võ Cổ Truyền Việt Nam của Liên đoàn Võ Cổ Truyền Việt Nam, xuất bản năm 2011, nếu thống kê sẽ thấy có trên hai phần ba các thế võ căn bản, còn gọi là căn bản công, tên gọi có một phần khác nhau, nhưng động tác trùng khớp với 72 thế căn bản mà Bác Sáu đã soạn trong sách trên.

    Picture10.jpg

    Phương pháp tập luyện của Bác Sáu có lẽ cũng có một không hai ở Việt Nam, mà cũng có thể cả quốc tế, đó là đấu quyền. Nếu như các phái võ khác chỉ có bài quyền riêng lẽ, hoặc đấu nhau cùng lúc vài ba thế. Bác Sáu lại dạy từng cặp bài quyền đối nhau. Hai võ sinh, mỗi người một bài võ đấu luyện với nhau. Đây là một trong những phương pháp huấn luyện võ thuật tuyệt vời, tạo hứng thú cho võ sinh, giúp quen đòn dạn thế trong chiến đấu. Sau một thời gian tập luyện sẽ trở thành phản xạ tức thời.

    Bác Sáu có rất nhiều đồ đệ thành danh trong và ngoài nước, kể cả ở môn phái võ khác. Điển hình là anh Nguyễn Văn Phước (Phu Nguyen), Việt kiều Canada, hiện là Bát đẳng huyền đai, Phó Tổng Thư ký Tae Kwon Do hệ phái WTF (World Taekwondo Federation), phụ trách Châu Á.

    Tôi và người bạn miệt mài tập võ cho đến năm 1973 thì bạn tôi qua đời. Thêm vào đó, bận việc học, tôi phải nghỉ tập để hoàn tất việc học phổ thông.

    Rồi sau năm 1975, thời gian khoảng từ năm 1987 - 1990 tôi có tham gia huấn luyện Võ lâm. Nhưng phần lớn thời gian còn lại, vì chuyện học hành, làm việc, sinh kế quá bận rộn, nên tôi không chuyên tâm đến chuyện võ nghệ. Gần đây, sắp đến tuổi về hưu, công việc giảm, tôi mới có dịp đọc lại các di bút của Bác Sáu, do các bạn sưu tầm trước và sau năm 1975, giao lại cho tôi. Một số khám phá mới mà tôi hồi nhỏ, hoặc không hiểu hoặc không để ý đến.

    Có lẽ Bác Sáu đã đạt đỉnh cao của võ thuật. Với triết lý, học võ cũng là học làm người, không tấn công trước mà lấy nhẫn làm đầu, áp dụng võ thuật theo cách của người Việt xưa là lấy nhu chế cương.

    Xin trích nguyên văn một đoạn trong di bút của Bác Sáu, được viết tại Cần Thơ, khoảng năm 1988: “… Tự vệ - thể thao - đạo hạnh, đào tạo người học cho k
    ỳ được cả nghề lẫn nết. Không chiến đấu cũng đặng khỏe mạnh, thể xác sung mãn, tinh thần có tác phong đạo đức.

    Bởi vì coi quyền thuật là môn giáo luyện về cơ thể. Trong đó, có những cử động cương nhu, khí lực biến chuyển thân thể. Khi dạy, động kình phát chiêu, đầy chưởng. Đó là làm cho động mạch, điều hòa hơi thở để bồi dưỡng sức khỏe, tăng cường khí lực, sung mãn tinh thần. Già bảy tám mươi còn sức lao động. Đó là môn võ chú trọng về ba điểm chính: ích cho nước, thuận cho nhà, lợi cho dân…...

    ….. Không có võ nào mà không chiến đấu. Là trường hợp cây muốn lặng mà gió không muốn ngừng mới có. Bởi vì võ Bắc phái luyện về di ảnh kỳ hình, lấy nhu áp cương. Nếu háo chiến thì thua bệnh viện, thắng nhà tù. Như vậy sao gọi là võ đạo được.

    Lối nhẫn nhịn của Bắc phái tối thượng. Bởi vì không nghiên cứu tấn công trước ai khi gây chiến, mà đứng chờ tối đa, nếu bãi chiến càng tốt. Vì cách di ảnh, khi bị ai tấn công, chỉ lắc lư một cái thì xuất nhập như quỷ thần. Nếu biết tấn công trước thì họ chết, như ta cũng chết tù. Thế nên, không biết đòn tấn công trước ai là chờ đợi cho hòa, càng tốt….”.

    Xin mạn phép vài dòng, cũng có thể suy nghĩ chưa thật thấu đáo, để tưởng niệm con người tài ba xuất chúng trong làng võ thuật Việt Nam, Lão Võ sư Đoàn Tâm Ảnh. Chúc hương hồn Bác Sáu an lạc ở cõi vĩnh hằng./.
    Khải Đăng

    Quảng Đông (Trung Quốc) từng có 10 nhân vật võ công-võ đức cực cao, hành hiệp trượng nghĩa, được mọi người tôn kính, giới võ lâm gọi là “Quảng Đông thập hổ” (10 con hổ ở đất Quảng Đông). Trong 10 người này, có một số về sau trở thành thủ lĩnh của những võ đoàn ở địa phương, tạo nên nhiều giai thoại truyền kỳ. Cuộc đời của họ là đề tài khai thác hấp dẫn của sân khấu cũng như điện ảnh.

    Hoàng Phi Hồng có nằm trong thập hổ? Đây là vấn đề vẫn còn tranh cãi. Trong phim về họ Hoàng do diễn viên nổi tiếng Quan Đức Hưng đóng thì nhiều lần đề cập đến “Quảng Đông thập hổ Hoàng Phi Hồng”. Trong tiểu thuyết võ hiệp “Võ đàn nhị hổ” của Trần Kính tiên sinh cũng liệt Hoàng Phi Hồng vào hàng thập hổ. Nhưng trong “Hoàng Phi Hồng truyện” của Chu Ngu Trai-đệ tử của Lâm Thế Vinh (cao đồ của Hoàng Phi Hồng) thì Phi Hồng không có tên trong “Quảng Đông thập hổ” mà thay vào đó là Châu Thái.

    Một nhân vật khác là Tô Xán cũng có nhiều nghi vấn về xuất thân. Trong phim “Võ trạng nguyên Tô Khất Nhi” của Châu Tinh Trì thì họ Tô có tên đầy đủ là Tô Sát Ha Nhi Xán, người Mãn Châu. Nhưng ngoài phim này ra thì chưa từng có tài liệu nào nói đến cái tên này.

    “Quảng Đông thập hổ” gồm các nhân vật sau

    Bạch hạc Hiệp gia quyền Vương Ẩn Lâm, Cửu long quyền Hoàng Trừng Khả, Hắc hổ Thập hình quyền Tô Hắc Hổ, Hồng quyền Hoàng Kỳ Anh (cha của Hoàng Phi Hồng), Đàm gia tam triển Đàm Tế Quân, Thất tinh quyền Lê Nhân Siêu, Túy quyền Tô Xán (tục xưng là Tô Khất Nhi), Thiết tuyến quyền Lương Khôn (tục xưng là Thiết Kiều Tam), Kim cang chỉ pháp Trần Trường Thái (tục xưng là Thiết Chỉ Trần), Nhuyễn miên chưởng Châu Thái (tục xưng là Châu Thiết Đầu).

    Bạch hạc Hiệp gia quyền - Vương Ẩn Lâm

    Hiệp gia quyền ở Quảng Đông là do đại hiệp Lý Hồ Tử từ Tứ Xuyên đến vùng Triệu Khánh truyền dạy tại chùa Khánh Vân, núi Đỉnh Hồ. Đại đệ tử là Vương Ẩn Lâm (còn có tên là Vương Phi Long) được chân truyền, sau về Quảng Châu hoàn tục dạy võ. Cao đồ của Vương Ẩn Lâm là Vương Luân truyền cho Đặng Cẩm Đào, Đặng truyền cho Ngô Triệu Chung, Ngô cải tiến quyền pháp, phát huy đặc điểm của Hạc hình, tạo thành Bạch hạc phái. Một phân chi của Bạch hạc phái phát triển ra nước ngoài, gọi tôn sư Vương Luân là “lạt ma” nên hình thành Lạt ma phái.

    Đặc điểm của Hiệp gia quyền là xuất quyền như mãnh hổ, chú trọng tấn công, trường kiều đại mã, lối đánh rộng thoáng, quyền pháp cương mãnh, chủ phát trường kình, chủ động tấn công. Công phu trấn môn có Thập nhị chi kiều, Đại-tiểu La hán, Hổ hạc tương đấu; binh khí có đơn đao, Tả bả thương, Cửu điểm thập nhị thương, Hưởng côn.

    Cửu long quyền - Hoàng Trừng Khả

    Hoàng Trừng Khả là nhân vật võ lâm nổi tiếng ngay thẳng, thiện lương. Hoàng vốn không thích võ thuật. Khi đại sư Hồng quyền Lục A Thái đang bị triều đình truy sát, Hoàng Trừng Khả một lòng cứu giúp. Lục sư phụ cảm cái ơn ấy mới khéo léo đem tuyệt học của Hồng quyền truyền cho Hoàng, từ đó mới vang danh thiên hạ.

    Hắc hổ Thập hình quyền - Tô Hắc Hổ

    Tô Hắc Hổ là người ở Bắc Cương, Thuận Đức, từ nhỏ ham võ nghệ. Sau nhờ hòa thượng Triệu Đức là võ tăng Thiếu Lâm Tự thường hạ sơn hóa duyên ở Quảng Đông đưa về Tung Sơn Thiếu Lâm Tự truyền dạy suốt 9 năm, tinh thông Hắc hổ Thập hình quyền, Túy bát tiên quyền, Hắc hổ đao, Kim cang côn… 24 tuổi Tô Hắc Hổ hạ sơn lập võ quán Thiếu Lâm Hắc hổ môn ở Sơn Quan, Quảng Châu, người đến học rất đông. Trong vùng có vị võ sư nổi tiếng phái Võ Đang là Lữ Vinh đố kỵ, đến võ quán thách đấu, bị Tô Hắc Hổ đánh bại thảm hại. Từ đó thanh danh nổi vang.

    Hắc hổ Thập hình quyền là quyền pháp mô phỏng thần thái của long (rồng), hổ (cọp), báo (beo), xà (rắn), hạc, sư (sư tử), tượng (voi), mã (ngựa, hầu (khỉ), điêu (chồn), động tác bài quyền phân làm 3 bộ phận là tiền thung, trung thung và hậu thung.

    Hồng quyền - Hoàng Kỳ Anh




    Hoàng Kỳ Anh là người Tây Tiều, Nam Hải. Công phu của ông là học từ Lục A Thái-truyền nhân của Hồng Hy Quan và Kim Câu Lý Hồ Tử, đều là danh thủ Thiếu Lâm. Kỳ Anh đem hết sở học của mình truyền cho con trai là Hoàng Phi Hồng. Hoàng Phi Hồng từng được thủ lĩnh quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc mời làm Tổng giáo luyện, huấn luyện kỹ thuật chiến đấu cho quân Cờ Đen, cùng đến Đài Loan chiến đấu chống quân Nhật. Hai cha con đều lừng danh ở chốn võ lâm.

    Túy quyền - Tô Xán

    Tô Xán vốn con nhà giàu có, lúc nhỏ mê võ nghệ, có gây oán thù với bang Phủ Đầu trong vùng. Sau bị bang này quấy phá, lại thêm bị mắc phải âm mưu của người Tây là Smith, lại thêm sai lầm của bản thân khiến người yêu là Hồng Ỷ Liên bỏ đi… do đó phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, phải xin ăn qua ngày. Về sau, tại trấn Trường Sa, Hồ Nam, Tô Xán được cha là Tô Quý và Thiết Kiều Tam hết lòng giúp đỡ, mới quyết tâm làm lại từ đầu. Võ nghệ, võ đức đều vang danh ngang với Thiết Kiều Tam, trở thành 1 trong “Quảng Đông thập hổ”.

    Thiết tuyến quyền - Lương Khôn

    Thiết Kiều Tam Lương Khôn lúc nhỏ học đại sư Thiếu Lâm Lý Hồ Tử, luyện thành công phu “thiết kiều”, tức cánh tay trước rắn như sắt. Ông tính tình rộng rãi, từng tại Quảng Châu dùng võ công chế thắng quần hùng từ các nơi đến, danh tiếng vang lừng. Sau Thiết Kiều Tam nghiện thuốc phiện nặng, được Viên Quang hòa thượng giúp cai, truyền cho Tam thập lục điểm Đồng hoàn côn pháp tại Năng Nhân tự. Nhưng vì thể lực quá suy nên nhiễm bệnh mà chết, thọ 73 tuổi.

    Nhuyễn miên chưởng - Châu Thái

    Châu Thái là người Trạm Giang, mê võ đến cuồng si. Lúc nhỏ luyện Châu gia quyền, tự cao tự đại, cho quyền pháp gia truyền của mình là nhất. Sau nhiều phen bại trận, được cao nhân chỉ điểm mới thoát thai hoán cốt, cải biến Châu gia quyền thành môn quyền lấy nhu làm chính, trong nhu có cương, thế thế nối nhau liên miên bất tận, hình thành tuyệt kỹ “Nhuyễn miên chưởng”.

    Thất tinh quyền - Lê Nhân Siêu

    Lê Nhân Siêu là người thông minh, cơ trí, có thể gọi là ‘trí tướng” trong “thập hổ”. Lê Nhân Siêu võ công cao cường nhưng kín đáo không lộ tướng, rất hiếm khi xuất thủ. Môn Thất tinh quyền của ông còn gọi là Thất thương quyền, chiêu thức cực hiểm, có thể giết đối phương trong một chiêu.

    Đàm gia tam triển - Đàm Tế Quân

    Đàm Tế Quân là người hào sảng, lúc nhỏ tính tình nóng nảy, sau theo tông sư Vịnh Xuân quyền Lương Tán tập luyện, không chỉ võ công tiến bộ mà tính cách trở nên ổn trọng, trầm tĩnh. Sau kết thân với những nhân vật cách mạng, không tiếc xả thân vì nghĩa.

    Kim cang chỉ pháp - Trần Trường Thái

    Trần Trường Thái võ công chủ về cương, xuất thủ nhanh như chớp, chỉ lực cực mạnh, luyện thành Kim cang chỉ pháp-ngón tay như sắt, nên được xưng là “Thiết chỉ Trần”. Trần vốn xuất thân thấp kém, khởi đầu quyết chí làm giàu, cho rằng “không quyền thế thì không thể giàu” nên sẵn sàng ỷ mạnh hiếp yếu. Về sau mới ngộ ra, cùng các anh em khác trong “thập hổ” lập chí chống ngoại xâm.

    Quảng Đông thập hổ 10 cao thủ võ thuật Quảng Đông Trung Quốc

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Quảng Đông (Trung Quốc) từng có 10 nhân vật võ công-võ đức cực cao, hành hiệp trượng nghĩa, được mọi người tôn kính, giới võ lâm gọi là “Quảng Đông thập hổ” (10 con hổ ở đất Quảng Đông). Trong 10 người này, có một số về sau trở thành thủ lĩnh của những võ đoàn ở địa phương, tạo nên nhiều giai thoại truyền kỳ. Cuộc đời của họ là đề tài khai thác hấp dẫn của sân khấu cũng như điện ảnh.

    Hoàng Phi Hồng có nằm trong thập hổ? Đây là vấn đề vẫn còn tranh cãi. Trong phim về họ Hoàng do diễn viên nổi tiếng Quan Đức Hưng đóng thì nhiều lần đề cập đến “Quảng Đông thập hổ Hoàng Phi Hồng”. Trong tiểu thuyết võ hiệp “Võ đàn nhị hổ” của Trần Kính tiên sinh cũng liệt Hoàng Phi Hồng vào hàng thập hổ. Nhưng trong “Hoàng Phi Hồng truyện” của Chu Ngu Trai-đệ tử của Lâm Thế Vinh (cao đồ của Hoàng Phi Hồng) thì Phi Hồng không có tên trong “Quảng Đông thập hổ” mà thay vào đó là Châu Thái.

    Một nhân vật khác là Tô Xán cũng có nhiều nghi vấn về xuất thân. Trong phim “Võ trạng nguyên Tô Khất Nhi” của Châu Tinh Trì thì họ Tô có tên đầy đủ là Tô Sát Ha Nhi Xán, người Mãn Châu. Nhưng ngoài phim này ra thì chưa từng có tài liệu nào nói đến cái tên này.

    “Quảng Đông thập hổ” gồm các nhân vật sau

    Bạch hạc Hiệp gia quyền Vương Ẩn Lâm, Cửu long quyền Hoàng Trừng Khả, Hắc hổ Thập hình quyền Tô Hắc Hổ, Hồng quyền Hoàng Kỳ Anh (cha của Hoàng Phi Hồng), Đàm gia tam triển Đàm Tế Quân, Thất tinh quyền Lê Nhân Siêu, Túy quyền Tô Xán (tục xưng là Tô Khất Nhi), Thiết tuyến quyền Lương Khôn (tục xưng là Thiết Kiều Tam), Kim cang chỉ pháp Trần Trường Thái (tục xưng là Thiết Chỉ Trần), Nhuyễn miên chưởng Châu Thái (tục xưng là Châu Thiết Đầu).

    Bạch hạc Hiệp gia quyền - Vương Ẩn Lâm

    Hiệp gia quyền ở Quảng Đông là do đại hiệp Lý Hồ Tử từ Tứ Xuyên đến vùng Triệu Khánh truyền dạy tại chùa Khánh Vân, núi Đỉnh Hồ. Đại đệ tử là Vương Ẩn Lâm (còn có tên là Vương Phi Long) được chân truyền, sau về Quảng Châu hoàn tục dạy võ. Cao đồ của Vương Ẩn Lâm là Vương Luân truyền cho Đặng Cẩm Đào, Đặng truyền cho Ngô Triệu Chung, Ngô cải tiến quyền pháp, phát huy đặc điểm của Hạc hình, tạo thành Bạch hạc phái. Một phân chi của Bạch hạc phái phát triển ra nước ngoài, gọi tôn sư Vương Luân là “lạt ma” nên hình thành Lạt ma phái.

    Đặc điểm của Hiệp gia quyền là xuất quyền như mãnh hổ, chú trọng tấn công, trường kiều đại mã, lối đánh rộng thoáng, quyền pháp cương mãnh, chủ phát trường kình, chủ động tấn công. Công phu trấn môn có Thập nhị chi kiều, Đại-tiểu La hán, Hổ hạc tương đấu; binh khí có đơn đao, Tả bả thương, Cửu điểm thập nhị thương, Hưởng côn.

    Cửu long quyền - Hoàng Trừng Khả

    Hoàng Trừng Khả là nhân vật võ lâm nổi tiếng ngay thẳng, thiện lương. Hoàng vốn không thích võ thuật. Khi đại sư Hồng quyền Lục A Thái đang bị triều đình truy sát, Hoàng Trừng Khả một lòng cứu giúp. Lục sư phụ cảm cái ơn ấy mới khéo léo đem tuyệt học của Hồng quyền truyền cho Hoàng, từ đó mới vang danh thiên hạ.

    Hắc hổ Thập hình quyền - Tô Hắc Hổ

    Tô Hắc Hổ là người ở Bắc Cương, Thuận Đức, từ nhỏ ham võ nghệ. Sau nhờ hòa thượng Triệu Đức là võ tăng Thiếu Lâm Tự thường hạ sơn hóa duyên ở Quảng Đông đưa về Tung Sơn Thiếu Lâm Tự truyền dạy suốt 9 năm, tinh thông Hắc hổ Thập hình quyền, Túy bát tiên quyền, Hắc hổ đao, Kim cang côn… 24 tuổi Tô Hắc Hổ hạ sơn lập võ quán Thiếu Lâm Hắc hổ môn ở Sơn Quan, Quảng Châu, người đến học rất đông. Trong vùng có vị võ sư nổi tiếng phái Võ Đang là Lữ Vinh đố kỵ, đến võ quán thách đấu, bị Tô Hắc Hổ đánh bại thảm hại. Từ đó thanh danh nổi vang.

    Hắc hổ Thập hình quyền là quyền pháp mô phỏng thần thái của long (rồng), hổ (cọp), báo (beo), xà (rắn), hạc, sư (sư tử), tượng (voi), mã (ngựa, hầu (khỉ), điêu (chồn), động tác bài quyền phân làm 3 bộ phận là tiền thung, trung thung và hậu thung.

    Hồng quyền - Hoàng Kỳ Anh




    Hoàng Kỳ Anh là người Tây Tiều, Nam Hải. Công phu của ông là học từ Lục A Thái-truyền nhân của Hồng Hy Quan và Kim Câu Lý Hồ Tử, đều là danh thủ Thiếu Lâm. Kỳ Anh đem hết sở học của mình truyền cho con trai là Hoàng Phi Hồng. Hoàng Phi Hồng từng được thủ lĩnh quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc mời làm Tổng giáo luyện, huấn luyện kỹ thuật chiến đấu cho quân Cờ Đen, cùng đến Đài Loan chiến đấu chống quân Nhật. Hai cha con đều lừng danh ở chốn võ lâm.

    Túy quyền - Tô Xán

    Tô Xán vốn con nhà giàu có, lúc nhỏ mê võ nghệ, có gây oán thù với bang Phủ Đầu trong vùng. Sau bị bang này quấy phá, lại thêm bị mắc phải âm mưu của người Tây là Smith, lại thêm sai lầm của bản thân khiến người yêu là Hồng Ỷ Liên bỏ đi… do đó phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, phải xin ăn qua ngày. Về sau, tại trấn Trường Sa, Hồ Nam, Tô Xán được cha là Tô Quý và Thiết Kiều Tam hết lòng giúp đỡ, mới quyết tâm làm lại từ đầu. Võ nghệ, võ đức đều vang danh ngang với Thiết Kiều Tam, trở thành 1 trong “Quảng Đông thập hổ”.

    Thiết tuyến quyền - Lương Khôn

    Thiết Kiều Tam Lương Khôn lúc nhỏ học đại sư Thiếu Lâm Lý Hồ Tử, luyện thành công phu “thiết kiều”, tức cánh tay trước rắn như sắt. Ông tính tình rộng rãi, từng tại Quảng Châu dùng võ công chế thắng quần hùng từ các nơi đến, danh tiếng vang lừng. Sau Thiết Kiều Tam nghiện thuốc phiện nặng, được Viên Quang hòa thượng giúp cai, truyền cho Tam thập lục điểm Đồng hoàn côn pháp tại Năng Nhân tự. Nhưng vì thể lực quá suy nên nhiễm bệnh mà chết, thọ 73 tuổi.

    Nhuyễn miên chưởng - Châu Thái

    Châu Thái là người Trạm Giang, mê võ đến cuồng si. Lúc nhỏ luyện Châu gia quyền, tự cao tự đại, cho quyền pháp gia truyền của mình là nhất. Sau nhiều phen bại trận, được cao nhân chỉ điểm mới thoát thai hoán cốt, cải biến Châu gia quyền thành môn quyền lấy nhu làm chính, trong nhu có cương, thế thế nối nhau liên miên bất tận, hình thành tuyệt kỹ “Nhuyễn miên chưởng”.

    Thất tinh quyền - Lê Nhân Siêu

    Lê Nhân Siêu là người thông minh, cơ trí, có thể gọi là ‘trí tướng” trong “thập hổ”. Lê Nhân Siêu võ công cao cường nhưng kín đáo không lộ tướng, rất hiếm khi xuất thủ. Môn Thất tinh quyền của ông còn gọi là Thất thương quyền, chiêu thức cực hiểm, có thể giết đối phương trong một chiêu.

    Đàm gia tam triển - Đàm Tế Quân

    Đàm Tế Quân là người hào sảng, lúc nhỏ tính tình nóng nảy, sau theo tông sư Vịnh Xuân quyền Lương Tán tập luyện, không chỉ võ công tiến bộ mà tính cách trở nên ổn trọng, trầm tĩnh. Sau kết thân với những nhân vật cách mạng, không tiếc xả thân vì nghĩa.

    Kim cang chỉ pháp - Trần Trường Thái

    Trần Trường Thái võ công chủ về cương, xuất thủ nhanh như chớp, chỉ lực cực mạnh, luyện thành Kim cang chỉ pháp-ngón tay như sắt, nên được xưng là “Thiết chỉ Trần”. Trần vốn xuất thân thấp kém, khởi đầu quyết chí làm giàu, cho rằng “không quyền thế thì không thể giàu” nên sẵn sàng ỷ mạnh hiếp yếu. Về sau mới ngộ ra, cùng các anh em khác trong “thập hổ” lập chí chống ngoại xâm.

    Từ một võ tăng Thiếu Lâm chính tông gia nhập quân đội, sau đó được phong hàm Thượng tướng, cuộc đời của Hứa Thế Hữu là một pho huyền thoại.

    Sẵn sàng nhận lời thách đấu đả lôi đài để mở đường cho quân đi, uống hơn 50 chén rượu sắc mặt không đổi và dám lao tới tát Mao Trạch Đông, đập bàn quát Giang Thanh..., những việc ấy không ai có thể làm được ngoài Hứa Thế Hữu.
    Hứa Thế Hữu sinh ngày 28/2/1905, trong một gia đình bần nông ở Tân Huyện, Hà Nam (Trung Quốc). Vì cha mẹ quá nghèo, để kiếm miếng cơm manh áo, từ nhỏ, Hứa Thế Hữu đã phải đi làm tạp dịch cho một thầy giáo dạy võ. Sau đó, ông tới chùa Thiếu Lâm xin thụ giáo.

    Thời gian thoắt cái đã 8 năm, nhờ chuyên tâm rèn luyện, nên khi ra khỏi chùa Thiếu Lâm, Hứa Thế Hữu nắm bắt được rất nhiều tuyệt kỹ công phu và nó đã giúp ông rất nhiều trên con đường bôn tẩu cùng đoàn quân cách mạng trong cuộc Vạn lý trường chinh. Người ta không bao giờ quên hình ảnh ông tả xung hữu đột trong một trận chiến đấu sau khi Hồng quân Trung Quốc đột phá Gia Lăng Giang. Khi đó mặc dù đã là trung đoàn trưởng, nhưng Hứa Thế Hữu vẫn xung phong tham gia vào đội cảm tử, xách đại đao xông vào trận địa đối phương, phạt bên hữu, chém bên tả. Kết quả, trong trận đó, một mình Hứa Thế Hữu đã tiêu diệt 36 tên địch. Nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Lưu Hoa Thanh đã đánh giá cao hành động anh hùng của Hứa Thế Hữu và cho rằng một trung đoàn trưởng tự nguyện gia nhập đội quân cảm tử là chuyện chưa có tiền lệ trong lịch sử.

    Nhưng huyền thoại về Hứa Thế Hữu chưa dừng ở đây. Trong cuộc Vạn lý trường chinh ở Trung Quốc, khi đi qua những vùng dân tộc thiểu số, Hồng quân thường xuyên bị các tù trưởng gây khó dễ. Lần kia, để có đường tiến lên, cánh quân của Hứa Thế Hữu không còn cách nào khác là phải nhận lời thách đấu của một vị trại chủ võ nghệ nức tiếng trong vùng.

    Vị trại chủ này tuyên bố nếu Hồng quân đánh thắng ông ta trên lôi đài thì mới nhường đường. Vì việc lớn, hàng chục chiến sỹ, sỹ quan Hồng quân biết võ công thượng đài tỉ thí, nhưng đều bị gã trại chủ hạ gục. Hứa Thế Hữu khi đó đã là sư đoàn trưởng thấy vậy nóng mặt nhận lời thách đấu.

    Trong tiếng hò reo của Hồng quân và đồng bào thiểu số, chỉ bằng hai đòn thế của quyền thuật Thiếu Lâm chính tông, Hứa Thế Hữu đã đánh bay gã trại chủ nọ xuống võ đài. Nhân cơ hội, Hứa Thế Hữu múa luôn bài La Hán Hùng Quyền khí thế như vũ bão sấm sét, khiến tất cả những người có mặt ngất ngây thán phục.

    Dù đã cúi đầu chịu thua, mở tiệc khoản đãi Hồng quân, nhưng gã trại chủ vẫn tìm cách hạ uy tín thử thách Hứa Thế Hữu. Trong bữa tiệc, hắn lại đặt ra trò đấu rượu, nhằm hạ uy tín đối thủ. Nhấp môi năm chục chén, sắc mặt Hứa Thế Hữu không hề thay đổi.

    Không những vậy, vị sư đoàn trưởng này còn khiến tên trại chủ nọ thất sắc khi uống cạn tới 3 vò rượu mà vẫn tỉnh táo như thường. Quá đỗi kinh ngạc trước tửu lượng vô biên của Hứa Thế Hữu, tên trại chủ chỉ còn nước quì xuống, xin gả con gái cho ông. Hồng quân thắng cuộc toàn phần, mọi chuyện vì thế mà êm đẹp.

    Thượng tuần tháng 10/1936, phương diện quân Hồng Nhị, Hồng Tứ hội quân cùng phương diện quân Hồng Nhất (Hồng quân trung ương) tại thành Hội Ninh thuộc huyện Hội Ninh, tỉnh Cam Túc.

    Sự kiện trọng đại này đặt dấu chấm hết cho những năm tháng trường chinh gian khổ của Hồng quân Trung Quốc, làm phá sản hoàn toàn âm mưu chia rẽ Hồng quân với Đảng Cộng sản Trung Quốc của Trương Quốc Đạo (một trong những nhà lãnh đạo thời kỳ đầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau phản bội đi theo Quốc dân Đảng). Đồng thời, nó cũng đặt nền móng vững chắc cho Mao Trạch Đông trong vai trò nhà lãnh đạo thực tế của Trung ương Đảng Cộng sản và Hồng quân Trung Quốc. Khi đó, Hứa Thế Hữu là sư đoàn trưởng thuộc phương diện quân Hồng Tứ.

    Một hôm, Hứa Thế Hữu nhận được thông báo đi tập huấn và tham gia đấu tranh vạch tội Trương Quốc Đạo tại trường Đại học Hồng quân (sau đổi thành trường Đại học quân chính kháng Nhật). Trong quá trình đấu tố Trương Quốc Đạo, giữa các học viên trường Đại học Hồng quân, chủ yếu đến từ phương diện quân Hồng Nhất, Hồng Nhị và Hồng Tứ nẩy sinh mẫu thuẫn gay gắt.

    Trước sự hiện diện của đông đảo học viên tham dự hội nghị truyền đạt thông báo về sự thất bại của quân Tây Lộ thuộc phương diện quân Hồng Tứ, Hứa Thế Hữu đã không thể kìm được lòng mình, bật khóc. Các học viên thuộc phương diện quân Hồng Nhất và Hồng Nhị cho rằng Hứa Thế Hữu và các học viên thuộc phương diện quân Hồng Tứ đứng về phía Trương Quốc Đạo, không những chưa nhận thức đầy đủ, mà còn không chịu vạch hết tội lỗi của Trương Quốc Đạo, liền chĩa mũi nhọn "đấu tranh đường lối" vào Hứa Thế Hữu và các học viên thuộc phương diện quân Hồng Tứ khác. Vì điều này, hai phe trở nên đối lập sâu sắc và luôn trong tình trạng "tên chuẩn bị rời cung, súng sắp sửa lẩy cò".

    Sau này, không ít học viên thuộc phương diện quân Hồng Tứ bị đem ra phê đấu. Vì là tướng tâm phúc của Trương Quốc Đạo, nên Hứa Thế Hữu trở thành một trong những người chịu trận nhiều nhất, bị chỉnh đốn, phê bình ở hết hội nghị lớn đến cuộc họp nhỏ. Không thể chịu được nỗi oan khuất đó, cuối cùng, trong một hội nghị vạch tội Trương Quốc Đạo, Hứa Thế Hữu đã nổi xung, xông lên bàn chủ toạ, lớn tiếng chất vấn:

    "Tại sao lại nói Trương Quốc Đạo là chủ nghĩa chạy trốn? Trung ương chẳng phải đã chạy trốn hay sao? Hồng quân trung ương chẳng phải đã chạy trốn khỏi khu Xô viết trung ương? Không đánh được quân địch, chuyển sang nơi khác đánh tiếp, lẽ nào gọi đó là chủ nghĩa chạy trốn?" Những lời Hứa Thế Hữu phát ra chẳng khác nào một quả bom tấn giáng xuống hội nghị.

    Cả hội trường nhao nhao kêu gọi đánh đổ đệ tử của Trương Quốc Đạo - Hứa Thế Hữu. Người ta gọi Hứa Thế Hữu là tên thổ phỉ núi Đại Biệt, là phần tử Trotsky lẩn vào trong Hồng quân. Về tới phòng, Hứa Thế Hữu vẫn lửa giận đùng đùng, toàn thân run lên, đau khổ tâm sự cùng bạn đồng khoá, Vương Kiến An rằng: "Chúng ta hết đường ở lại Hồng quân rồi!"

    Tối hôm đó, một kế hoạch nguy hiểm đã nảy ra trong đầu Hứa Thế Hữu. Sau khi bàn bạc cùng các chiến hữu như Vương Kiến An, Chiêm Tài Phương và Ngô Thế An, Hứa Thế Hữu quyết định mọi người sẽ đến nhờ vả Lưu Tử Tài, một người trước đây là thuộc hạ của Hứa Thế Hữu, hiện đang nắm trong tay một đội quân vũ trang lên tới trên 10.000 người ở Tứ Xuyên.

    Qua vận động bí mật, số người thuộc phương diện quân Hồng Tứ đồng ý đi theo Hứa Thế Hữu ngày càng nhiều, trong đó có hơn 20 cán bộ cấp quân đoàn, 6 cán bộ cấp sư đoàn, 5 cán bộ cấp trung đoàn. Họ quyết định không mang theo Trương Quốc Đạo, Hà Uý và Chu Thuần Toàn vì cho rằng những người này thể chất kém, muốn đi thì phải cưỡi ngựa.

    Vạch xong kế hoạch, tự tay Hứa Thế Hữu viết một bức thư cho Mao Trạch Đông. Thời gian xuất phát là đúng 10 giờ tối 4/4/1937. Trong khi Hứa Thế Hữu đầy tự tin vào sự thành công của kế hoạch thì một bất ngờ đã xảy ra. Vương Kiến An, người bạn chiến đấu thân tín nhất của Hứa Thế Hữu, từng giữ chức chính uỷ quân Hồng Tứ, bỗng nhiên tỉnh ngộ vào thời khắc quan trọng nhất.

    Chiều 4/4/1937, Vương Kiến An tới gặp trưởng phòng bảo vệ Đại học Hồng quân báo cáo việc Hứa Thế Hữu và các chiến hữu chuẩn bị bí mật rời bỏ trường để tới Tứ Xuyên nhờ cậy Lưu Tử Tài. Vừa nghe tin này, Mao Trạch Đông đã nổi trận lôi đình, ra lệnh cho Lâm Bưu (lúc này là Hiệu trưởng trường Đại học Hồng quân): "Bắt ngay bọn Hứa Thế Hữu cho tôi".

    Hứa Thế Hữu là ai sao dám tát cả Mao Trạch Đông

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Từ một võ tăng Thiếu Lâm chính tông gia nhập quân đội, sau đó được phong hàm Thượng tướng, cuộc đời của Hứa Thế Hữu là một pho huyền thoại.

    Sẵn sàng nhận lời thách đấu đả lôi đài để mở đường cho quân đi, uống hơn 50 chén rượu sắc mặt không đổi và dám lao tới tát Mao Trạch Đông, đập bàn quát Giang Thanh..., những việc ấy không ai có thể làm được ngoài Hứa Thế Hữu.
    Hứa Thế Hữu sinh ngày 28/2/1905, trong một gia đình bần nông ở Tân Huyện, Hà Nam (Trung Quốc). Vì cha mẹ quá nghèo, để kiếm miếng cơm manh áo, từ nhỏ, Hứa Thế Hữu đã phải đi làm tạp dịch cho một thầy giáo dạy võ. Sau đó, ông tới chùa Thiếu Lâm xin thụ giáo.

    Thời gian thoắt cái đã 8 năm, nhờ chuyên tâm rèn luyện, nên khi ra khỏi chùa Thiếu Lâm, Hứa Thế Hữu nắm bắt được rất nhiều tuyệt kỹ công phu và nó đã giúp ông rất nhiều trên con đường bôn tẩu cùng đoàn quân cách mạng trong cuộc Vạn lý trường chinh. Người ta không bao giờ quên hình ảnh ông tả xung hữu đột trong một trận chiến đấu sau khi Hồng quân Trung Quốc đột phá Gia Lăng Giang. Khi đó mặc dù đã là trung đoàn trưởng, nhưng Hứa Thế Hữu vẫn xung phong tham gia vào đội cảm tử, xách đại đao xông vào trận địa đối phương, phạt bên hữu, chém bên tả. Kết quả, trong trận đó, một mình Hứa Thế Hữu đã tiêu diệt 36 tên địch. Nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Lưu Hoa Thanh đã đánh giá cao hành động anh hùng của Hứa Thế Hữu và cho rằng một trung đoàn trưởng tự nguyện gia nhập đội quân cảm tử là chuyện chưa có tiền lệ trong lịch sử.

    Nhưng huyền thoại về Hứa Thế Hữu chưa dừng ở đây. Trong cuộc Vạn lý trường chinh ở Trung Quốc, khi đi qua những vùng dân tộc thiểu số, Hồng quân thường xuyên bị các tù trưởng gây khó dễ. Lần kia, để có đường tiến lên, cánh quân của Hứa Thế Hữu không còn cách nào khác là phải nhận lời thách đấu của một vị trại chủ võ nghệ nức tiếng trong vùng.

    Vị trại chủ này tuyên bố nếu Hồng quân đánh thắng ông ta trên lôi đài thì mới nhường đường. Vì việc lớn, hàng chục chiến sỹ, sỹ quan Hồng quân biết võ công thượng đài tỉ thí, nhưng đều bị gã trại chủ hạ gục. Hứa Thế Hữu khi đó đã là sư đoàn trưởng thấy vậy nóng mặt nhận lời thách đấu.

    Trong tiếng hò reo của Hồng quân và đồng bào thiểu số, chỉ bằng hai đòn thế của quyền thuật Thiếu Lâm chính tông, Hứa Thế Hữu đã đánh bay gã trại chủ nọ xuống võ đài. Nhân cơ hội, Hứa Thế Hữu múa luôn bài La Hán Hùng Quyền khí thế như vũ bão sấm sét, khiến tất cả những người có mặt ngất ngây thán phục.

    Dù đã cúi đầu chịu thua, mở tiệc khoản đãi Hồng quân, nhưng gã trại chủ vẫn tìm cách hạ uy tín thử thách Hứa Thế Hữu. Trong bữa tiệc, hắn lại đặt ra trò đấu rượu, nhằm hạ uy tín đối thủ. Nhấp môi năm chục chén, sắc mặt Hứa Thế Hữu không hề thay đổi.

    Không những vậy, vị sư đoàn trưởng này còn khiến tên trại chủ nọ thất sắc khi uống cạn tới 3 vò rượu mà vẫn tỉnh táo như thường. Quá đỗi kinh ngạc trước tửu lượng vô biên của Hứa Thế Hữu, tên trại chủ chỉ còn nước quì xuống, xin gả con gái cho ông. Hồng quân thắng cuộc toàn phần, mọi chuyện vì thế mà êm đẹp.

    Thượng tuần tháng 10/1936, phương diện quân Hồng Nhị, Hồng Tứ hội quân cùng phương diện quân Hồng Nhất (Hồng quân trung ương) tại thành Hội Ninh thuộc huyện Hội Ninh, tỉnh Cam Túc.

    Sự kiện trọng đại này đặt dấu chấm hết cho những năm tháng trường chinh gian khổ của Hồng quân Trung Quốc, làm phá sản hoàn toàn âm mưu chia rẽ Hồng quân với Đảng Cộng sản Trung Quốc của Trương Quốc Đạo (một trong những nhà lãnh đạo thời kỳ đầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau phản bội đi theo Quốc dân Đảng). Đồng thời, nó cũng đặt nền móng vững chắc cho Mao Trạch Đông trong vai trò nhà lãnh đạo thực tế của Trung ương Đảng Cộng sản và Hồng quân Trung Quốc. Khi đó, Hứa Thế Hữu là sư đoàn trưởng thuộc phương diện quân Hồng Tứ.

    Một hôm, Hứa Thế Hữu nhận được thông báo đi tập huấn và tham gia đấu tranh vạch tội Trương Quốc Đạo tại trường Đại học Hồng quân (sau đổi thành trường Đại học quân chính kháng Nhật). Trong quá trình đấu tố Trương Quốc Đạo, giữa các học viên trường Đại học Hồng quân, chủ yếu đến từ phương diện quân Hồng Nhất, Hồng Nhị và Hồng Tứ nẩy sinh mẫu thuẫn gay gắt.

    Trước sự hiện diện của đông đảo học viên tham dự hội nghị truyền đạt thông báo về sự thất bại của quân Tây Lộ thuộc phương diện quân Hồng Tứ, Hứa Thế Hữu đã không thể kìm được lòng mình, bật khóc. Các học viên thuộc phương diện quân Hồng Nhất và Hồng Nhị cho rằng Hứa Thế Hữu và các học viên thuộc phương diện quân Hồng Tứ đứng về phía Trương Quốc Đạo, không những chưa nhận thức đầy đủ, mà còn không chịu vạch hết tội lỗi của Trương Quốc Đạo, liền chĩa mũi nhọn "đấu tranh đường lối" vào Hứa Thế Hữu và các học viên thuộc phương diện quân Hồng Tứ khác. Vì điều này, hai phe trở nên đối lập sâu sắc và luôn trong tình trạng "tên chuẩn bị rời cung, súng sắp sửa lẩy cò".

    Sau này, không ít học viên thuộc phương diện quân Hồng Tứ bị đem ra phê đấu. Vì là tướng tâm phúc của Trương Quốc Đạo, nên Hứa Thế Hữu trở thành một trong những người chịu trận nhiều nhất, bị chỉnh đốn, phê bình ở hết hội nghị lớn đến cuộc họp nhỏ. Không thể chịu được nỗi oan khuất đó, cuối cùng, trong một hội nghị vạch tội Trương Quốc Đạo, Hứa Thế Hữu đã nổi xung, xông lên bàn chủ toạ, lớn tiếng chất vấn:

    "Tại sao lại nói Trương Quốc Đạo là chủ nghĩa chạy trốn? Trung ương chẳng phải đã chạy trốn hay sao? Hồng quân trung ương chẳng phải đã chạy trốn khỏi khu Xô viết trung ương? Không đánh được quân địch, chuyển sang nơi khác đánh tiếp, lẽ nào gọi đó là chủ nghĩa chạy trốn?" Những lời Hứa Thế Hữu phát ra chẳng khác nào một quả bom tấn giáng xuống hội nghị.

    Cả hội trường nhao nhao kêu gọi đánh đổ đệ tử của Trương Quốc Đạo - Hứa Thế Hữu. Người ta gọi Hứa Thế Hữu là tên thổ phỉ núi Đại Biệt, là phần tử Trotsky lẩn vào trong Hồng quân. Về tới phòng, Hứa Thế Hữu vẫn lửa giận đùng đùng, toàn thân run lên, đau khổ tâm sự cùng bạn đồng khoá, Vương Kiến An rằng: "Chúng ta hết đường ở lại Hồng quân rồi!"

    Tối hôm đó, một kế hoạch nguy hiểm đã nảy ra trong đầu Hứa Thế Hữu. Sau khi bàn bạc cùng các chiến hữu như Vương Kiến An, Chiêm Tài Phương và Ngô Thế An, Hứa Thế Hữu quyết định mọi người sẽ đến nhờ vả Lưu Tử Tài, một người trước đây là thuộc hạ của Hứa Thế Hữu, hiện đang nắm trong tay một đội quân vũ trang lên tới trên 10.000 người ở Tứ Xuyên.

    Qua vận động bí mật, số người thuộc phương diện quân Hồng Tứ đồng ý đi theo Hứa Thế Hữu ngày càng nhiều, trong đó có hơn 20 cán bộ cấp quân đoàn, 6 cán bộ cấp sư đoàn, 5 cán bộ cấp trung đoàn. Họ quyết định không mang theo Trương Quốc Đạo, Hà Uý và Chu Thuần Toàn vì cho rằng những người này thể chất kém, muốn đi thì phải cưỡi ngựa.

    Vạch xong kế hoạch, tự tay Hứa Thế Hữu viết một bức thư cho Mao Trạch Đông. Thời gian xuất phát là đúng 10 giờ tối 4/4/1937. Trong khi Hứa Thế Hữu đầy tự tin vào sự thành công của kế hoạch thì một bất ngờ đã xảy ra. Vương Kiến An, người bạn chiến đấu thân tín nhất của Hứa Thế Hữu, từng giữ chức chính uỷ quân Hồng Tứ, bỗng nhiên tỉnh ngộ vào thời khắc quan trọng nhất.

    Chiều 4/4/1937, Vương Kiến An tới gặp trưởng phòng bảo vệ Đại học Hồng quân báo cáo việc Hứa Thế Hữu và các chiến hữu chuẩn bị bí mật rời bỏ trường để tới Tứ Xuyên nhờ cậy Lưu Tử Tài. Vừa nghe tin này, Mao Trạch Đông đã nổi trận lôi đình, ra lệnh cho Lâm Bưu (lúc này là Hiệu trưởng trường Đại học Hồng quân): "Bắt ngay bọn Hứa Thế Hữu cho tôi".

    Mặc dầu trên thế giới ngày nay, vai trò người phụ nữ trong đời sống xã hội đã khẳng định, nhưng ở các nước phương Đông, đặc biệt là tại Việt Nam, vốn đã mang nặng tư tưởng phong kiến Nho giáo “nhứt nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một nam kể là có, mười nữ kể như không) từ hàng nghìn năm, hình như vẫn tồn tại quan điểm coi nhẹ người phụ nữ trong tất cả các lãnh vực của đời sống xã hội. Đáng kể nhất là trên lãnh vực võ thuật, không ít người, không ít gia đình cho rằng võ thuật là lãnh vực của nam giới, người phụ nữ không nên bén mảng vào! Nói rõ ra, theo quan điểm của những người này thì phụ nữ không nên tập võ thuật, và nếu có tập thì khó mà đạt đến đỉnh cao bởi đây không phải là thế giới dành cho phụ nữ?! Sự thật như thế nào? Phải chăng người phụ nữ không nên tập võ? Và phải chăg người phụ nữ tập võ không thể đạt đến đỉnh cao của võ thuật?

    Ngược dòng lịch sử Việt Nam, suốt mấy nghìn năm trường tồn và phát triển, chúng ta thấy bóng dáng của nhiều phụ nữ đã đóng góp tích cực vào công cuộc dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, đặc biệt là trong thời kỳ võ thuật đóng vai trò then chốt trong chiến tranh.

    Thật vậy, ngay từ những năm đầu Công nguyên, nhân dân Việt Nam đã vô cùng tự hào vì mình đã có được một người phụ nữ tuyệt vời tên là Trần Thị Đoan, tục gọi là bà Man Thiện. Bà vốn là người huyện Ba Vì (Hà Nội ngày nay), chồng mất sớm, ở vậy nuôi con là Trưng Trắc và Trưng Nhị khôn lớn, lại dạy dỗ hai con tinh thần dân tộc, huấn luyện hai con gái mình trở thành những cô gái giỏi võ nghệ, có lòng yêu nước thiết tha và quyết tâm làm việc lớn. Sau này, khi Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi nghĩa, bà Man Thiện luôn luôn có mặt ở nơi màn trướng, cùng các con bàn việc cơ mật …Tiếp nối tinh thần bất khuất của mẹ, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị - vốn là con gái của Lạc Tướng huyện Mê Linh (ngoại thành Hà Nội ngày nay) – đã lớn lên trong sự chăm sóc và giáo dục của mẹ, trở thành những người con gái khỏe mạnh, giỏi võ nghệ, tính khí hùng dũng, gan dạ lại thích làm việc nghĩa. Chính những tính khí con nhà võ này đã khiến cho hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị phất cao cờ khởi nghĩa, tập hợp thanh niên nam nữ, luyện tập võ binh, quyết quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi … Bằng trình độ võ nghệ tuyệt luân, Trưng Trắc và Trưng Nhị đã chiêu tụ được anh hùng hào kiệt bốn phương, trong đó phần lớn là nữ giới: Ả Tắc, Ả Dị, Bát Nàn công chúa (xinh đẹp lại giỏi võ nghệ), Lê Chân (khỏe mạnh, xinh đẹp, giỏi võ), Thành Thiên công chúa (mộ quân chiến đấu, đem quân về hội với Hai Bà Trưng), Thiều Hoa công chúa (ngày đêm luyện tập võ nghệ, tập hợp trai gái trong làng, bày trò đánh phết để tăng thêm sức khỏe và sự nhanh nhẹn), Lê Thị Hoa (mộ quân rồi về hội quân với Trưng Trắc, Trưng Nhị), nàng Quốc (tập hợp thanh niên kéo về hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng) … Với sức mạnh võ thuật dưới quyền điều khiển của những nữ tướng giỏi võ mà đứng đầu là Trưng Trắc và Trưng Nhị, chắng mấy chốc mà lực lượng khởi nghĩa đã hạ được 65 thành trì của giặc vào năm 40, rồi tôn Hai Bà lên ngôi vua trị vì thiên hạ, mở kỷ nguyên độc lập đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam.


    Hai Bà Trưng

    Sau Hai Bà Trưng, lịch sử Việt Nam lại có thêm người con gái đất Quan Yên (Thanh Hóa ngày nay) mang tên là Triệu Thị Trinh. Đó là một người con gái khỏe mạnh, giỏi võ nghệ lại có chí lớn qua câu nói từng được lưu truyền qua nhiều thế hệ:“Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu làm tỳ thiếp cho người khác!”

    Năm 248, Triệu Trinh Nương đã cùng anh là Triệu Quốc Đạt dựng cao cờ khởi nghĩa, tập hợp quân nghĩa dõng để chống lại quân Ngô đang đô hộ nước ta lúc bấy giờ. Tài nghệ của Triệu Trinh Nương đã làm cho quân thù phải nể mặt, tôn gọi là Lệ Hải Bà Vương.

    Bà Triệu
    Đến giai đoạn hai họ Trịnh – Nguyễn cát cứ phân tranh, lịch sử Việt Nam lại có thêm những người phụ nữ của khúc ruột miền Trung chứng tỏ khả năng đóng góp của mình vào những võ công hiển hách của đất nước. Năm Tân Mùi (1571), có người phụ nữ ở Quảng Trị tên Trần Thị, vợ của Phó tướng Quận công Trương Trà. Trương Trà bị tướng họ Trịnh là Nghĩa Sơn phục kích bắn chết. Trần Thị nghe tin, nổi giận, thúc quân đánh, bắn chết Nghĩa Sơn, vừa trả thù chồng vừa chứng tỏ khả năng võ bị của phụ nữ. Trần Thị đã được Chúa Nguyễn phong làm Quận Phu Nhân.

    Năm Tân Mão (1771), cơn bão lửa quật khởi của chiến tranh nông dân bùng lên dữ dội ở Tây Sơn (Bình Định ngày nay), đã xuất hiện người phụ nữ của thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn mang tên Bùi Thị Xuân. Thuở tuổi trẻ, họ Bùi đã từng học võ với Độ thống Ngô Mạnh, sau đó nổi danh với trận đả hổ cứu Trần Quang Diệu và kết hôn với nhau. Hai vợ chồng Thiếu Phó Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân đã đi suốt cuộc trường chinh dài 30 năm trời, lập nên những chiến công vô cùng hiển hách.

    Ở miền đất cực Nam của tổ quốc, trong thế kỷ 18 và 19 cũng đã xuất hiện bóng dáng của mấy người phụ nữ giỏi võ nghệ. Năm Kỷ Tỵ (1739), Quan Hiệp trấn Hà Tiên là Mạc Thiên Tứ phải đối phó với quân Chân Lạp do Nặc Bôn chỉ huy tiến đánh Hà Tiên (Kiên Giang ngày nay). Ông đã được vợ là Nguyễn Thị đem quân tiếp ứng, tạo nên chiến thắng. Chúa Nguyễn đã khen tặng Mạc Thiên Tứ chức Đô Đốc và ban cho Nguyễn Thị tước Phu Nhân.

    Năm 1850, triều Tự Đức, miền đất khô cằn Đông Nam Bộ đã nổi lên cuộc khởi nghĩa của một người phụ nữ có tên là Trà cùng với số nghĩa binh đa phần là nữ giới với chủ trương chống lại bọn cường hào ác bá lũng lạm, giúp đỡ dân nghèo. Bà Trà đã tạo nên một đội quân dũng mãnh làm cho bọn tham quan ô lại thất điên bát đảo qua những trận giao phong đọ sức. Về sau, khi bà qua đời, dân chúng đã gọi vùng đất kởi nghĩa của bà là vùng đất Bà Trà (nay là xã Bình Chuẩn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).

    Những năm đầu thế kỷ XX, xứ Bắc Giang (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) đã xuất hiện một người phụ nữ dũng lược mang tên Đặng Thị Nhu. Bà rất giỏi võ nghệ, tục gọi là bà Ba Cẩn, trở thành bạn chiến đấu của anh hùng Hoàng Hoa Thám và là vợ thứ ba của ông này. Có thể nói bà Đặng Thị Nhu là một người giúp việc đắc lực cho ông Hoàng Hoa Thám. Hơn thế, bà còn là một người chỉ huy nhiều mưu lược của nghĩa quân Yên Thế. Chính bà đã khôn khéo hòa hoãn với Pháp để củng cố lực lượng khi nghĩa quân bị yếu thế. Bà đã từng trực tiếp cầm quân chiến đấu nhiều trận. Ngoài ra, bà cũng có công điều hành và xây dựng hoạt động cho đảng Nghĩa Hưng – một đảng phái chống Pháp đầu thế kỷ.

    Và cuối cùng là cuộc kháng chiến thần kỳ vừa qua của dân tộc ta trước hai cường quốc thế giới là Pháp và Mỹ, lịch sử Việt Nam đã có biết bao người con ưu tú là nữ giới giỏi võ nghệ góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc, qua những trận đánh biệt động táo bạo, bất ngờ … Chính tinh thần võ thuật đã giúp cho họ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, và cũng chính võ thuật thực sự đã giúp họ bao phen thoát hiểm …

    Giở lại những trang lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, rõ ràng vai trò của người phụ nữ giỏi võ nghệ đã đánh những dấu son chói lọi cho ngàn đời noi theo.

    Hồ Tường

    Những người phụ nữ giỏi võ trong lịch sử Việt Nam: Hai Bà Trưng - Bà Triệu

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Văn-hóa-võ-thuật  |  Read More»

    Mặc dầu trên thế giới ngày nay, vai trò người phụ nữ trong đời sống xã hội đã khẳng định, nhưng ở các nước phương Đông, đặc biệt là tại Việt Nam, vốn đã mang nặng tư tưởng phong kiến Nho giáo “nhứt nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một nam kể là có, mười nữ kể như không) từ hàng nghìn năm, hình như vẫn tồn tại quan điểm coi nhẹ người phụ nữ trong tất cả các lãnh vực của đời sống xã hội. Đáng kể nhất là trên lãnh vực võ thuật, không ít người, không ít gia đình cho rằng võ thuật là lãnh vực của nam giới, người phụ nữ không nên bén mảng vào! Nói rõ ra, theo quan điểm của những người này thì phụ nữ không nên tập võ thuật, và nếu có tập thì khó mà đạt đến đỉnh cao bởi đây không phải là thế giới dành cho phụ nữ?! Sự thật như thế nào? Phải chăng người phụ nữ không nên tập võ? Và phải chăg người phụ nữ tập võ không thể đạt đến đỉnh cao của võ thuật?

    Ngược dòng lịch sử Việt Nam, suốt mấy nghìn năm trường tồn và phát triển, chúng ta thấy bóng dáng của nhiều phụ nữ đã đóng góp tích cực vào công cuộc dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, đặc biệt là trong thời kỳ võ thuật đóng vai trò then chốt trong chiến tranh.

    Thật vậy, ngay từ những năm đầu Công nguyên, nhân dân Việt Nam đã vô cùng tự hào vì mình đã có được một người phụ nữ tuyệt vời tên là Trần Thị Đoan, tục gọi là bà Man Thiện. Bà vốn là người huyện Ba Vì (Hà Nội ngày nay), chồng mất sớm, ở vậy nuôi con là Trưng Trắc và Trưng Nhị khôn lớn, lại dạy dỗ hai con tinh thần dân tộc, huấn luyện hai con gái mình trở thành những cô gái giỏi võ nghệ, có lòng yêu nước thiết tha và quyết tâm làm việc lớn. Sau này, khi Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi nghĩa, bà Man Thiện luôn luôn có mặt ở nơi màn trướng, cùng các con bàn việc cơ mật …Tiếp nối tinh thần bất khuất của mẹ, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị - vốn là con gái của Lạc Tướng huyện Mê Linh (ngoại thành Hà Nội ngày nay) – đã lớn lên trong sự chăm sóc và giáo dục của mẹ, trở thành những người con gái khỏe mạnh, giỏi võ nghệ, tính khí hùng dũng, gan dạ lại thích làm việc nghĩa. Chính những tính khí con nhà võ này đã khiến cho hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị phất cao cờ khởi nghĩa, tập hợp thanh niên nam nữ, luyện tập võ binh, quyết quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi … Bằng trình độ võ nghệ tuyệt luân, Trưng Trắc và Trưng Nhị đã chiêu tụ được anh hùng hào kiệt bốn phương, trong đó phần lớn là nữ giới: Ả Tắc, Ả Dị, Bát Nàn công chúa (xinh đẹp lại giỏi võ nghệ), Lê Chân (khỏe mạnh, xinh đẹp, giỏi võ), Thành Thiên công chúa (mộ quân chiến đấu, đem quân về hội với Hai Bà Trưng), Thiều Hoa công chúa (ngày đêm luyện tập võ nghệ, tập hợp trai gái trong làng, bày trò đánh phết để tăng thêm sức khỏe và sự nhanh nhẹn), Lê Thị Hoa (mộ quân rồi về hội quân với Trưng Trắc, Trưng Nhị), nàng Quốc (tập hợp thanh niên kéo về hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng) … Với sức mạnh võ thuật dưới quyền điều khiển của những nữ tướng giỏi võ mà đứng đầu là Trưng Trắc và Trưng Nhị, chắng mấy chốc mà lực lượng khởi nghĩa đã hạ được 65 thành trì của giặc vào năm 40, rồi tôn Hai Bà lên ngôi vua trị vì thiên hạ, mở kỷ nguyên độc lập đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam.


    Hai Bà Trưng

    Sau Hai Bà Trưng, lịch sử Việt Nam lại có thêm người con gái đất Quan Yên (Thanh Hóa ngày nay) mang tên là Triệu Thị Trinh. Đó là một người con gái khỏe mạnh, giỏi võ nghệ lại có chí lớn qua câu nói từng được lưu truyền qua nhiều thế hệ:“Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu làm tỳ thiếp cho người khác!”

    Năm 248, Triệu Trinh Nương đã cùng anh là Triệu Quốc Đạt dựng cao cờ khởi nghĩa, tập hợp quân nghĩa dõng để chống lại quân Ngô đang đô hộ nước ta lúc bấy giờ. Tài nghệ của Triệu Trinh Nương đã làm cho quân thù phải nể mặt, tôn gọi là Lệ Hải Bà Vương.

    Bà Triệu
    Đến giai đoạn hai họ Trịnh – Nguyễn cát cứ phân tranh, lịch sử Việt Nam lại có thêm những người phụ nữ của khúc ruột miền Trung chứng tỏ khả năng đóng góp của mình vào những võ công hiển hách của đất nước. Năm Tân Mùi (1571), có người phụ nữ ở Quảng Trị tên Trần Thị, vợ của Phó tướng Quận công Trương Trà. Trương Trà bị tướng họ Trịnh là Nghĩa Sơn phục kích bắn chết. Trần Thị nghe tin, nổi giận, thúc quân đánh, bắn chết Nghĩa Sơn, vừa trả thù chồng vừa chứng tỏ khả năng võ bị của phụ nữ. Trần Thị đã được Chúa Nguyễn phong làm Quận Phu Nhân.

    Năm Tân Mão (1771), cơn bão lửa quật khởi của chiến tranh nông dân bùng lên dữ dội ở Tây Sơn (Bình Định ngày nay), đã xuất hiện người phụ nữ của thôn Phú Xuân, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn mang tên Bùi Thị Xuân. Thuở tuổi trẻ, họ Bùi đã từng học võ với Độ thống Ngô Mạnh, sau đó nổi danh với trận đả hổ cứu Trần Quang Diệu và kết hôn với nhau. Hai vợ chồng Thiếu Phó Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân đã đi suốt cuộc trường chinh dài 30 năm trời, lập nên những chiến công vô cùng hiển hách.

    Ở miền đất cực Nam của tổ quốc, trong thế kỷ 18 và 19 cũng đã xuất hiện bóng dáng của mấy người phụ nữ giỏi võ nghệ. Năm Kỷ Tỵ (1739), Quan Hiệp trấn Hà Tiên là Mạc Thiên Tứ phải đối phó với quân Chân Lạp do Nặc Bôn chỉ huy tiến đánh Hà Tiên (Kiên Giang ngày nay). Ông đã được vợ là Nguyễn Thị đem quân tiếp ứng, tạo nên chiến thắng. Chúa Nguyễn đã khen tặng Mạc Thiên Tứ chức Đô Đốc và ban cho Nguyễn Thị tước Phu Nhân.

    Năm 1850, triều Tự Đức, miền đất khô cằn Đông Nam Bộ đã nổi lên cuộc khởi nghĩa của một người phụ nữ có tên là Trà cùng với số nghĩa binh đa phần là nữ giới với chủ trương chống lại bọn cường hào ác bá lũng lạm, giúp đỡ dân nghèo. Bà Trà đã tạo nên một đội quân dũng mãnh làm cho bọn tham quan ô lại thất điên bát đảo qua những trận giao phong đọ sức. Về sau, khi bà qua đời, dân chúng đã gọi vùng đất kởi nghĩa của bà là vùng đất Bà Trà (nay là xã Bình Chuẩn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).

    Những năm đầu thế kỷ XX, xứ Bắc Giang (nay thuộc tỉnh Hà Bắc) đã xuất hiện một người phụ nữ dũng lược mang tên Đặng Thị Nhu. Bà rất giỏi võ nghệ, tục gọi là bà Ba Cẩn, trở thành bạn chiến đấu của anh hùng Hoàng Hoa Thám và là vợ thứ ba của ông này. Có thể nói bà Đặng Thị Nhu là một người giúp việc đắc lực cho ông Hoàng Hoa Thám. Hơn thế, bà còn là một người chỉ huy nhiều mưu lược của nghĩa quân Yên Thế. Chính bà đã khôn khéo hòa hoãn với Pháp để củng cố lực lượng khi nghĩa quân bị yếu thế. Bà đã từng trực tiếp cầm quân chiến đấu nhiều trận. Ngoài ra, bà cũng có công điều hành và xây dựng hoạt động cho đảng Nghĩa Hưng – một đảng phái chống Pháp đầu thế kỷ.

    Và cuối cùng là cuộc kháng chiến thần kỳ vừa qua của dân tộc ta trước hai cường quốc thế giới là Pháp và Mỹ, lịch sử Việt Nam đã có biết bao người con ưu tú là nữ giới giỏi võ nghệ góp phần vào chiến thắng chung của dân tộc, qua những trận đánh biệt động táo bạo, bất ngờ … Chính tinh thần võ thuật đã giúp cho họ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, và cũng chính võ thuật thực sự đã giúp họ bao phen thoát hiểm …

    Giở lại những trang lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, rõ ràng vai trò của người phụ nữ giỏi võ nghệ đã đánh những dấu son chói lọi cho ngàn đời noi theo.

    Hồ Tường

    Trong lĩnh vực điện ảnh, Hoàng Phi Hồng là nhân vật truyền kỳ đã chinh phục hàng triệu trái tim khán giả qua tài diễn xuất của các bậc thầy võ thuật. Từ cuối năm 1940 đến nay, Hồng Kông đã thực hiện hàng trăm bộ phim và kịch truyền hình về Hoàng Phi Hồng khiến tên tuổi nhà võ thuật yêu nước này trở nên thân thuộc với mọi tầng lớp khán giả. Sau khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách, các tác phẩm về Hoàng Phi Hồng được người dân Quảng Đông chào đón nhiệt liệt. Đề tài Hoàng Phi Hồng thực sự trở thành cơn sốt. Cuộc đời Hoàng Phi Hồng cùng với võ công siêu việt và đức độ trong sáng của ông đã thật sự chinh phục những người mê võ thuật thật sự. Hoàng Phi Hồng là con người như thế nào mà có nhiều huyền thoại và được ái mộ đến thế ?

    Hoàng Phi Hồng ở ngoài đời

    Hoàng Phi Hồng sinh năm 1850 ở làng Lộc Đan, núi Tây Triều, thuộc phủ Nam Hải,Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông. Cha của ông là Hoàng Kỳ Anh, từng theo học Thiếu Lâm Phúc Kiến (Nam Thiếu Lâm) với thiền sư Lục A Thái. Theo cha từ năm 5 tuổi tập võ nghệ, đến khi 13 tuổi, Hoàng Phi Hồng cùng cha đi đến Quảng Châu để biểu diển võ thuật và bán thuốc. Chính trong thời gian này, Hoàng Phi Hồng đã học thêm nhiều danh sư các môn võ khác nhau, do đó tài nghệ của ông còn lấn lướt hơn cả cha mình. Đương thời có người lớn thách đấu, Hoàng Phi Hồng đã sử dụng côn pháp để chiến thắng, nhờ thế nổi tiếng khắp nơi. Tuyệt chiêu của Hoàng Phi Hồng bao gồm Hổ Hạc Song Hình Quyền, Thiết Tuyến Quyền, Công Tự Phục Hổ Quyền, Vô Ảnh Cước. Ngón Vô Ảnh Cước là do Hoàng Phi Hồng trao đổi với Hồng Đông Huy-bù lại, Hoàng Phi Hồng phải truyền lại cho Huy bài Hổ Hạc Song Hình và Công Tự Phục Hổ Quyền. Một trong những điểm đáng chú ý của Hoàng Phi Hồng là tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, người ta nói rằng ông còn học võ của bà vợ cả là một danh thủ thuộc một môn phái khác.


    Hoàng Phi Hồng mở hiệu thuốc Bảo Chi Lâm ở đường Nhân An, chuyên bán thảo dược tươi trị thương. Mặc dù là võ sư dân gian nhưng cuộc đời Hoàng Phi Hồng vẫn gắn liền với lịch sử Trung Quốc cận đại, dấu chân của mãnh hổ này đã in lên nhiều nơi. Năm 1885, tướng quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc tấn công quân Pháp ở Việt Nam. Năm sau danh tướng họ Lưu được điều động về Phúc Kiến làm tổng binh. Hoàng Phi Hồng được Lưu Vĩnh Phúc chọn làm trưởng ban huấn luyện. Năm 1895 chiến tranh Trung Nhật nổ ra, Hoàng Phi Hồng theo Lưu Vĩnh Phúc đến Đài Loan. Quân Thanh đại bại, triều đình cắt Đài Loan cho Nhật, quân dân Đài Loan khởi nghĩa và phong Hoàng Phi Hồng lên làm "Điện Tiền Tướng Quân" thống lãnh. Sau này cách mạng Tân Hợi (1911) bùng nổ, Lưu Vĩnh Phúc mời Hoàng Phi Hồng làm giáo luyện dân đoàn tỉnh Quảng Đông.

    Hoàng Phi Hồng từng đặt chân đến Hồng Kông, gặp lại môn đồ Lục Chính Cương và được mời đến võ đường của Lục Chính Cương tham quan. Thời gian ở đây do bất bình trước cảnh một người cô thế bị uy hiếp, Hoàng Phi Hồng ra tay can ngăn và bị một đám đông có vũ khí bao vây. Một mình đánh bại cả chục người- Hoàng Phi Hồng trở thành vị cứu tinh của những người bị áp bức. Bị triều đình truy nã, Hoàng Phi Hồng phải chạy trốn. Về sau Lục Chính Cương tìm đến nơi trú ẩn của Hoàng Phi Hồng, kể lại chuyện người phương Tây đem chó berger đến khiêu chiến và nhiều nhà sư bị chó tấn công, Hoàng Phi Hồng đùng đùng nổi giận lập tức đến hương giang đập gãy xương sống con chó hung thần ấy. Ngày hôm sau báo chí Hồng Kông chạy tittle đỏ về tin này và gọi đó là "chí khí người Trung Quốc".

    Trở về Quảng Đông, Hoàng Phi Hồng mở thêm một nhà thuốc nữa ở Phật Sơn, trở thành một trong bốn vị thầy thuốc lớn nhất Quảng Đông bấy giờ. Thời gian này ông gặp người vợ thứ 4, đây cũng là lúc ông sống sung túc nhất. Về chuyện tình cảm, ta thường thấy bên cạnh Hoàng Phi Hồng ( trong các phim) là dì Mười Ba. Sự thật Hoàng Phi Hồng có 4 người vợ, người vợ cả là một võ sư như đã nói trên. Riêng chuyện gặp người vợ thứ tư đã là một giai thoại thú vị: năm đó Quế Lan 19 tuổi, một lần đi xem vía Phật cóHoàng Phi Hồng trình diễn võ thuật, không biết trời xui đất khiến thế nào mà khi múa bài chĩa ba vũ gia, lại văng chiếc giày vào mặt Quế Lan. Cho là xúc phạm Quế Lan liền leo lên khán đài tát vào mặt Hoàng Phi Hồng một cái, nói : "một võ sư nổi tiếng như ông không thể phạm sai lầm như thế, đây là chiếc giày nếu là vũ khí thì sao ".Kính phục, Hoàng Phi Hồng xin cưới nàng làm vợ.

    Ngày 8/8/1933 thương đoàn Quảng Đông, đoàn tự vệ vũ trang Quảng Đông tổ chức cuộc bạo loạn chống chính quyền Tôn Trung Sơn, đi đến đâu tổ chức này cũng thực hiện hành vi cướp phá. Bảo Chi Lâm cũng bị tổ chức này thiêu rụi, quá tức giận, Hoàng Phi Hồng ngã bệnh rồi qua đời, hưởng thọ 83 tuổi. Thi thể ông được an táng tại Phật Sơn-Quảng Đông.

    Hoàng Phi Hồng trên màn ảnh

    Khoảng đầu những năm 50 thế kỷ XX ở Hồng Kông, phim ảnh Quảng Đông chiếm lĩnh thị trường. Những phim võ thuật thời đó thường đưa lên màn ảnh những nhân vật huyền bí và những nhà thuật sĩ. Nhưng giữa những năm 50-70, chúng ta gặp dấu vết tới hàng trăm phim mà nhân vật chính là một người mang tên Hoàng Phi Hồng. Kịch bản phim này hướng theo triết lý Trung Hoa hơn là theo chiều hướng tượng. Kungfu không còn là tiết mục phụ mà đã trở thành ngay chính nền tảng của kịch bản. Những phim đó biểu diễn đích thực về nhiều thể loại võ thuật, chuyển hóa từ 5 trường phái lớn của miền nam Trung Quốc là Hồng, Lưu, Thái, Lý và Mạc. Để có bề ngoài thực hơn, những diễn viên đóng vai Hoàng Phi Hồng phải là những võ sư đích thực. Người đầu tiên thủ vai này là Quan Đức Hưng - diễn viên nhạc kịch Quảng Đông, và là bậc thầy trong môn phái võ Bạch Hạc. Ngoài ra ông còn thành công trong nhiều phái võ khác, trong đó có cả Hồng Gia phái. Ông đóng vai Hoàng Phi Hồng trong nhiều hồi của loạt phim hiệu qủa này. Nhân cách của ông biểu thị đức hạnh của đạo lý Khổng giáo dưới tất cả mọi hình thái; đó là một đứa con tôn trọng quê hương quốc gia, tôn ti trật tự xã hội và gia đình. Những phim võ hiệp đó ca tụng đức khiêm cung, lòng trung thành, ý thức tôn sư trọng đạo và chỉ chiến đấu trong những trường hợp thực sự cần thiết. Quan Đức Hưng đã tạo ấn tượng tốt đẹp cho người xem về người anh hùng này, một chi tiết ấn tượng của phim là: trong một lần nhìn cặp gà chọi đấu nhau, Hoàng Phi Hồng nghĩ ra ngay đến cách giả gà để đối phó với thế trận con rết, sự sáng tạo này được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.

    Lý Liên Kiệt - Hoàng Phi Hồng



    Gần nửa thế kỷ sau, khi mà Quan Đức Hưng đã 92 tuổi, trở thành bậc đàn chú trong lĩnh vực điện ảnh võ thuật thì cơn sốt Hoàng Phi Hồng lại rộn lên lần nữa. Không biết bao nhiêu bộ phim Hoàng Phi Hồng xuất hiện và khôn biết bao nhiêu tài tử đóng, vậy mà hình ảnh thần tượng này vẫn không phai nhoà mà còn trải rộng ra cả thế giới. Khán giả gặp lại Hoàng Phi Hồng qua Lý Liên Kiệt thủ vai, vượt xa phim của Quan Đức Hưng ở màu sắc, âm thanh và kỷ xảo. Lý Liên Kiệt kế vị Quan Đức Hưng, trở thành người đi đầu và đóng nhiều phim điện ảnh về Hoàng Phi Hồng nhất, với những chi tiết hài nhẹ nhõm, những pha đấu võ đẹp mắt, những nhân vật hư cấu có võ công cao cường như Quỷ Cước Thất, Nha Sát Tô và cả người tình hư cấu dì Mười Ba; bộ phim đã thật sự lôi cuốn người xem, tạo được cơn sốt nóng, đưa Hoàng Phi Hồng trở thành nhân vật truyền kỳ trên màn ảnh lớn khắp á châu và thế giới- những nơi có cộng đồng người Hoa sinh sống.

    Triệu Văn Trác - Hoàng Phi Hồng



    Sau thành công của loạt phim Hoàng Phi Hồng do Lý Liên Kiệt đóng, một võ sư quán quân võ thuật Trung Quốc là Triệu Văn Trác được mời vào thay thế .Đây cũng là một vai diễn thành công do Triệu Văn Trác đã biết cách biến hoá những đường Hồng Gia Quyền trở nên đẹp mắt hơn, diễn suất với một phong cách khác hơn so với Lý Liên Kiệt, nhưng có lẽ do "mưa lâu thấm đất ", nhân vật Hoàng Phi Hồng do Triệu Văn Trác đóng vẫn không được số đông khán giả chấp nhận và yêu thích.

    Ngoài các phim truyền hình về Hoàng Phi Hồng, một số phim đã khắc hoạ Hoàng Phi Hồng qua những hình tượng khác, như trong Drunken master, Iron monkey...Những phim này không ngừng tô điểm cho những kỳ tích có thật hoặc giả định về Hoàng Phi Hồng, để lại một nhân vật hoàn hảo trong lòng khán giả hâm mộ võ thuật...

    Hoàng Phi Hồng: nhân vật đời thực tái hiện mạnh mẽ trên điện ảnh

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Trong lĩnh vực điện ảnh, Hoàng Phi Hồng là nhân vật truyền kỳ đã chinh phục hàng triệu trái tim khán giả qua tài diễn xuất của các bậc thầy võ thuật. Từ cuối năm 1940 đến nay, Hồng Kông đã thực hiện hàng trăm bộ phim và kịch truyền hình về Hoàng Phi Hồng khiến tên tuổi nhà võ thuật yêu nước này trở nên thân thuộc với mọi tầng lớp khán giả. Sau khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách, các tác phẩm về Hoàng Phi Hồng được người dân Quảng Đông chào đón nhiệt liệt. Đề tài Hoàng Phi Hồng thực sự trở thành cơn sốt. Cuộc đời Hoàng Phi Hồng cùng với võ công siêu việt và đức độ trong sáng của ông đã thật sự chinh phục những người mê võ thuật thật sự. Hoàng Phi Hồng là con người như thế nào mà có nhiều huyền thoại và được ái mộ đến thế ?

    Hoàng Phi Hồng ở ngoài đời

    Hoàng Phi Hồng sinh năm 1850 ở làng Lộc Đan, núi Tây Triều, thuộc phủ Nam Hải,Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông. Cha của ông là Hoàng Kỳ Anh, từng theo học Thiếu Lâm Phúc Kiến (Nam Thiếu Lâm) với thiền sư Lục A Thái. Theo cha từ năm 5 tuổi tập võ nghệ, đến khi 13 tuổi, Hoàng Phi Hồng cùng cha đi đến Quảng Châu để biểu diển võ thuật và bán thuốc. Chính trong thời gian này, Hoàng Phi Hồng đã học thêm nhiều danh sư các môn võ khác nhau, do đó tài nghệ của ông còn lấn lướt hơn cả cha mình. Đương thời có người lớn thách đấu, Hoàng Phi Hồng đã sử dụng côn pháp để chiến thắng, nhờ thế nổi tiếng khắp nơi. Tuyệt chiêu của Hoàng Phi Hồng bao gồm Hổ Hạc Song Hình Quyền, Thiết Tuyến Quyền, Công Tự Phục Hổ Quyền, Vô Ảnh Cước. Ngón Vô Ảnh Cước là do Hoàng Phi Hồng trao đổi với Hồng Đông Huy-bù lại, Hoàng Phi Hồng phải truyền lại cho Huy bài Hổ Hạc Song Hình và Công Tự Phục Hổ Quyền. Một trong những điểm đáng chú ý của Hoàng Phi Hồng là tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, người ta nói rằng ông còn học võ của bà vợ cả là một danh thủ thuộc một môn phái khác.


    Hoàng Phi Hồng mở hiệu thuốc Bảo Chi Lâm ở đường Nhân An, chuyên bán thảo dược tươi trị thương. Mặc dù là võ sư dân gian nhưng cuộc đời Hoàng Phi Hồng vẫn gắn liền với lịch sử Trung Quốc cận đại, dấu chân của mãnh hổ này đã in lên nhiều nơi. Năm 1885, tướng quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc tấn công quân Pháp ở Việt Nam. Năm sau danh tướng họ Lưu được điều động về Phúc Kiến làm tổng binh. Hoàng Phi Hồng được Lưu Vĩnh Phúc chọn làm trưởng ban huấn luyện. Năm 1895 chiến tranh Trung Nhật nổ ra, Hoàng Phi Hồng theo Lưu Vĩnh Phúc đến Đài Loan. Quân Thanh đại bại, triều đình cắt Đài Loan cho Nhật, quân dân Đài Loan khởi nghĩa và phong Hoàng Phi Hồng lên làm "Điện Tiền Tướng Quân" thống lãnh. Sau này cách mạng Tân Hợi (1911) bùng nổ, Lưu Vĩnh Phúc mời Hoàng Phi Hồng làm giáo luyện dân đoàn tỉnh Quảng Đông.

    Hoàng Phi Hồng từng đặt chân đến Hồng Kông, gặp lại môn đồ Lục Chính Cương và được mời đến võ đường của Lục Chính Cương tham quan. Thời gian ở đây do bất bình trước cảnh một người cô thế bị uy hiếp, Hoàng Phi Hồng ra tay can ngăn và bị một đám đông có vũ khí bao vây. Một mình đánh bại cả chục người- Hoàng Phi Hồng trở thành vị cứu tinh của những người bị áp bức. Bị triều đình truy nã, Hoàng Phi Hồng phải chạy trốn. Về sau Lục Chính Cương tìm đến nơi trú ẩn của Hoàng Phi Hồng, kể lại chuyện người phương Tây đem chó berger đến khiêu chiến và nhiều nhà sư bị chó tấn công, Hoàng Phi Hồng đùng đùng nổi giận lập tức đến hương giang đập gãy xương sống con chó hung thần ấy. Ngày hôm sau báo chí Hồng Kông chạy tittle đỏ về tin này và gọi đó là "chí khí người Trung Quốc".

    Trở về Quảng Đông, Hoàng Phi Hồng mở thêm một nhà thuốc nữa ở Phật Sơn, trở thành một trong bốn vị thầy thuốc lớn nhất Quảng Đông bấy giờ. Thời gian này ông gặp người vợ thứ 4, đây cũng là lúc ông sống sung túc nhất. Về chuyện tình cảm, ta thường thấy bên cạnh Hoàng Phi Hồng ( trong các phim) là dì Mười Ba. Sự thật Hoàng Phi Hồng có 4 người vợ, người vợ cả là một võ sư như đã nói trên. Riêng chuyện gặp người vợ thứ tư đã là một giai thoại thú vị: năm đó Quế Lan 19 tuổi, một lần đi xem vía Phật cóHoàng Phi Hồng trình diễn võ thuật, không biết trời xui đất khiến thế nào mà khi múa bài chĩa ba vũ gia, lại văng chiếc giày vào mặt Quế Lan. Cho là xúc phạm Quế Lan liền leo lên khán đài tát vào mặt Hoàng Phi Hồng một cái, nói : "một võ sư nổi tiếng như ông không thể phạm sai lầm như thế, đây là chiếc giày nếu là vũ khí thì sao ".Kính phục, Hoàng Phi Hồng xin cưới nàng làm vợ.

    Ngày 8/8/1933 thương đoàn Quảng Đông, đoàn tự vệ vũ trang Quảng Đông tổ chức cuộc bạo loạn chống chính quyền Tôn Trung Sơn, đi đến đâu tổ chức này cũng thực hiện hành vi cướp phá. Bảo Chi Lâm cũng bị tổ chức này thiêu rụi, quá tức giận, Hoàng Phi Hồng ngã bệnh rồi qua đời, hưởng thọ 83 tuổi. Thi thể ông được an táng tại Phật Sơn-Quảng Đông.

    Hoàng Phi Hồng trên màn ảnh

    Khoảng đầu những năm 50 thế kỷ XX ở Hồng Kông, phim ảnh Quảng Đông chiếm lĩnh thị trường. Những phim võ thuật thời đó thường đưa lên màn ảnh những nhân vật huyền bí và những nhà thuật sĩ. Nhưng giữa những năm 50-70, chúng ta gặp dấu vết tới hàng trăm phim mà nhân vật chính là một người mang tên Hoàng Phi Hồng. Kịch bản phim này hướng theo triết lý Trung Hoa hơn là theo chiều hướng tượng. Kungfu không còn là tiết mục phụ mà đã trở thành ngay chính nền tảng của kịch bản. Những phim đó biểu diễn đích thực về nhiều thể loại võ thuật, chuyển hóa từ 5 trường phái lớn của miền nam Trung Quốc là Hồng, Lưu, Thái, Lý và Mạc. Để có bề ngoài thực hơn, những diễn viên đóng vai Hoàng Phi Hồng phải là những võ sư đích thực. Người đầu tiên thủ vai này là Quan Đức Hưng - diễn viên nhạc kịch Quảng Đông, và là bậc thầy trong môn phái võ Bạch Hạc. Ngoài ra ông còn thành công trong nhiều phái võ khác, trong đó có cả Hồng Gia phái. Ông đóng vai Hoàng Phi Hồng trong nhiều hồi của loạt phim hiệu qủa này. Nhân cách của ông biểu thị đức hạnh của đạo lý Khổng giáo dưới tất cả mọi hình thái; đó là một đứa con tôn trọng quê hương quốc gia, tôn ti trật tự xã hội và gia đình. Những phim võ hiệp đó ca tụng đức khiêm cung, lòng trung thành, ý thức tôn sư trọng đạo và chỉ chiến đấu trong những trường hợp thực sự cần thiết. Quan Đức Hưng đã tạo ấn tượng tốt đẹp cho người xem về người anh hùng này, một chi tiết ấn tượng của phim là: trong một lần nhìn cặp gà chọi đấu nhau, Hoàng Phi Hồng nghĩ ra ngay đến cách giả gà để đối phó với thế trận con rết, sự sáng tạo này được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.

    Lý Liên Kiệt - Hoàng Phi Hồng



    Gần nửa thế kỷ sau, khi mà Quan Đức Hưng đã 92 tuổi, trở thành bậc đàn chú trong lĩnh vực điện ảnh võ thuật thì cơn sốt Hoàng Phi Hồng lại rộn lên lần nữa. Không biết bao nhiêu bộ phim Hoàng Phi Hồng xuất hiện và khôn biết bao nhiêu tài tử đóng, vậy mà hình ảnh thần tượng này vẫn không phai nhoà mà còn trải rộng ra cả thế giới. Khán giả gặp lại Hoàng Phi Hồng qua Lý Liên Kiệt thủ vai, vượt xa phim của Quan Đức Hưng ở màu sắc, âm thanh và kỷ xảo. Lý Liên Kiệt kế vị Quan Đức Hưng, trở thành người đi đầu và đóng nhiều phim điện ảnh về Hoàng Phi Hồng nhất, với những chi tiết hài nhẹ nhõm, những pha đấu võ đẹp mắt, những nhân vật hư cấu có võ công cao cường như Quỷ Cước Thất, Nha Sát Tô và cả người tình hư cấu dì Mười Ba; bộ phim đã thật sự lôi cuốn người xem, tạo được cơn sốt nóng, đưa Hoàng Phi Hồng trở thành nhân vật truyền kỳ trên màn ảnh lớn khắp á châu và thế giới- những nơi có cộng đồng người Hoa sinh sống.

    Triệu Văn Trác - Hoàng Phi Hồng



    Sau thành công của loạt phim Hoàng Phi Hồng do Lý Liên Kiệt đóng, một võ sư quán quân võ thuật Trung Quốc là Triệu Văn Trác được mời vào thay thế .Đây cũng là một vai diễn thành công do Triệu Văn Trác đã biết cách biến hoá những đường Hồng Gia Quyền trở nên đẹp mắt hơn, diễn suất với một phong cách khác hơn so với Lý Liên Kiệt, nhưng có lẽ do "mưa lâu thấm đất ", nhân vật Hoàng Phi Hồng do Triệu Văn Trác đóng vẫn không được số đông khán giả chấp nhận và yêu thích.

    Ngoài các phim truyền hình về Hoàng Phi Hồng, một số phim đã khắc hoạ Hoàng Phi Hồng qua những hình tượng khác, như trong Drunken master, Iron monkey...Những phim này không ngừng tô điểm cho những kỳ tích có thật hoặc giả định về Hoàng Phi Hồng, để lại một nhân vật hoàn hảo trong lòng khán giả hâm mộ võ thuật...

    Tám Danh tên thật Nguyễn Phương Danh (1901 – 9 tháng 3 năm 1976) là đạo diễn, diễn viên cải lương, một trong những cây đại thụ của sân khấu cải lương. Ông có nhiều đóng góp lớn trong cách tân cải lương, là người đầu tiên đưa môn võ nghệ thuật lên sân khấu này. Nghệ sĩ Tám Danh còn là một võ sư nổi tiếng. Ông đã được truy tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đợt 1.


    Võ sư Tám Danh

    Thời kì đầu
    Nguyễn Phương Danh sinh năm 1901 tại làng Nhơn Nghĩa, quận Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ). Ông sinh ra trong một gia đình có 9 anh chị em, cùng với bố mẹ sinh sống ở bờ kia Vàm Xáng.

    Mới 9 tuổi, ông đã biết đàn ca, tham dự trong ban nhạc lễ của xã. Sau đó ông tham gia Ban tài tử Ái Nghĩa, một ban đờn ca nổi tiếng ở Nam kỳ lục tỉnh. Thời kì này, ông còn theo học múa kiếm, đao, côn của bà Bóng Sen ở Cái Răng, đồng thời theo học quyền cước của võ sư Tám Bằng ở Bạc Liêu. Năm 12 tuổi, ông đi theo gánh hát bội nhưng bị cha bắt về. Từ năm 14 tuổi, ông bỏ nhà đi lập nghiệp, đi đàn hát cho các nhà hàng, khách sạn từ Cần Thơ tới Mỹ Tho. Năm 15 tuổi, ông đi hát cho gánh xiếc của ông Andre Thận ở Sa Đéc. Sau đó ông chuyển sang hát cho gánh “hát chặp” của Thầy Năm Tú (Mỹ Tho), thủ vai trong một số tiết mục do ông Trương Duy Toản sáng tác.

    Năm 1918, gánh hát kim thời Đồng Bào Nam, dàn dựng nhiều tuồng tích với các đào kép nổi tiếng như Hai Giỏi và Năm Phỉ. Ông bèn tham dự gánh hát này, khi đó mới 17 tuổi. Ở gánh này, thỉnh thoảng ông được tham dự các vai phụ. Trong một lần kép chính Hai Giỏi đột nhiên vắng mặt, ông được bà chủ gánh lựa chọn thay thế, và kể từ đó ông trở thành kép chính thức của gánh hát Đồng Bào Nam.

    Thành danh
    Trên sân khấu Đồng Bào Nam, tài năng Tám Danh dần được bộc lộ và ông ngày càng nổi tiếng. Ngoài khả năng diễn xuất, ông còn là người chơi đàn kìm rất điêu luyện. Ông bầu Nguyễn Ngọc Cương (cha của NSƯT Kim Cương) của gánh Phước Cương mời ông về hát. Gánh Phước Cương sau là gánh hát lớn với nhiều đào kép nổi tiếng như Năm Nhỏ, Năm Phỉ, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Ba Du, Sáu Chương, Bảy Lựu, Tư Huệ… soạn giả chính là Đặng Công Danh (Mười Giảng). Thời gian này ông đã ghi dấu ấn với nhiều vai diễn để đời như Vương Tư Đồ (tuồng Phụng Nghi Đình), Bao Công (tuồng Xử Án Bàng Quí Phi), Tề Thiên Đại Thánh (tuồng Mẫu Đơn Tiên), Hà Công Yên (Tứ đổ tường), Phán Nhân (Số độc đắc)… Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Huệ, cũng là một đào hát. Hai người đã sinh hai người con, một trai một gái, mang tên Nguyễn Thị B và Nguyễn Văn A.

    Năm 1931, ông theo gánh Phước Cương sang lưu diễn tại hội chợ đấu xảo Paris. Ông đã thể hiện những vai như Hà Công Yên trong tuồng xã hội Tứ đổ tường, diễn các trích đoạn tuồng Phụng Nghi Đình, Xử án Bàng Quí Phi… thu được thành công lớn, được Hoàng hậu Hà Lan mời sang hát tại hoàng cung 15 ngày đêm. Sau đó ông và đoàn tiếp tục lưu diễn tại các nhà hát Paris, thu được lợi nhuận cao. Sau gần một năm lưu diễn ở nước ngoài, đoàn trở về Bắc, đi lưu diễn từ Hà Nội đến Sài Gòn. Tám Danh trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng và giàu có bậc nhất trong làng cải lương lúc bấy giờ.

    Năm 1933, Tám Danh – Bảy Nhiêu cùng một số nghệ sĩ khác tách ra thành lập gánh Tiếng Chung, thực chất là một đoàn tập thể cùng làm, cùng hưởng. Tuy nhiên do không thống nhất với nhau nên gánh Tiếng Chung bị tan rã sau chưa đầy một năm. Sau đó, Tám Danh lại hợp tác với ông Hai Nhân ở Châu Đốc và cô đào nổi tiếng Hai Đàng, lập gánh Danh Đàn nhưng cũng không thu được thành công.

    Cuối năm 1936, trong tâm trạng chán chường vì nghiệp diễn, Tám Danh đã chuyển sang làm cho hãng đĩa hát Asia, do ông Ngô Công Mạnh (người bạn của ông) làm giám đốc. Sau đó ông hợp tác với ông Nguyễn Văn Đinh, làm đạo diễn cho bộ phim Trọn với tình, kịch bản và quay phim do Nguyễn Văn Đinh thực hiện. Đây là bộ phim nói 35 mm đầu tiên do người Việt Nam sản xuất, và ông cũng là một trong những đạo diễn điện ảnh đầu tiên của Việt Nam. Bộ phim ra mắt năm 1939, tuy nhiên không thành công như mong đợi.

    Tham gia cách mạng.
    Sau khi Thế chiến II bùng nổ năm 1939, sân khấu cải lương cũng như các ngành khác rơi vào khủng hoảng. Lúc này, ông đang theo gánh Quốc gia kịch đoàn, làm kép, thầy tuồng (đạo diễn) cho gánh. Thời gian này, ông đã gặp gỡ ông Nguyễn Văn Nguyễn (một cán bộ của Xứ ủy Nam kỳ) và giác ngộ cách mạng. Ông đã dàn dựng nhiều vở đề cao lòng yêu nước, chống xâm lược. Năm 1944, khi đoàn diễn tại Mỹ Tho, ông bị chính quyền truy bắt. Thoát được, ông cùng gia đình trốn về quê nhà ở Cần Thơ.

    Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở khu vực Nhơn Nghĩa – Mỹ Khánh. Kháng chiến bùng nổ, ông tham gia kháng chiến, giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính xã Mỹ Khánh. Đầu năm 1949, ông chuyển sang quân đội, hoạt động trong Đội biệt động số 8. Từ năm 1951, ông được chuyển về Phòng Chính trị Khu 8, công tác chung với nhà thơ Nguyễn Bính, Bảo Định Giang, nhạc sĩ Hoàng Việt, ca sĩ Quốc Hương, nghệ sĩ Ba Du… Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam vào thời gian này.

    Cuối năm 1952, ông được biệt phái về miền Tây (khu 9) cùng Nguyễn Ngọc Bạch sáng lập và lãnh đạo Đoàn Văn nghệ Cửu Long, trực thuộc Chi hội Văn nghệ Nam Bộ. Sau hiệp định Geneve, ông tập kết ra Bắc.

    Thời gian đầu ở miền Bắc, ông giữ chức Đội phó Đội cải lương Nam Bộ, ông Nguyễn Ngọc Bạch làm đội trưởng. Sau đó, Tám Danh cùng Ba Du, Triệu An, Ngọc Thới, Đắc Nhẫn, Ngô Văn Du, Hoàng Tuyển, Thanh Tuyền, Chi Lăng, Ngọc Cung, Phạm Ngọc Truyền… tham gia Ban nghiên cứu cải lương của Bộ Văn hoá lập, do ông Thế Lữ làm trưởng đoàn. Đội cải lương Nam Bộ trở thành Đoàn cải lương Nam Bộ và đây cũng chính là nơi ông gắn bó và tham gia đến cuối đời.

    Năm 1959, ông về dạy tại Trường Nghệ thuật Ca Kịch Dân tộc (nay là Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội), phụ trách bộ môn Cải lương của trường. Năm 1960, ông được bầu vào Quốc hội khoá II. Sau đó ông tiếp tục giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

    Sau khi thống nhất đất nước (1975), ông cùng với Đoàn Cải lương Nam bộ trở về Sài Gòn, tìm gặp những người bạn cũ Năm Châu, Bảy Nhiêu, Phùng Há… tiếp tục xây dựng các vở diễn phục vụ công chúng. Tuy nhiên ông đột ngột qua đời trong một cơn bạo bệnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy vào ngày 9 tháng 3 năm 1976. Nghệ sĩ Tám Danh được an táng tại Nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp ở thành phố Hồ Chí Minh.

    Đóng góp cho nền sân khấu cải lương cách mạng
    Tám Danh là một trong những nghệ sĩ hàng đầu của sân khấu cải lương. Ông không chỉ đóng góp trong công việc biểu diễn, đạo diễn mà còn là người thầy giáo tận tuỵ, yêu nghề. Trong cuốn sách Kiến thức sân khấu phổ thông – Viện Sân khấu xuất bản năm 1987, đánh giá: “Tám Danh là cánh chim đầu đàn của sân khấu cải lương; người đã xây dựng nền móng cho nghệ thuật cải lương cách mạng, người thầy đào tạo nên những diễn viên xuất sắc…”

    Những năm đầu tiên sau khi hoà bình lập lại trên đất Bắc, ông là người góp phần xây dựng nên đoàn Cải lương Nam Bộ. Ông đã tham gia dàn dựng thể nghiệm nhiều vở diễn thành công như Máu thắm đồng Nọc Nạn, Người con gái đất đỏ (Phạm Ngọc Truyền) Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ… đều đạt giải cao trong các hội diễn sân khấu toàn quốc. Ngoài ra ông còn giúp dàn dựng cho các đoàn cải lương Kim Phụng, Chuông Vàng (Hà Nội), Hoa Mai (Hà Tây), Hòn Gai (Quảng Ninh), đoàn cải lương Hải Phòng, đoàn cải lương Liên khu 4…

    Sau khi chuyển sang giảng dạy tại Trường Ca kịch, tuy tuổi đã khá cao (gần 60) nhưng Tám Danh vẫn tiếp tục tâm huyết xây dựng nên bộ môn Cải lương của trường. Từ những kinh nghiệm trong cuộc đời đi hát, cùng với việc nghiên cứu, tìm tòi, thể nghiệm mới, Tám Danh đã xây dựng nên giáo trình bộ môn trong đó phải kể tới việc ông xây dựng môn Múa – Trình Thức – Võ Thuật [2]. Ông đề cao hiệu quả của vũ đạo và võ thuật trên sân khấu cải lương. Ông tìm tòi sáng tạo làm hoa mĩ hơn cho những động tác, thế đánh, chiêu thức võ thuật để phục vụ hiệu quả sân khấu và điện ảnh. Ví dụ như trong vở Dệt Gấm, dàn dựng năm 1964, Tám Danh đã đưa cả những động tác ballet ứng dụng vào vai hạc tiên kết hợp nhuần nhuyễn với những động tác múa truyền thống đã gây bất ngờ cho khán giả ,góp phần vào thành công của vở diễn [2]. Môn võ nghệ thuật mà ông sáng tạo, sau này được võ sư Thu Vân kế tục, đã được đánh giá rất cao trong các kì thi toàn quốc và quốc tế. (Hiện nay Thu Vân là một võ sư, giảng viên dạy Múa – Trình Thức – Võ Thuật, bà đã mở hai võ đường Thu Vân võ đạo ở Paris) . Nhiều học trò ông đã thành danh, như Công Thành, Tú Lệ, Lê Thiện, Ca Lê Hồng, Thanh Vy, Thanh Hạp, Xuân Hiểu, Hà Quang Văn, Hoàng Khanh…

    Năm 1966, ông đề xuất cách tân cải lương bằng cách kết hợp âm nhạc, vũ đạo, nội dung để tạo ra hình thức mới cho cải lương. Tuy nhiên điều này đã gây ra tranh luận trong giới nghệ sĩ biểu diễn. Cho đến tận khi mất, những đề xuất cải cách của ông vẫn còn bị bỏ lửng.

    Tôn vinh
    Bởi những thành tích xuất sắc trong hơn 66 năm hoạt động, nghệ sĩ Tám Danh được Nhà nước trao tặng Huân chương cao quý: Huân chương Độc lập, Huân chương Kháng chiến hạng II, Huân chương Lao động hạng II và hạng III. Năm 1984, ông được truy tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đợt 1.

    Tháng 6 năm 1994, Trường Nghệ thuật Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức buổi tọa đàm về thân thế, sự nghiệp của NSND Tám Danh, khẳng định ông là một nghệ sĩ lớn, người thầy lớn của nhiều thế hệ nghệ sĩ cải lương.

    Năm 2004, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) thực hiện chương trình sân khấu Những cánh chim không mỏi mang tên “NSND Tám Danh – Một cây đại thụ của sân khấu cải lương”.

    Ông là một trong 7 người (Ba Du, Tám Danh, Ngọc Thạch, Tám Củi, Hoàng Tuyển, Lương Nhân, Nguyễn Ngọc Bạch) có mặt trong cuốn 7 gương mặt nghệ sĩ cải lương Nam bộ của Minh Trị do Nhà xuất bản Văn nghệ phát hành năm 2007.

    Võ sư Tám Danh - nghệ sĩ cải lương nổi tiếng

    Posted at  tháng 11 13, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Tám Danh tên thật Nguyễn Phương Danh (1901 – 9 tháng 3 năm 1976) là đạo diễn, diễn viên cải lương, một trong những cây đại thụ của sân khấu cải lương. Ông có nhiều đóng góp lớn trong cách tân cải lương, là người đầu tiên đưa môn võ nghệ thuật lên sân khấu này. Nghệ sĩ Tám Danh còn là một võ sư nổi tiếng. Ông đã được truy tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đợt 1.


    Võ sư Tám Danh

    Thời kì đầu
    Nguyễn Phương Danh sinh năm 1901 tại làng Nhơn Nghĩa, quận Châu Thành, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ). Ông sinh ra trong một gia đình có 9 anh chị em, cùng với bố mẹ sinh sống ở bờ kia Vàm Xáng.

    Mới 9 tuổi, ông đã biết đàn ca, tham dự trong ban nhạc lễ của xã. Sau đó ông tham gia Ban tài tử Ái Nghĩa, một ban đờn ca nổi tiếng ở Nam kỳ lục tỉnh. Thời kì này, ông còn theo học múa kiếm, đao, côn của bà Bóng Sen ở Cái Răng, đồng thời theo học quyền cước của võ sư Tám Bằng ở Bạc Liêu. Năm 12 tuổi, ông đi theo gánh hát bội nhưng bị cha bắt về. Từ năm 14 tuổi, ông bỏ nhà đi lập nghiệp, đi đàn hát cho các nhà hàng, khách sạn từ Cần Thơ tới Mỹ Tho. Năm 15 tuổi, ông đi hát cho gánh xiếc của ông Andre Thận ở Sa Đéc. Sau đó ông chuyển sang hát cho gánh “hát chặp” của Thầy Năm Tú (Mỹ Tho), thủ vai trong một số tiết mục do ông Trương Duy Toản sáng tác.

    Năm 1918, gánh hát kim thời Đồng Bào Nam, dàn dựng nhiều tuồng tích với các đào kép nổi tiếng như Hai Giỏi và Năm Phỉ. Ông bèn tham dự gánh hát này, khi đó mới 17 tuổi. Ở gánh này, thỉnh thoảng ông được tham dự các vai phụ. Trong một lần kép chính Hai Giỏi đột nhiên vắng mặt, ông được bà chủ gánh lựa chọn thay thế, và kể từ đó ông trở thành kép chính thức của gánh hát Đồng Bào Nam.

    Thành danh
    Trên sân khấu Đồng Bào Nam, tài năng Tám Danh dần được bộc lộ và ông ngày càng nổi tiếng. Ngoài khả năng diễn xuất, ông còn là người chơi đàn kìm rất điêu luyện. Ông bầu Nguyễn Ngọc Cương (cha của NSƯT Kim Cương) của gánh Phước Cương mời ông về hát. Gánh Phước Cương sau là gánh hát lớn với nhiều đào kép nổi tiếng như Năm Nhỏ, Năm Phỉ, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Ba Du, Sáu Chương, Bảy Lựu, Tư Huệ… soạn giả chính là Đặng Công Danh (Mười Giảng). Thời gian này ông đã ghi dấu ấn với nhiều vai diễn để đời như Vương Tư Đồ (tuồng Phụng Nghi Đình), Bao Công (tuồng Xử Án Bàng Quí Phi), Tề Thiên Đại Thánh (tuồng Mẫu Đơn Tiên), Hà Công Yên (Tứ đổ tường), Phán Nhân (Số độc đắc)… Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Huệ, cũng là một đào hát. Hai người đã sinh hai người con, một trai một gái, mang tên Nguyễn Thị B và Nguyễn Văn A.

    Năm 1931, ông theo gánh Phước Cương sang lưu diễn tại hội chợ đấu xảo Paris. Ông đã thể hiện những vai như Hà Công Yên trong tuồng xã hội Tứ đổ tường, diễn các trích đoạn tuồng Phụng Nghi Đình, Xử án Bàng Quí Phi… thu được thành công lớn, được Hoàng hậu Hà Lan mời sang hát tại hoàng cung 15 ngày đêm. Sau đó ông và đoàn tiếp tục lưu diễn tại các nhà hát Paris, thu được lợi nhuận cao. Sau gần một năm lưu diễn ở nước ngoài, đoàn trở về Bắc, đi lưu diễn từ Hà Nội đến Sài Gòn. Tám Danh trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng và giàu có bậc nhất trong làng cải lương lúc bấy giờ.

    Năm 1933, Tám Danh – Bảy Nhiêu cùng một số nghệ sĩ khác tách ra thành lập gánh Tiếng Chung, thực chất là một đoàn tập thể cùng làm, cùng hưởng. Tuy nhiên do không thống nhất với nhau nên gánh Tiếng Chung bị tan rã sau chưa đầy một năm. Sau đó, Tám Danh lại hợp tác với ông Hai Nhân ở Châu Đốc và cô đào nổi tiếng Hai Đàng, lập gánh Danh Đàn nhưng cũng không thu được thành công.

    Cuối năm 1936, trong tâm trạng chán chường vì nghiệp diễn, Tám Danh đã chuyển sang làm cho hãng đĩa hát Asia, do ông Ngô Công Mạnh (người bạn của ông) làm giám đốc. Sau đó ông hợp tác với ông Nguyễn Văn Đinh, làm đạo diễn cho bộ phim Trọn với tình, kịch bản và quay phim do Nguyễn Văn Đinh thực hiện. Đây là bộ phim nói 35 mm đầu tiên do người Việt Nam sản xuất, và ông cũng là một trong những đạo diễn điện ảnh đầu tiên của Việt Nam. Bộ phim ra mắt năm 1939, tuy nhiên không thành công như mong đợi.

    Tham gia cách mạng.
    Sau khi Thế chiến II bùng nổ năm 1939, sân khấu cải lương cũng như các ngành khác rơi vào khủng hoảng. Lúc này, ông đang theo gánh Quốc gia kịch đoàn, làm kép, thầy tuồng (đạo diễn) cho gánh. Thời gian này, ông đã gặp gỡ ông Nguyễn Văn Nguyễn (một cán bộ của Xứ ủy Nam kỳ) và giác ngộ cách mạng. Ông đã dàn dựng nhiều vở đề cao lòng yêu nước, chống xâm lược. Năm 1944, khi đoàn diễn tại Mỹ Tho, ông bị chính quyền truy bắt. Thoát được, ông cùng gia đình trốn về quê nhà ở Cần Thơ.

    Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở khu vực Nhơn Nghĩa – Mỹ Khánh. Kháng chiến bùng nổ, ông tham gia kháng chiến, giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính xã Mỹ Khánh. Đầu năm 1949, ông chuyển sang quân đội, hoạt động trong Đội biệt động số 8. Từ năm 1951, ông được chuyển về Phòng Chính trị Khu 8, công tác chung với nhà thơ Nguyễn Bính, Bảo Định Giang, nhạc sĩ Hoàng Việt, ca sĩ Quốc Hương, nghệ sĩ Ba Du… Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam vào thời gian này.

    Cuối năm 1952, ông được biệt phái về miền Tây (khu 9) cùng Nguyễn Ngọc Bạch sáng lập và lãnh đạo Đoàn Văn nghệ Cửu Long, trực thuộc Chi hội Văn nghệ Nam Bộ. Sau hiệp định Geneve, ông tập kết ra Bắc.

    Thời gian đầu ở miền Bắc, ông giữ chức Đội phó Đội cải lương Nam Bộ, ông Nguyễn Ngọc Bạch làm đội trưởng. Sau đó, Tám Danh cùng Ba Du, Triệu An, Ngọc Thới, Đắc Nhẫn, Ngô Văn Du, Hoàng Tuyển, Thanh Tuyền, Chi Lăng, Ngọc Cung, Phạm Ngọc Truyền… tham gia Ban nghiên cứu cải lương của Bộ Văn hoá lập, do ông Thế Lữ làm trưởng đoàn. Đội cải lương Nam Bộ trở thành Đoàn cải lương Nam Bộ và đây cũng chính là nơi ông gắn bó và tham gia đến cuối đời.

    Năm 1959, ông về dạy tại Trường Nghệ thuật Ca Kịch Dân tộc (nay là Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội), phụ trách bộ môn Cải lương của trường. Năm 1960, ông được bầu vào Quốc hội khoá II. Sau đó ông tiếp tục giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

    Sau khi thống nhất đất nước (1975), ông cùng với Đoàn Cải lương Nam bộ trở về Sài Gòn, tìm gặp những người bạn cũ Năm Châu, Bảy Nhiêu, Phùng Há… tiếp tục xây dựng các vở diễn phục vụ công chúng. Tuy nhiên ông đột ngột qua đời trong một cơn bạo bệnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy vào ngày 9 tháng 3 năm 1976. Nghệ sĩ Tám Danh được an táng tại Nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp ở thành phố Hồ Chí Minh.

    Đóng góp cho nền sân khấu cải lương cách mạng
    Tám Danh là một trong những nghệ sĩ hàng đầu của sân khấu cải lương. Ông không chỉ đóng góp trong công việc biểu diễn, đạo diễn mà còn là người thầy giáo tận tuỵ, yêu nghề. Trong cuốn sách Kiến thức sân khấu phổ thông – Viện Sân khấu xuất bản năm 1987, đánh giá: “Tám Danh là cánh chim đầu đàn của sân khấu cải lương; người đã xây dựng nền móng cho nghệ thuật cải lương cách mạng, người thầy đào tạo nên những diễn viên xuất sắc…”

    Những năm đầu tiên sau khi hoà bình lập lại trên đất Bắc, ông là người góp phần xây dựng nên đoàn Cải lương Nam Bộ. Ông đã tham gia dàn dựng thể nghiệm nhiều vở diễn thành công như Máu thắm đồng Nọc Nạn, Người con gái đất đỏ (Phạm Ngọc Truyền) Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ… đều đạt giải cao trong các hội diễn sân khấu toàn quốc. Ngoài ra ông còn giúp dàn dựng cho các đoàn cải lương Kim Phụng, Chuông Vàng (Hà Nội), Hoa Mai (Hà Tây), Hòn Gai (Quảng Ninh), đoàn cải lương Hải Phòng, đoàn cải lương Liên khu 4…

    Sau khi chuyển sang giảng dạy tại Trường Ca kịch, tuy tuổi đã khá cao (gần 60) nhưng Tám Danh vẫn tiếp tục tâm huyết xây dựng nên bộ môn Cải lương của trường. Từ những kinh nghiệm trong cuộc đời đi hát, cùng với việc nghiên cứu, tìm tòi, thể nghiệm mới, Tám Danh đã xây dựng nên giáo trình bộ môn trong đó phải kể tới việc ông xây dựng môn Múa – Trình Thức – Võ Thuật [2]. Ông đề cao hiệu quả của vũ đạo và võ thuật trên sân khấu cải lương. Ông tìm tòi sáng tạo làm hoa mĩ hơn cho những động tác, thế đánh, chiêu thức võ thuật để phục vụ hiệu quả sân khấu và điện ảnh. Ví dụ như trong vở Dệt Gấm, dàn dựng năm 1964, Tám Danh đã đưa cả những động tác ballet ứng dụng vào vai hạc tiên kết hợp nhuần nhuyễn với những động tác múa truyền thống đã gây bất ngờ cho khán giả ,góp phần vào thành công của vở diễn [2]. Môn võ nghệ thuật mà ông sáng tạo, sau này được võ sư Thu Vân kế tục, đã được đánh giá rất cao trong các kì thi toàn quốc và quốc tế. (Hiện nay Thu Vân là một võ sư, giảng viên dạy Múa – Trình Thức – Võ Thuật, bà đã mở hai võ đường Thu Vân võ đạo ở Paris) . Nhiều học trò ông đã thành danh, như Công Thành, Tú Lệ, Lê Thiện, Ca Lê Hồng, Thanh Vy, Thanh Hạp, Xuân Hiểu, Hà Quang Văn, Hoàng Khanh…

    Năm 1966, ông đề xuất cách tân cải lương bằng cách kết hợp âm nhạc, vũ đạo, nội dung để tạo ra hình thức mới cho cải lương. Tuy nhiên điều này đã gây ra tranh luận trong giới nghệ sĩ biểu diễn. Cho đến tận khi mất, những đề xuất cải cách của ông vẫn còn bị bỏ lửng.

    Tôn vinh
    Bởi những thành tích xuất sắc trong hơn 66 năm hoạt động, nghệ sĩ Tám Danh được Nhà nước trao tặng Huân chương cao quý: Huân chương Độc lập, Huân chương Kháng chiến hạng II, Huân chương Lao động hạng II và hạng III. Năm 1984, ông được truy tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đợt 1.

    Tháng 6 năm 1994, Trường Nghệ thuật Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức buổi tọa đàm về thân thế, sự nghiệp của NSND Tám Danh, khẳng định ông là một nghệ sĩ lớn, người thầy lớn của nhiều thế hệ nghệ sĩ cải lương.

    Năm 2004, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) thực hiện chương trình sân khấu Những cánh chim không mỏi mang tên “NSND Tám Danh – Một cây đại thụ của sân khấu cải lương”.

    Ông là một trong 7 người (Ba Du, Tám Danh, Ngọc Thạch, Tám Củi, Hoàng Tuyển, Lương Nhân, Nguyễn Ngọc Bạch) có mặt trong cuốn 7 gương mặt nghệ sĩ cải lương Nam bộ của Minh Trị do Nhà xuất bản Văn nghệ phát hành năm 2007.

    Võ sư Hồ NgạnhVõ sư Hồ Ngạnh tên thật là Hồ Nhu, ông sinh năm 1891, mất năm 1976, nguyên quán thôn Háo Ngãi, xã Bình An, sinh sống tại thôn Thuận Truyền, Bình Thuận. Cha ông là Đốc Năm (Hồ Đức Phổ), một võ quan của triều đình Huế, mẹ ông bà Lê Thị Huỳnh Hà, cũng là một người nức tiếng giỏi võ trong vùng.

    Ngay từ nhỏ, Hồ Ngạnh đã được cha mẹ truyền dạy võ công. Lớn lên, ông được gia đình gửi vào lò võ của cao sư Ba Đề, tiếp đến là Đội Sẻ, Hồ Khiêm, toàn những người nổi tiếng. Bởi thế, từ những đường roi của các cao nhân như Ba Đề, Hồ Khiêm kết hợp với nội công học được từ thầy Đội Sẻ đã tạo ra một Hồ Ngạch với những đường côn biến hoá, sâu hiểm khôn lường. Theo sự truyền tụng của giới võ lâm khi ấy, đường roi của Hồ Ngạnh là tuyệt kỹ vô song.

    Dân Bình Định đến giờ vẫn truyền tụng nhiều câu chuyện Hồ Ngạnh bị các cao thủ khiêu chiến, thậm chí cả “đánh úp” hết sức lạ lùng. Các cao nhân thử tài với Hồ Ngạnh thì nhiều lắm, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là những trận thư hùng với lực sĩ Dư Đành.

    Dư Đành là tướng cướp, về võ công thì đến cả quân lính triều đình khi nghe thấy tên cũng đã hồn xiêu phách tán. Tung hoành khắp vùng không có đối thủ, nghe tiếng Hồ Ngạnh, Dư Đành nhiều lần gửi lời khiêu chiến. Chối từ mãi không được, sau cùng Hồ Ngạch cũng phải nhận lời thách đấu. Lần ấy, Dư Đành đem lũ lâu la về tận Thuận Truyền và hống hách đưa ra điều kiện, nếu Hồ Ngạnh đấu thua thì phải gia nhập đảng cướp của y.

    Vậy là, tại bãi vắng ngay sát thôn Thuận Truyền đêm ấy, một mình Hồ Ngạnh đã đánh bại cả chục tên đệ tử của Dư Đành, vốn đều là những cao thủ võ lâm. Khi đám tay chân mỗi tên nằm một góc thì Dư Đành xuất hiện. Phải nói thêm rằng, Dư Đành có sức mạnh chẳng ai sánh kịp. Đã có lần, để diễu võ dương oai, một tay y đã cắp cả một con nghé hệt như người ta nhẹ nhàng bồng trên tay đứa trẻ.

    Với thanh đao sáng loáng trên tay, vừa xuất hiện là Dư Đành tung đòn tới tấp. Thế nhưng, với đường roi thượng thừa của mình, Hồ Ngạnh cũng chẳng hề nao núng. Đánh mãi mà vẫn không tìm được kẽ hở để “ăn sống nuốt tươi” đối phương, Dư Đành thấy máu nóng dồn lên mặt. Và khi ấy, Hồ Ngạnh mới ra đòn tuyệt kỹ…

    Tránh đòn truy hồn của đối phương, ông nhẹ nhàng tung người đá văng thanh đao cắm xuống đất, đồng thời xoay người giở đòn đánh nghịch. Biết đã vào thế hiểm, tiến thoái lưỡng nan, Dư Đành đành nhắm mắt chờ đường roi sát thủ. Thế nhưng, sau khi tiếng roi vun vút cất lên, Dư Đành đã thở phào choàng tỉnh bởi đường roi vừa chạm áo thì đối thủ đã thu về không đánh nữa.

    Trận thư hùng ấy, dù đã nợ Hồ Ngạnh một mạng nhưng Dư Đành vẫn không phục. Y rắp tâm kiếm cơ hội trả thù. Bởi thế, một chiều, đang mải mê với những chiêu thức võ thuật thì Hồ Ngạnh được mọi người báo tin, không biết ai đã đến nương sắn nhà mình và nhổ hết sắn đóng vào những giỏ lớn. Điều lạ lùng là tất cả số sắn đó, kẻ trộm không lấy mang đi mà vẫn để nguyên trên rẫy.

    Hồ Ngạnh đâu biết rằng, đó là một âm mưu của Dư Đành. Ra rẫy, thấy sắn bị nhổ, chẳng còn cách nào khác, Hồ Ngạnh đành phải quẩy những sọt sắn trĩu nặng ấy về. Vừa đi được một đoạn thì từ bụi cây bên đường, Dư Đành vọt ra với chiếc bắp cày trên tay. Chẳng nói chẳng rằng, y tung luôn một đường sát thủ.

    Nghe tiếng gió, Hồ Ngạnh vội thụt xuống, đường cày vụt qua đầu, văng thẳng vào cây bồ lời làm thân cây gẫy gập. Lợi dụng luôn cú đánh hụt ấy, Hồ Ngạnh tức tốc áp sát, nhanh như chớp, chụp luôn tay Dư Đành rồi sử dụng thế lạc côn, không những hoá giải mà còn biến sức đối phương thành lực của mình, hất thẳng Dư Đành xuống bụi tre gần đó. Mắc kẹt giữa đám tre gai góc, lúc ấy, Dư Đành mới khẩn khoản xin tha và hứa từ đó không bao giờ dám về làng Thuận Truyền quậy phá nữa.

    Đệ nhất côn thư hùng đệ nhất quyền

    Năm 1924, làng võ Bình Định xuất hiện thêm một dòng võ mới đó là quyền Tàu. Người sáng lập ra dòng võ này là Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát, sinh năm 1896 tại An Thái. Tuy là người Trung Quốc nhưng gia đình Diệp Trường Phát sinh sống ở An Thái đã được mấy đời.

    Hấp thụ tinh thần thượng võ từ An Thái, 13 tuổi, Diệp Trường Phát được gia đình gửi về Trung Quốc để học võ từ các cao sức của Thiếu lâm Bắc phái. Sau 15 năm thụ giáo tại cố hương, 28 tuổi, Diệp Trường Phát trở lại An Thái mở lò dạy quyền Tàu.

    Đến giờ, dân làng An Thái vẫn truyền tai nhau chuyện thi tài giữa Sáu Tàu và đệ nhất roi Hồ Ngạnh. Bởi đó là cuộc thí võ kết bạn nên hai bên đã giao ước không gây thương tích, chỉ dùng mực ghi dấu trên y phục đối phương. Trước sự chứng kiến của nhiều môn đồ, hai ông giao kèo lấy một tuần nhang là một hiệp đấu.

    Sau hiệp đấu quyền, khán giả đếm được những vết mực trên áo hai người là như nhau, tuy thế, Hồ Ngạnh vẫn chắp tay bái phục Tàu Sáu, thừa nhận mình kém hơn một bậc. Khán giả hết sức ngạc nhiên.

    Khi ấy, Hồ Ngạnh mới giải thích, các vết mực Tàu Sáu lưu trên y phục mình có phần nhạt hơn. Điều đó chứng tỏ rằng, đường quyền thế cước của Tàu Sáu đã ở mức thượng thừa. Bởi vậy nên ông mới có thể vận hành công lực như ý muốn nên đòn ra mới nhẹ nhàng, dấu mực mới nhạt. Nếu cũng những quyền thế ấy, thi triển hết 12 thành công lực thì sức mạnh sẽ rất kinh hoàng, có thể lấy mạng người trong chớp mắt.

    Về côn, tuyệt kỹ của Hồ Ngạnh, hai bên cũng quần thảo kinh hồn. Người xem chỉ thấy tiếng gậy va vào nhau chan chát còn bóng người thì lấp loá, mờ ảo. Sau tuần nhang, Tàu Sáu thấy trên người mình nhiều vết mực hơn. Trước đông đảo mọi người, ông đã chắp tay bái phục: “Đoản côn ở Thuận Truyền chỉ có Hồ Ngạnh làm chủ!”.

    Võ sư Hồ Ngạnh - tuyệt kỹ điểm huyệt

    Posted at  tháng 11 13, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Võ sư Hồ NgạnhVõ sư Hồ Ngạnh tên thật là Hồ Nhu, ông sinh năm 1891, mất năm 1976, nguyên quán thôn Háo Ngãi, xã Bình An, sinh sống tại thôn Thuận Truyền, Bình Thuận. Cha ông là Đốc Năm (Hồ Đức Phổ), một võ quan của triều đình Huế, mẹ ông bà Lê Thị Huỳnh Hà, cũng là một người nức tiếng giỏi võ trong vùng.

    Ngay từ nhỏ, Hồ Ngạnh đã được cha mẹ truyền dạy võ công. Lớn lên, ông được gia đình gửi vào lò võ của cao sư Ba Đề, tiếp đến là Đội Sẻ, Hồ Khiêm, toàn những người nổi tiếng. Bởi thế, từ những đường roi của các cao nhân như Ba Đề, Hồ Khiêm kết hợp với nội công học được từ thầy Đội Sẻ đã tạo ra một Hồ Ngạch với những đường côn biến hoá, sâu hiểm khôn lường. Theo sự truyền tụng của giới võ lâm khi ấy, đường roi của Hồ Ngạnh là tuyệt kỹ vô song.

    Dân Bình Định đến giờ vẫn truyền tụng nhiều câu chuyện Hồ Ngạnh bị các cao thủ khiêu chiến, thậm chí cả “đánh úp” hết sức lạ lùng. Các cao nhân thử tài với Hồ Ngạnh thì nhiều lắm, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là những trận thư hùng với lực sĩ Dư Đành.

    Dư Đành là tướng cướp, về võ công thì đến cả quân lính triều đình khi nghe thấy tên cũng đã hồn xiêu phách tán. Tung hoành khắp vùng không có đối thủ, nghe tiếng Hồ Ngạnh, Dư Đành nhiều lần gửi lời khiêu chiến. Chối từ mãi không được, sau cùng Hồ Ngạch cũng phải nhận lời thách đấu. Lần ấy, Dư Đành đem lũ lâu la về tận Thuận Truyền và hống hách đưa ra điều kiện, nếu Hồ Ngạnh đấu thua thì phải gia nhập đảng cướp của y.

    Vậy là, tại bãi vắng ngay sát thôn Thuận Truyền đêm ấy, một mình Hồ Ngạnh đã đánh bại cả chục tên đệ tử của Dư Đành, vốn đều là những cao thủ võ lâm. Khi đám tay chân mỗi tên nằm một góc thì Dư Đành xuất hiện. Phải nói thêm rằng, Dư Đành có sức mạnh chẳng ai sánh kịp. Đã có lần, để diễu võ dương oai, một tay y đã cắp cả một con nghé hệt như người ta nhẹ nhàng bồng trên tay đứa trẻ.

    Với thanh đao sáng loáng trên tay, vừa xuất hiện là Dư Đành tung đòn tới tấp. Thế nhưng, với đường roi thượng thừa của mình, Hồ Ngạnh cũng chẳng hề nao núng. Đánh mãi mà vẫn không tìm được kẽ hở để “ăn sống nuốt tươi” đối phương, Dư Đành thấy máu nóng dồn lên mặt. Và khi ấy, Hồ Ngạnh mới ra đòn tuyệt kỹ…

    Tránh đòn truy hồn của đối phương, ông nhẹ nhàng tung người đá văng thanh đao cắm xuống đất, đồng thời xoay người giở đòn đánh nghịch. Biết đã vào thế hiểm, tiến thoái lưỡng nan, Dư Đành đành nhắm mắt chờ đường roi sát thủ. Thế nhưng, sau khi tiếng roi vun vút cất lên, Dư Đành đã thở phào choàng tỉnh bởi đường roi vừa chạm áo thì đối thủ đã thu về không đánh nữa.

    Trận thư hùng ấy, dù đã nợ Hồ Ngạnh một mạng nhưng Dư Đành vẫn không phục. Y rắp tâm kiếm cơ hội trả thù. Bởi thế, một chiều, đang mải mê với những chiêu thức võ thuật thì Hồ Ngạnh được mọi người báo tin, không biết ai đã đến nương sắn nhà mình và nhổ hết sắn đóng vào những giỏ lớn. Điều lạ lùng là tất cả số sắn đó, kẻ trộm không lấy mang đi mà vẫn để nguyên trên rẫy.

    Hồ Ngạnh đâu biết rằng, đó là một âm mưu của Dư Đành. Ra rẫy, thấy sắn bị nhổ, chẳng còn cách nào khác, Hồ Ngạnh đành phải quẩy những sọt sắn trĩu nặng ấy về. Vừa đi được một đoạn thì từ bụi cây bên đường, Dư Đành vọt ra với chiếc bắp cày trên tay. Chẳng nói chẳng rằng, y tung luôn một đường sát thủ.

    Nghe tiếng gió, Hồ Ngạnh vội thụt xuống, đường cày vụt qua đầu, văng thẳng vào cây bồ lời làm thân cây gẫy gập. Lợi dụng luôn cú đánh hụt ấy, Hồ Ngạnh tức tốc áp sát, nhanh như chớp, chụp luôn tay Dư Đành rồi sử dụng thế lạc côn, không những hoá giải mà còn biến sức đối phương thành lực của mình, hất thẳng Dư Đành xuống bụi tre gần đó. Mắc kẹt giữa đám tre gai góc, lúc ấy, Dư Đành mới khẩn khoản xin tha và hứa từ đó không bao giờ dám về làng Thuận Truyền quậy phá nữa.

    Đệ nhất côn thư hùng đệ nhất quyền

    Năm 1924, làng võ Bình Định xuất hiện thêm một dòng võ mới đó là quyền Tàu. Người sáng lập ra dòng võ này là Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát, sinh năm 1896 tại An Thái. Tuy là người Trung Quốc nhưng gia đình Diệp Trường Phát sinh sống ở An Thái đã được mấy đời.

    Hấp thụ tinh thần thượng võ từ An Thái, 13 tuổi, Diệp Trường Phát được gia đình gửi về Trung Quốc để học võ từ các cao sức của Thiếu lâm Bắc phái. Sau 15 năm thụ giáo tại cố hương, 28 tuổi, Diệp Trường Phát trở lại An Thái mở lò dạy quyền Tàu.

    Đến giờ, dân làng An Thái vẫn truyền tai nhau chuyện thi tài giữa Sáu Tàu và đệ nhất roi Hồ Ngạnh. Bởi đó là cuộc thí võ kết bạn nên hai bên đã giao ước không gây thương tích, chỉ dùng mực ghi dấu trên y phục đối phương. Trước sự chứng kiến của nhiều môn đồ, hai ông giao kèo lấy một tuần nhang là một hiệp đấu.

    Sau hiệp đấu quyền, khán giả đếm được những vết mực trên áo hai người là như nhau, tuy thế, Hồ Ngạnh vẫn chắp tay bái phục Tàu Sáu, thừa nhận mình kém hơn một bậc. Khán giả hết sức ngạc nhiên.

    Khi ấy, Hồ Ngạnh mới giải thích, các vết mực Tàu Sáu lưu trên y phục mình có phần nhạt hơn. Điều đó chứng tỏ rằng, đường quyền thế cước của Tàu Sáu đã ở mức thượng thừa. Bởi vậy nên ông mới có thể vận hành công lực như ý muốn nên đòn ra mới nhẹ nhàng, dấu mực mới nhạt. Nếu cũng những quyền thế ấy, thi triển hết 12 thành công lực thì sức mạnh sẽ rất kinh hoàng, có thể lấy mạng người trong chớp mắt.

    Về côn, tuyệt kỹ của Hồ Ngạnh, hai bên cũng quần thảo kinh hồn. Người xem chỉ thấy tiếng gậy va vào nhau chan chát còn bóng người thì lấp loá, mờ ảo. Sau tuần nhang, Tàu Sáu thấy trên người mình nhiều vết mực hơn. Trước đông đảo mọi người, ông đã chắp tay bái phục: “Đoản côn ở Thuận Truyền chỉ có Hồ Ngạnh làm chủ!”.

    Võ sư Phạm Cô GiaPhạm Cô Gia (1900-2005) là lão võ sư chưởng môn Phạm Gia võ phái.

    Nữ lão võ sư Phạm Cô Gia tên thật là Phạm Gia, chào đời tại Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) trong một gia đình 3 đời theo nghiệp võ. Ông nội của bà – Phạm Tăng Điều – là quan võ triều Nguyễn và cha là Phạm Tăng Đại – một nhân vật khá nổi danh trong làng võ thời trước. Là con gái duy nhất trong gia đình có 4 anh em, lúc nhỏ tính khí bà như con trai, rất ham thích võ thuật.




    Chính vì thế, bà đã được thân phụ trực tiếp hướng dẫn từng đường quyền, ngọn cước từ lúc mới vừa lên 9 tuổi. Lớn lên, bà còn nghiên cứu vài môn võ khác như: quyền Anh, Bình Định… để làm phong phú sở học của mình cũng như tham dự nhiều cuộc biểu diễn.

    Năm 1940, bà kết hợp các tinh hoa từ võ học gia đình, võ học cổ truyền và từ sáng tạo riêng mình để lập nên võ phái Phạm Gia. Năm 1945, bà tham gia kháng chiến chống Pháp, vừa dạy võ để che mắt quân Pháp vừa làm nhiệm vụ một lính biệt động thành. Bà bị đối phương bắt giam 12 lần, cả 12 lần bà đều vượt ngục thành công.

    Năm 1990, khi Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam thành lập, bà gia nhập làng võ thuật Việt Nam với vai trò là thành viên Ban Cố vấn đầu tiên của Liên đoàn. Sau đó, bà trở thành Trưởng ban Cố vấn Liên đoàn kiêm thành viên ban Cố vấn Hội võ thuật cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh khi đã ngoài trăm tuổi.

    Hơn nửa thế kỷ, võ phái Phạm Gia của bà đã truyền bá võ thuật cho hàng ngàn võ sinh. Còn những khi không bận rộn với chuyện võ, bà lại lặng lẽ ngồi trên chiếc sạp gỗ nơi góc chợ Nhỏ, Thủ Đức, TP.HCM, bày bán cốc, ổi, me ngào, bánh kẹo… bên cạnh căn nhà không quá 20 mét vuông của bà, lợp tôn thấp lè tè, chỉ đủ đặt một chiếc giường nhỏ, một bàn thờ tổ và một vài thứ vật dụng khác.

    Đầu năm 2000, cùng nhiều lão võ sư khác, bà hiến tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh (TP.HCM) cặp song kiếm gia truyền (cán bằng gỗ mun) hơn trăm tuổi. Đây là binh khí gắn bó với bà từ mấy chục năm nay và bà thường dùng để biểu diễn các bài Tứ linh kiếm, Mai hoa kiếm.

    Thổ lộ với chúng tôi, bà vẫn còn canh cánh bên lòng một nỗi trăn trở: “Tôi có 2 nguyện vọng. Một là thực hiện Long môn trận (do phụ thân bà lập trận tại 18 thôn vườn trầu ở Hóc Môn xưa kia), quy tụ khoảng 100 võ sĩ tham gia để thực hiện một con rồng mà đôi mắt là cặp song chùy, 2 tai (cặp song phủ), 2 sừng (cặp siêu), lưỡi rồng (lá cờ đỏ), 4 răng nanh (4 thanh kiếm), 2 sợi râu dài (cặp thiết tiên), 4 chân (4 độc kiếm), đuôi rồng (cây kích) cùng 36 lăn khiên tượng trưng cho vẩy rồng.

    Hai là, tôi ước ao có một ngày nào đó cùng với các lão võ sư trong cả nước trao đổi, nghiên cứu tinh hoa của võ cổ truyền Việt Nam, tìm hiểu sâu sắc các binh khí mà cha ông ta từng sử dụng để đánh đuổi giặc ngoại xâm, sau đó ghi hình và in thành sách lưu lại cho hậu thế”.

    12 giờ ngày 20-11-2005, nữ lão võ sư Phạm Cô Gia – bậc tiền bối trong làng võ thuật cổ truyền Việt Nam – đã từ giã cõi trần, hưởng thọ 105 tuổi. Nhìn bà nằm xuôi tay, gương mặt thanh thản như đang chìm vào giấc ngủ sâu, đông đảo dân làng võ và thân hữu đến viếng tang không khỏi bùi ngùi, thương tiếc một con người suốt đời gắn bó và tôn vinh võ cổ truyền dân tộc.

    Với những đóng góp tích cực cho làng võ cổ truyền Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng, bà đã được Ủy ban TDTT tặng thưởng Huy chương “Vì sự nghiệp TDTT”, Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam trao tặng huy chương vàng danh dự…

    Võ sư Phạm Cô Gia chưởng môn Phạm Gia võ phái

    Posted at  tháng 11 13, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Võ sư Phạm Cô GiaPhạm Cô Gia (1900-2005) là lão võ sư chưởng môn Phạm Gia võ phái.

    Nữ lão võ sư Phạm Cô Gia tên thật là Phạm Gia, chào đời tại Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) trong một gia đình 3 đời theo nghiệp võ. Ông nội của bà – Phạm Tăng Điều – là quan võ triều Nguyễn và cha là Phạm Tăng Đại – một nhân vật khá nổi danh trong làng võ thời trước. Là con gái duy nhất trong gia đình có 4 anh em, lúc nhỏ tính khí bà như con trai, rất ham thích võ thuật.




    Chính vì thế, bà đã được thân phụ trực tiếp hướng dẫn từng đường quyền, ngọn cước từ lúc mới vừa lên 9 tuổi. Lớn lên, bà còn nghiên cứu vài môn võ khác như: quyền Anh, Bình Định… để làm phong phú sở học của mình cũng như tham dự nhiều cuộc biểu diễn.

    Năm 1940, bà kết hợp các tinh hoa từ võ học gia đình, võ học cổ truyền và từ sáng tạo riêng mình để lập nên võ phái Phạm Gia. Năm 1945, bà tham gia kháng chiến chống Pháp, vừa dạy võ để che mắt quân Pháp vừa làm nhiệm vụ một lính biệt động thành. Bà bị đối phương bắt giam 12 lần, cả 12 lần bà đều vượt ngục thành công.

    Năm 1990, khi Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam thành lập, bà gia nhập làng võ thuật Việt Nam với vai trò là thành viên Ban Cố vấn đầu tiên của Liên đoàn. Sau đó, bà trở thành Trưởng ban Cố vấn Liên đoàn kiêm thành viên ban Cố vấn Hội võ thuật cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh khi đã ngoài trăm tuổi.

    Hơn nửa thế kỷ, võ phái Phạm Gia của bà đã truyền bá võ thuật cho hàng ngàn võ sinh. Còn những khi không bận rộn với chuyện võ, bà lại lặng lẽ ngồi trên chiếc sạp gỗ nơi góc chợ Nhỏ, Thủ Đức, TP.HCM, bày bán cốc, ổi, me ngào, bánh kẹo… bên cạnh căn nhà không quá 20 mét vuông của bà, lợp tôn thấp lè tè, chỉ đủ đặt một chiếc giường nhỏ, một bàn thờ tổ và một vài thứ vật dụng khác.

    Đầu năm 2000, cùng nhiều lão võ sư khác, bà hiến tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh (TP.HCM) cặp song kiếm gia truyền (cán bằng gỗ mun) hơn trăm tuổi. Đây là binh khí gắn bó với bà từ mấy chục năm nay và bà thường dùng để biểu diễn các bài Tứ linh kiếm, Mai hoa kiếm.

    Thổ lộ với chúng tôi, bà vẫn còn canh cánh bên lòng một nỗi trăn trở: “Tôi có 2 nguyện vọng. Một là thực hiện Long môn trận (do phụ thân bà lập trận tại 18 thôn vườn trầu ở Hóc Môn xưa kia), quy tụ khoảng 100 võ sĩ tham gia để thực hiện một con rồng mà đôi mắt là cặp song chùy, 2 tai (cặp song phủ), 2 sừng (cặp siêu), lưỡi rồng (lá cờ đỏ), 4 răng nanh (4 thanh kiếm), 2 sợi râu dài (cặp thiết tiên), 4 chân (4 độc kiếm), đuôi rồng (cây kích) cùng 36 lăn khiên tượng trưng cho vẩy rồng.

    Hai là, tôi ước ao có một ngày nào đó cùng với các lão võ sư trong cả nước trao đổi, nghiên cứu tinh hoa của võ cổ truyền Việt Nam, tìm hiểu sâu sắc các binh khí mà cha ông ta từng sử dụng để đánh đuổi giặc ngoại xâm, sau đó ghi hình và in thành sách lưu lại cho hậu thế”.

    12 giờ ngày 20-11-2005, nữ lão võ sư Phạm Cô Gia – bậc tiền bối trong làng võ thuật cổ truyền Việt Nam – đã từ giã cõi trần, hưởng thọ 105 tuổi. Nhìn bà nằm xuôi tay, gương mặt thanh thản như đang chìm vào giấc ngủ sâu, đông đảo dân làng võ và thân hữu đến viếng tang không khỏi bùi ngùi, thương tiếc một con người suốt đời gắn bó và tôn vinh võ cổ truyền dân tộc.

    Với những đóng góp tích cực cho làng võ cổ truyền Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng, bà đã được Ủy ban TDTT tặng thưởng Huy chương “Vì sự nghiệp TDTT”, Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam trao tặng huy chương vàng danh dự…

    Tiểu sử và sự nghiệp

    Hồ Hoa Huệ tên thật là Nguyễn Thị Kim Xoa, sinh năm 1944 tại quê ngoại thuộc tỉnh Tiền Giang. Quê nội bà ở Bình Định, cái nôi của võ cổ truyền miền Trung và là nơi khởi phát, khẳng định danh tiếng của anh em nhà Tây Sơn. Bà mồ côi cha từ năm lên 2 tuổi, được ông nội đón về Bình Định nuôi dưỡng. Từ năm lên 5 tuổi bà bắt đầu học võ mà thầy dạy đầu tiên chính là ông nội, một võ sư phái Tây Sơn Bình Định. Đến năm lên 10 thì ông nội chỗ dựa lớn nhất của bà lúc đấy qua đời. Bà phiêu bạt lên Tây Nguyên và được thụ giáo võ sư Phạm Đồng tại đây.

    Được ít lâu bà theo mẹ xuôi về Mỹ Tho nhưng rồi cuộc sống lại buộc bà phải lộn ngược lên Sài Gòn, di chuyển chỗ ở liên tục từ quận 4, qua quận 8, xuống quận 10. Cái cực của đời bà là phải dịch chuyển rất nhiều, nhưng đó cũng là duyên may vì nhờ vậy bà được gặp và thọ giáo những võ sư kỳ tài của nhiều môn phái. Đặc biệt, năm được 14 tuổi, bà trở thành môn sinh của võ sư Từ Thiện (tức Hồ Văn Lành), chưởng môn phái Tân Khánh Bà Trà, và từ lúc này bà mới mang tên Hồ Hoa Huệ.



    Võ sư Hồ Hoa Huệ

    Đến tuổi tam thập, Hồ Hoa Huệ mở lớp truyền thụ võ học ở đất Tiền Giang. Năm 41 tuổi, bà quay trở lại thành phố Hồ Chí Minh và chính thức khai lập môn phái Tinh Võ Đạo với mong ước gìn giữ, lưu truyền cho đời sau những tinh hoa võ cổ truyền dân tộc.

    Từ đó đến nay, bà trở thành hội viên của Hiệp hội Võ thuật cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh và hiện tại là Ủy viên Ban chấp hành Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam, thành viên của Ban tổ chức phụ trách chuyên môn và đối ngoại của Liên đoàn. Bà đang đào tạo các lớp võ sư, huấn luyện viên nòng cốt của môn phái Tinh Võ Đạo tại võ đường riêng của mình ở quận 7 và mở nhiều lớp cho các võ sinh tập luyện tại một số trung tâm thể dục thể thao, nhà văn hóa thiếu nhi quận tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Thành tích

    Là một người phụ nữ có nét mặt phúc hậu, nhẹ nhàng và phong thái quý tộc, nhưng nữ võ sư Hồ Hoa Huệ đã từng đoạt giải vô địch tại liên hoan võ cổ truyền toàn quốc và là người phụ nữ đầu tiên dạy võ Việt Nam ở châu Âu, đồng thời được Liên đoàn Karate trao chứng chỉ võ sư đệ ngũ đẳng.

    Trước 1975 Hồ Hoa Huệ đã từng giành được nhiều chiến thắng tại các giải đấu. Từ 1996 đến 1999 trong 4 năm liên tiếp bà đạt ngôi vô địch kỹ thuật võ cổ truyền toàn quốc hạng tuổi 50-60.

    Ý nguyện lớn nhất của Hồ Hoa Huệ nhằm phát triển võ thuật Việt Nam ra thế giới là tạo điều kiện tốt cho các võ sư truyền bá môn võ truyền thống của dân tộc Việt Nam, tổ chức được các chương trình festival võ thuật thu hút các võ sư nước ngoài đến Việt Nam nhằm giao lưu giữa các môn võ của các dân tộc trên thế giới và Việt Nam. Với tâm nguyện đó, nữ võ sư từng nhiều lần lưu diễn và giảng dạy tại nước ngoài, mang võ Việt Nam “xuất khẩu” qua 15 nước châu Âu và châu Phi.

    Đặc biệt, nhân lễ kỷ niệm 300 năm Sài Gòn-thành phố Hồ Chí Minh do Hội người Việt Nam tại Pháp tổ chức tại Paris tháng 11 năm 1998, tất cả những người tham dự đều rất xúc động khi giáo sư Trần Văn Khê, một học giả nổi tiếng chuyên nghiên cứu âm nhạc Việt Nam truyền thống, đã đánh rơi gậy và ôm choàng lấy Hồ Hoa Huệ sau khi bà kết thúc bài biểu diễn có tên Đại đao Lý Thường Kiệt. Sau đó giáo sư đã đọc bài thơ Nam quốc sơn hà dành tặng cho nữ võ sư và đông đảo khán giả. Trong một tháng rưỡi có mặt ở Paris sau đó, Hồ Hoa Huệ đã từng nhiều lần trình diễn và hướng dẫn các võ sinh tại một số trường dạy võ thuộc Hiệp hội quốc tế võ đạo Việt Nam và Hội võ Kempo. Tại Nice, một thành phố biển lộng lẫy của nước Pháp, sau khi bà xuất hiện thì Trần Hoài Ngọc, chưởng môn phái Cửu Long võ đạo đã bái tổ dâng luôn kiếm lệnh của môn phái mà ông đã gây dựng trước đó 18 năm cho bà điều hành. Tại Thụy Sĩ, Huỳnh Đại Hải cũng đã mời Hồ Hoa Huệ đứng lớp một khóa huấn luyện các thế chiến đấu kéo dài 45 ngày cho 42 vệ sĩ chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ tại các ngân hàng.

    Rời khỏi Pháp, bà lại trở thành đại sứ của võ cổ truyền dân tộc Việt Nam mang thông điệp và tâm nguyện chấn hưng võ thuật dân tộc tới cộng đồng người Việt ở Bỉ, Italia, Hà Lan, Đức và hầu khắp các tỉnh thành của Ma rốc.
    Sau những nỗ lực cống hiến nhiệt thành cho võ cổ truyền và sự thành công trong võ nghiệp, vào năm 2000, vị nữ chưởng môn Tinh võ đạo Việt Nam này được tạp chí võ thuật của Pháp bầu chọn là “Người đàn bà vàng” .

    Thông tin thêm

    Trong cuộc đời ruổi rong mưu sinh, Hồ Hoa Huệ đã từng là chủ một tiệm vàng ở thành phố. Không chỉ có vậy, ít người biết rằng bà còn có giai đoạn làm trưởng đoàn cải lương Bình Minh 78 với các nghệ sĩ Minh Vương, Thanh Tuấn, Hoài Thanh, Diệu Hiền, Lệ Thủy. Yêu thích nghe những làn điệu vọng cổ, bà đã sáng tác đến hơn 200 bài cho các nghệ sĩ thể hiện, đặc biệt trong đó có tuyển tập Bến nước hẹn hò.

    Nữ Võ sư Hồ Hoa Huệ nghệ sỹ Bến nước hẹn hò

    Posted at  tháng 11 13, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Tiểu sử và sự nghiệp

    Hồ Hoa Huệ tên thật là Nguyễn Thị Kim Xoa, sinh năm 1944 tại quê ngoại thuộc tỉnh Tiền Giang. Quê nội bà ở Bình Định, cái nôi của võ cổ truyền miền Trung và là nơi khởi phát, khẳng định danh tiếng của anh em nhà Tây Sơn. Bà mồ côi cha từ năm lên 2 tuổi, được ông nội đón về Bình Định nuôi dưỡng. Từ năm lên 5 tuổi bà bắt đầu học võ mà thầy dạy đầu tiên chính là ông nội, một võ sư phái Tây Sơn Bình Định. Đến năm lên 10 thì ông nội chỗ dựa lớn nhất của bà lúc đấy qua đời. Bà phiêu bạt lên Tây Nguyên và được thụ giáo võ sư Phạm Đồng tại đây.

    Được ít lâu bà theo mẹ xuôi về Mỹ Tho nhưng rồi cuộc sống lại buộc bà phải lộn ngược lên Sài Gòn, di chuyển chỗ ở liên tục từ quận 4, qua quận 8, xuống quận 10. Cái cực của đời bà là phải dịch chuyển rất nhiều, nhưng đó cũng là duyên may vì nhờ vậy bà được gặp và thọ giáo những võ sư kỳ tài của nhiều môn phái. Đặc biệt, năm được 14 tuổi, bà trở thành môn sinh của võ sư Từ Thiện (tức Hồ Văn Lành), chưởng môn phái Tân Khánh Bà Trà, và từ lúc này bà mới mang tên Hồ Hoa Huệ.



    Võ sư Hồ Hoa Huệ

    Đến tuổi tam thập, Hồ Hoa Huệ mở lớp truyền thụ võ học ở đất Tiền Giang. Năm 41 tuổi, bà quay trở lại thành phố Hồ Chí Minh và chính thức khai lập môn phái Tinh Võ Đạo với mong ước gìn giữ, lưu truyền cho đời sau những tinh hoa võ cổ truyền dân tộc.

    Từ đó đến nay, bà trở thành hội viên của Hiệp hội Võ thuật cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh và hiện tại là Ủy viên Ban chấp hành Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam, thành viên của Ban tổ chức phụ trách chuyên môn và đối ngoại của Liên đoàn. Bà đang đào tạo các lớp võ sư, huấn luyện viên nòng cốt của môn phái Tinh Võ Đạo tại võ đường riêng của mình ở quận 7 và mở nhiều lớp cho các võ sinh tập luyện tại một số trung tâm thể dục thể thao, nhà văn hóa thiếu nhi quận tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Thành tích

    Là một người phụ nữ có nét mặt phúc hậu, nhẹ nhàng và phong thái quý tộc, nhưng nữ võ sư Hồ Hoa Huệ đã từng đoạt giải vô địch tại liên hoan võ cổ truyền toàn quốc và là người phụ nữ đầu tiên dạy võ Việt Nam ở châu Âu, đồng thời được Liên đoàn Karate trao chứng chỉ võ sư đệ ngũ đẳng.

    Trước 1975 Hồ Hoa Huệ đã từng giành được nhiều chiến thắng tại các giải đấu. Từ 1996 đến 1999 trong 4 năm liên tiếp bà đạt ngôi vô địch kỹ thuật võ cổ truyền toàn quốc hạng tuổi 50-60.

    Ý nguyện lớn nhất của Hồ Hoa Huệ nhằm phát triển võ thuật Việt Nam ra thế giới là tạo điều kiện tốt cho các võ sư truyền bá môn võ truyền thống của dân tộc Việt Nam, tổ chức được các chương trình festival võ thuật thu hút các võ sư nước ngoài đến Việt Nam nhằm giao lưu giữa các môn võ của các dân tộc trên thế giới và Việt Nam. Với tâm nguyện đó, nữ võ sư từng nhiều lần lưu diễn và giảng dạy tại nước ngoài, mang võ Việt Nam “xuất khẩu” qua 15 nước châu Âu và châu Phi.

    Đặc biệt, nhân lễ kỷ niệm 300 năm Sài Gòn-thành phố Hồ Chí Minh do Hội người Việt Nam tại Pháp tổ chức tại Paris tháng 11 năm 1998, tất cả những người tham dự đều rất xúc động khi giáo sư Trần Văn Khê, một học giả nổi tiếng chuyên nghiên cứu âm nhạc Việt Nam truyền thống, đã đánh rơi gậy và ôm choàng lấy Hồ Hoa Huệ sau khi bà kết thúc bài biểu diễn có tên Đại đao Lý Thường Kiệt. Sau đó giáo sư đã đọc bài thơ Nam quốc sơn hà dành tặng cho nữ võ sư và đông đảo khán giả. Trong một tháng rưỡi có mặt ở Paris sau đó, Hồ Hoa Huệ đã từng nhiều lần trình diễn và hướng dẫn các võ sinh tại một số trường dạy võ thuộc Hiệp hội quốc tế võ đạo Việt Nam và Hội võ Kempo. Tại Nice, một thành phố biển lộng lẫy của nước Pháp, sau khi bà xuất hiện thì Trần Hoài Ngọc, chưởng môn phái Cửu Long võ đạo đã bái tổ dâng luôn kiếm lệnh của môn phái mà ông đã gây dựng trước đó 18 năm cho bà điều hành. Tại Thụy Sĩ, Huỳnh Đại Hải cũng đã mời Hồ Hoa Huệ đứng lớp một khóa huấn luyện các thế chiến đấu kéo dài 45 ngày cho 42 vệ sĩ chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ tại các ngân hàng.

    Rời khỏi Pháp, bà lại trở thành đại sứ của võ cổ truyền dân tộc Việt Nam mang thông điệp và tâm nguyện chấn hưng võ thuật dân tộc tới cộng đồng người Việt ở Bỉ, Italia, Hà Lan, Đức và hầu khắp các tỉnh thành của Ma rốc.
    Sau những nỗ lực cống hiến nhiệt thành cho võ cổ truyền và sự thành công trong võ nghiệp, vào năm 2000, vị nữ chưởng môn Tinh võ đạo Việt Nam này được tạp chí võ thuật của Pháp bầu chọn là “Người đàn bà vàng” .

    Thông tin thêm

    Trong cuộc đời ruổi rong mưu sinh, Hồ Hoa Huệ đã từng là chủ một tiệm vàng ở thành phố. Không chỉ có vậy, ít người biết rằng bà còn có giai đoạn làm trưởng đoàn cải lương Bình Minh 78 với các nghệ sĩ Minh Vương, Thanh Tuấn, Hoài Thanh, Diệu Hiền, Lệ Thủy. Yêu thích nghe những làn điệu vọng cổ, bà đã sáng tác đến hơn 200 bài cho các nghệ sĩ thể hiện, đặc biệt trong đó có tuyển tập Bến nước hẹn hò.

    Võ sư Trần Tiến sinh ngày 04 tháng 02 năm 1911 (Tân Hợi) tại Cầu Vòng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Năm 1913, cụ Hoàng Hoa Thám qua đời, nghĩa quân tan rã; ông nội và bố mẹ Trần Tiến phải thay tên đổi họ, lẩn tránh về thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Trần Tiến được bố khai sinh lại: ngày 04.02.1913. Sinh trưởng trong gia đình có truyền thống võ nghệ, Trần Tiến được ông nội khai tâm võ học lúc 10 tuổi. Hai năm sau, ông Trần Tiến qua đời, Trần Tiến được thân phụ truyền dạy tiếp. Từ 15-20 tuổi, Trần Tiến học Thiếu Lâm với thầy Lý Giang Nam – quê ở Phúc Kiến (Trung Quốc), chạy sang Hải Phòng lánh nạn. Những năm sau, Trần Tiến tập Nhu thuật cùng ông Tanabe (Nhật), Judo với ông Karachi (Nhật) và luyện cả quyền Anh cùng võ sĩ Lafleur (người Pháp gốc Phi).Tuổi thanh niên sôi nổi lại biết võ nghệ, Trần Tiến đã tham gia nhiều cuộc so tài về roi và kiếm ở miền Bắc trong 6 tháng đầu năm 1936. Nhưng đến tháng 8.1936, Trần Tiến buộc lòng phải rời xa quê hương vào miền Nam do bị thực dân Pháp đe dọa bắt giam vì “xách động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự”. Đến Sài Gòn, Trần Tiến tạm dừng bước và luyện tập tại Cercle Sportif Saigonnais (nay là Cung văn hóa lao động Tp. HCM) và sau đó hoạt động võ thuật ở nhiều nơi…


    Võ sư Trần Tiến

    Năm 1943, Trần Tiến dạy thể dục tại đồn điền cao su Đất Đỏ (Plantation Terre Rouge de l’Indochine) ở Kompong Cham (Campuchia). Công nhân nơi đây phần lớn là người Việt từ miền Bắc sang. Trong thời gian làm việc, Trần Tiến đươc tên chủ đồn điền người Pháp “quý mến” vì đã giúp công nhân có sức khỏe để “làm việc suốt ngày đêm”. Thật lòng, lúc đó Trần Tiến chưa biết gì về sự bóc lột của bọn chủ nhân tư bản cũng như không hiểu mình đang bị lợi dụng. Mãi đến cuối năm 1945, trong một lần nghỉ phép, Trần Tiến trở ra Hà Nội, đau lòng trước cảnh nhân dân chết đói quá thê thảm và được Việt Minh kêu gọi, Trần Tiến đã tham gia bộ đội vào đầu năm 1946. Mây năm đầu, Trần Tiến huấn luyện võ thuật cho “Bộ đội đặc biệt tinh nhuệ” (năm 1967 cải danh là đặc công). Những năm sau, tuy đảm nhận nhiệm vụ khác nhưng Trần Tiến vẫn thường xuyên luyện võ và dạy võ cho mọi người khi có điều kiện. Sau 32 năm phục vụ trong quân ngũ, Trần Tiến nghỉ hưu vào năm 1978. Thế nhưng đến cuối năm 1981, Trần Tiến còn tự nguyện sang huấn luyện võ thuật định kỳ cho một số sĩ quan quân đội nhân dân cách mạng Campuchia và mãi đến 20.09.1989 mới về nghỉ hẳn tại Tp. HCM.

    Sẵn vốn liếng võ cổ truyền Việt Nam cộng với tinh hoa võ thuật của các tông phái Trung Quốc và Nhật Bản… cùng kinh nghiệm dạy võ trong quân đội, lão võ sư Trần Tiến đã tinh lọc và đúc kết thành võ phái Thiếu Lâm nội gia võ thuật đạo Việt Nam và phổ biến tại Trung tâm TDTT quốc phòng 2, Nhà bảo tàng không quân phía Nam… Học trò của ông có cả người Mỹ, Pháp, Ý, Nga, Brazil…
    Vị cao thủ ấy chính là cố võ sư Trần Tiến – chưởng môn võ phái Thiếu Lâm Nội gia quyền Việt Nam, người được ca ngợi là “đệ nhất” làng võ Việt.

    Võ lâm khuynh đảo

    Theo nhiều huynh đệ làng võ thì trong số các võ sư hàng đầu Việt Nam ở thế kỷ 20, Trần Tiến xứng đáng được đứng ngôi đầu.

    Võ sư Phan Dương Bình, một cao đồ Vovinam và Vịnh Xuân quyền cũng đã liệt Trần Tiến vào vị trí “đệ nhất” cao thủ làng võ Việt Nam.

    Trần Tiến (1911-2011) vốn mang họ Hoàng, gốc Bắc Giang nhưng khi nghĩa quân Yên Thế tan rã, ông nội Hoàng Hảo và người cha Hoàng Tân đã phải thay tên đổi họ, lẩn tránh về Đồ Sơn (Hải Phòng).

    Trần Tiến được khai tâm võ học từ năm 10 tuổi. Một hôm, ba lính Pháp xông vào cướp kho đường do cha Trần Tiến cai quản.

    Cha con Trần Tiến lao ra chống trả quyết liệt, nhưng sức vóc hai cha con không thể nào chống nổi toán lính to lớn.

    Đang yếu thế, bất ngờ một bóng người bay vụt vào. Chỉ trong chớp mắt, người này tung ra mấy cú liên hoàn cước đá văng cả ba tên lính ra đường.

    Người nghĩa hiệp đó xoa đầu khen Trần Tiến: “Cậu bé nhỏ tuổi mà có dũng khí. Nếu cậu có chí luyện võ, đến chùa gặp ta”.

    Ngay tối đó, cậu bé Trần Tiến tìm đến ngôi chùa cổ, cậu mới biết ân nhân của cha con mình chính là võ sư Lý Giang Nam, một cao thủ Thiếu Lâm Nam phái, bị Nhật truy lùng nên bỏ quê hương Phúc Kiến – Trung Quốc sang Việt Nam lánh nạn.

    Kể từ đó, Trần Tiến bái võ sư Lý Giang Nam làm sư phụ. Thấy đệ tử có thiên chất, sư phụ đã truyền thụ hết những tuyệt kỹ Thiếu Lâm nội gia cho Trần Tiến.

    Sau khi sư phụ hồi hương, Trần Tiến tiếp tục thụ giáo nhiều môn võ khác nhau với nhiều võ như danh tiếng như học Nhu thuật với võ sư Tanabe (Nhật), Judo với võ sư Karachi (Nhật) và quyền Anh cùng võ sĩ Lafleur (người Pháp gốc Phi).


    Võ sư Trần Tiến truyền thụ võ công cho đồ đệ.
    Với căn cơ võ công và sự khổ luyện, ông sớm trở thành một cao thủ khi còn rất trẻ.

    Năm 24 tuổi, Trần Tiến đoạt chức vô địch kiếm thuật Bắc kỳ. Chưa dừng lại, gót chân Trần Tiến còn lang bạt khắp giang hồ, ở đâu có võ đài lớn nhất là đều ghi dấu chân của ông.

    Năm 1936, do bị giặc Pháp săn đuổi vì lý do “kích động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự” nên võ sư Trần Tiến phải khăn gói vào Nam.

    Quãng thời gian này, bởi mưu sinh và sự hiếu thắng của tuổi trẻ nên võ sư Trần Tiến đã rất nhiều lần thượng đài ở khắp các võ đài từ Bắc – Trung – Nam.


    Ông còn chinh chiến ở khắp các nước Đông Nam Á với nhiều đối thủ khác nhau và đều giành phần thắng

    Ông tham gia thượng đài và đánh hạ các đối thủ sừng sỏ ở nhiều võ đài tại các nước Thái Lan, Philippines, Malaysia, Myanmar, Singapore và cả Hồng Kông khiến quá nhiều cao thủ phải khiếp sợ và thán phục.

    Bí quyết để trở thành nhà vô địch của Trần Tiến, ngoài trình độ võ công thượng thừa, quan trọng còn phải biết sở trường, sở đoản của từng đối thủ để có đòn thế khắc chế và có đấu pháp hợp lý.

    Trận tử chiến cuối cùng với Tiểu Lâm Xung

    Theo võ sư Trần Tiến từng kể lại thì trận thượng đài đáng nhớ nhất và cũng chính là trận chiến cuối cùng của ông diễn ra trên đất Singapore.

    Sau khi đả bại loại hàng loạt các đấu thủ, trận cuối cùng ông gặp một đối thủ là võ sĩ người bản địa có biệt hiệu là Tiểu Lâm Xung.

    Đây là võ sĩ cao lớn như hộ pháp nhưng lại có thân hình rất rắn chắc, được ví là một lực sĩ.

    Cao thủ này là bậc thầy về ngạnh công, có thể đưa ngực, bụng chịu những cú đấm đá như trời giáng mà không hề hấn gì.

    Tiểu Lâm Xung còn có bàn tay mệnh danh “thiết thủ” có thể đấm vỡ tấm gỗ dày 5 phân. Khi đã thấm mệt, chỉ một đòn là Tiểu Lâm Xung cũng có thể khiến cho đối thủ phải bỏ mạng.


    Võ sư Trần Tiến trong một buổi lễ bái sư.
    Trước trận quyết đấu với Trần Tiến, Tiểu Lâm Xung đã thề sẽ đánh gục võ sĩ người Việt để “rửa hận” cho những người Singapore từng bại trận.

    Trận tử chiến cuối cùng cũng đến. Trận đấu được qui định trong 8 hiệp, mỗi hiệp dài 3 phút. Các võ sĩ chỉ bị cấm đánh xòe tay, còn đòn hiểm như cùi chỏ, đầu gối đều được sử dụng và không mặc áo giáp bảo hộ.

    Bước lên võ đài đài, với “bàn tay sắt” sở trường, Tiểu Lâm Xung đã thị uy, tung những cú đấm sấm sét của mình vào những tấm gỗ dày đến 5 cm khiến chúng vỡ tan.

    Xong, anh ta quay sang hỏi Trần Tiến có thi chặt ván với mình không. Trần Tiến chỉ im lặng lắc đầu. Tiểu Lâm Xung hỏi tiếp: “Vậy thì tự xin thua đi”.

    Trần Tiến vẫn chỉ lắc đầu. Tiếng chuông báo hiệp một vang lên, hai võ sĩ bước vào trận chiến.

    Cậy sức, Tiểu Lâm Xung tới tấp tung đòn mãnh liệt, Trần Tiến buộc phải lui vào thế phòng ngự, thỉnh thoảng mới tìm cách phản công.

    Tiểu Lâm Xung ra hổ quyền thì Trần Tiến dùng hầu quyền để tránh. Tiểu Lâm Xung tiếp tục tung xà quyền, Trần Tiến lại khống chế bằng hạc quyền.

    Bốn hiệp đấu trôi qua, võ sĩ người Việt vẫn chưa có được một đường tấn công đáng kể. Còn Tiểu Lâm Xung càng đánh càng hưng phấn, ham công và để lộ những sơ hở.

    Trong khoảnh khắc chủ quan khinh địch của đối thủ, Trần Tiến bất ngờ hạ thấp tấn pháp, trườn người nhập nội như con rắn và bật ngược lên tung đòn “xà vương phún khí” hiểm hóc đúng vào hạ bộ đối thủ.

    Trong chớp mắt, Tiểu Lâm Xung rũ người đổ ập xuống lăn lộn, rồi bất tỉnh. Cả khán đài sững sờ không hiểu chuyện gì xảy ra.

    Chính Trần Tiến cũng bàng hoàng không hiểu tại sao mình ra đòn hiểm này. Ông lặng lẽ cúi xuống xem Tiểu Lâm Xung bị thương thế nào. Miếng bảo hộ vùng hạ bộ của anh ta đã bị vỡ vì cú đánh quá mạnh.

    Thấy Tiểu Lâm Xung nằm bất động không thể thi đấu, trọng tài nắm tay Trần Tiến giơ lên cao, tuyên bố phần thắng bất ngờ đã thuộc về võ sĩ người Việt.

    Thế nhưng, trong khoảnh khắc vinh quang ấy, thấy Tiểu Lâm Xung nằm bất động trên sàn, Trần Tiến bỗng thấy ăn năn, day dứt. Ông rút tay lại, chắp bái xin lỗi rồi tự nhận phần thua cuộc.

    Trần Tiến lặng lẽ cúi đầu rời võ đài trong tiếng huýt sáo phản đối của những kẻ thua cược và cả tiếng vỗ tay của những người cảm phục khí khái ông.

    Thật ra, đòn ấy với võ đài tự do thì chẳng có gì là sai luật, thế nhưng với tinh thần võ đạo, cú đánh ấy lại là cấm kỵ bởi tính sát thủ tàn khốc.

    Với Trần Tiến, sau đòn hiểm độc trong tình huống một mất một còn, suốt đêm hôm đó ông không tài nào chợp mắt nổi.

    Nhưng rồi ông đã bình tâm trở lại. Ông nhận ra rằng, võ đài không cần phải quyết đấu nữa. Thắng bại chỉ như gió thoảng qua và sau trận đấu ấy, ông đã tránh xa “kiếp sống võ đài”.

    Vị chưởng môn huyền thoại

    Năm 1945, Trần Tiến từ Campuchia ra Hà Nội, được Việt Minh giác ngộ và tham gia cách mạng.

    Vào quân ngũ, với khả năng quyền thuật siêu đẳng, ông đã được phân công huấn luyện võ thuật cho bộ đội tinh nhuệ, chính là lực lượng đặc công sau này.

    Năm 1978, ông rời quân ngũ nhưng vẫn tự nguyện tham gia dạy võ thuật cho một số sĩ quan quân đội Campuchia suốt hơn chục năm trời.

    Sẵn vốn liếng võ cổ truyền Việt Nam cộng với tinh hoa các tông phái Trung Quốc và Nhật Bản, lão võ sư Trần Tiến đã sáng lập nên võ phái Thiếu Lâm nội gia quyền Việt Nam.


    Lão võ sư Trần Tiến biểu diễn khí công ở độ tuổi 100.
    Đến giờ, võ phái của ông đã thu hút cả ngàn môn sinh. Trong số ấy, có rất nhiều môn sinh người Âu, Mỹ, Phi… bởi nghe danh mà lặn lội tìm về theo học.

    Suốt cuộc đời, lão võ sư Trần Tiến cứ đau đáu một nỗi niềm là làm sao để võ học Việt Nam được bảo tồn và phát triển. Ông đào tạo ra hàng ngàn môn đệ, võ sư, HLV tài năng cho làng võ Việt Nam.

    Với nhiều đóng góp to lớn, Trần Tiến được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam tặng HCV danh dự; được Bộ trưởng – Chủ nhiệm Ủy ban TDTT tặng Huy chương vì sự nghiệp thể thao.

    Điều đặc biệt là khi đã ở gần ngưỡng tuổi bách niên, lão võ sư Trần Tiến vẫn rất khỏe mạnh, minh mẫn và vẫn có thể biểu diễn khí công trước sự trầm trồ thán phục của hàng ngàn người.

    Tới ngày 21/2/2011 do tuổi cao, lão võ sư Trần Tiến đã vĩnh viễn ra đi tại Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM), hưởng thọ 101 tuổi. Làng võ Việt mất đi một tên tuổi quá lớn!

    Nhưng với cộng đồng làng võ Việt, cái tên Trần Tiến vẫn còn sống mãi bởi đơn giản, ông là một huyền thoại, một cây đại thụ sẽ còn mãi tỏa bóng cho hậu thế.

    Võ sư Trần Tiến tinh hoa võ thuật Thiếu Lâm nội gia đánh bại võ sĩ hộ Pháp Tiểu Lâm Xung

    Posted at  tháng 11 13, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Võ sư Trần Tiến sinh ngày 04 tháng 02 năm 1911 (Tân Hợi) tại Cầu Vòng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Năm 1913, cụ Hoàng Hoa Thám qua đời, nghĩa quân tan rã; ông nội và bố mẹ Trần Tiến phải thay tên đổi họ, lẩn tránh về thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Trần Tiến được bố khai sinh lại: ngày 04.02.1913. Sinh trưởng trong gia đình có truyền thống võ nghệ, Trần Tiến được ông nội khai tâm võ học lúc 10 tuổi. Hai năm sau, ông Trần Tiến qua đời, Trần Tiến được thân phụ truyền dạy tiếp. Từ 15-20 tuổi, Trần Tiến học Thiếu Lâm với thầy Lý Giang Nam – quê ở Phúc Kiến (Trung Quốc), chạy sang Hải Phòng lánh nạn. Những năm sau, Trần Tiến tập Nhu thuật cùng ông Tanabe (Nhật), Judo với ông Karachi (Nhật) và luyện cả quyền Anh cùng võ sĩ Lafleur (người Pháp gốc Phi).Tuổi thanh niên sôi nổi lại biết võ nghệ, Trần Tiến đã tham gia nhiều cuộc so tài về roi và kiếm ở miền Bắc trong 6 tháng đầu năm 1936. Nhưng đến tháng 8.1936, Trần Tiến buộc lòng phải rời xa quê hương vào miền Nam do bị thực dân Pháp đe dọa bắt giam vì “xách động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự”. Đến Sài Gòn, Trần Tiến tạm dừng bước và luyện tập tại Cercle Sportif Saigonnais (nay là Cung văn hóa lao động Tp. HCM) và sau đó hoạt động võ thuật ở nhiều nơi…


    Võ sư Trần Tiến

    Năm 1943, Trần Tiến dạy thể dục tại đồn điền cao su Đất Đỏ (Plantation Terre Rouge de l’Indochine) ở Kompong Cham (Campuchia). Công nhân nơi đây phần lớn là người Việt từ miền Bắc sang. Trong thời gian làm việc, Trần Tiến đươc tên chủ đồn điền người Pháp “quý mến” vì đã giúp công nhân có sức khỏe để “làm việc suốt ngày đêm”. Thật lòng, lúc đó Trần Tiến chưa biết gì về sự bóc lột của bọn chủ nhân tư bản cũng như không hiểu mình đang bị lợi dụng. Mãi đến cuối năm 1945, trong một lần nghỉ phép, Trần Tiến trở ra Hà Nội, đau lòng trước cảnh nhân dân chết đói quá thê thảm và được Việt Minh kêu gọi, Trần Tiến đã tham gia bộ đội vào đầu năm 1946. Mây năm đầu, Trần Tiến huấn luyện võ thuật cho “Bộ đội đặc biệt tinh nhuệ” (năm 1967 cải danh là đặc công). Những năm sau, tuy đảm nhận nhiệm vụ khác nhưng Trần Tiến vẫn thường xuyên luyện võ và dạy võ cho mọi người khi có điều kiện. Sau 32 năm phục vụ trong quân ngũ, Trần Tiến nghỉ hưu vào năm 1978. Thế nhưng đến cuối năm 1981, Trần Tiến còn tự nguyện sang huấn luyện võ thuật định kỳ cho một số sĩ quan quân đội nhân dân cách mạng Campuchia và mãi đến 20.09.1989 mới về nghỉ hẳn tại Tp. HCM.

    Sẵn vốn liếng võ cổ truyền Việt Nam cộng với tinh hoa võ thuật của các tông phái Trung Quốc và Nhật Bản… cùng kinh nghiệm dạy võ trong quân đội, lão võ sư Trần Tiến đã tinh lọc và đúc kết thành võ phái Thiếu Lâm nội gia võ thuật đạo Việt Nam và phổ biến tại Trung tâm TDTT quốc phòng 2, Nhà bảo tàng không quân phía Nam… Học trò của ông có cả người Mỹ, Pháp, Ý, Nga, Brazil…
    Vị cao thủ ấy chính là cố võ sư Trần Tiến – chưởng môn võ phái Thiếu Lâm Nội gia quyền Việt Nam, người được ca ngợi là “đệ nhất” làng võ Việt.

    Võ lâm khuynh đảo

    Theo nhiều huynh đệ làng võ thì trong số các võ sư hàng đầu Việt Nam ở thế kỷ 20, Trần Tiến xứng đáng được đứng ngôi đầu.

    Võ sư Phan Dương Bình, một cao đồ Vovinam và Vịnh Xuân quyền cũng đã liệt Trần Tiến vào vị trí “đệ nhất” cao thủ làng võ Việt Nam.

    Trần Tiến (1911-2011) vốn mang họ Hoàng, gốc Bắc Giang nhưng khi nghĩa quân Yên Thế tan rã, ông nội Hoàng Hảo và người cha Hoàng Tân đã phải thay tên đổi họ, lẩn tránh về Đồ Sơn (Hải Phòng).

    Trần Tiến được khai tâm võ học từ năm 10 tuổi. Một hôm, ba lính Pháp xông vào cướp kho đường do cha Trần Tiến cai quản.

    Cha con Trần Tiến lao ra chống trả quyết liệt, nhưng sức vóc hai cha con không thể nào chống nổi toán lính to lớn.

    Đang yếu thế, bất ngờ một bóng người bay vụt vào. Chỉ trong chớp mắt, người này tung ra mấy cú liên hoàn cước đá văng cả ba tên lính ra đường.

    Người nghĩa hiệp đó xoa đầu khen Trần Tiến: “Cậu bé nhỏ tuổi mà có dũng khí. Nếu cậu có chí luyện võ, đến chùa gặp ta”.

    Ngay tối đó, cậu bé Trần Tiến tìm đến ngôi chùa cổ, cậu mới biết ân nhân của cha con mình chính là võ sư Lý Giang Nam, một cao thủ Thiếu Lâm Nam phái, bị Nhật truy lùng nên bỏ quê hương Phúc Kiến – Trung Quốc sang Việt Nam lánh nạn.

    Kể từ đó, Trần Tiến bái võ sư Lý Giang Nam làm sư phụ. Thấy đệ tử có thiên chất, sư phụ đã truyền thụ hết những tuyệt kỹ Thiếu Lâm nội gia cho Trần Tiến.

    Sau khi sư phụ hồi hương, Trần Tiến tiếp tục thụ giáo nhiều môn võ khác nhau với nhiều võ như danh tiếng như học Nhu thuật với võ sư Tanabe (Nhật), Judo với võ sư Karachi (Nhật) và quyền Anh cùng võ sĩ Lafleur (người Pháp gốc Phi).


    Võ sư Trần Tiến truyền thụ võ công cho đồ đệ.
    Với căn cơ võ công và sự khổ luyện, ông sớm trở thành một cao thủ khi còn rất trẻ.

    Năm 24 tuổi, Trần Tiến đoạt chức vô địch kiếm thuật Bắc kỳ. Chưa dừng lại, gót chân Trần Tiến còn lang bạt khắp giang hồ, ở đâu có võ đài lớn nhất là đều ghi dấu chân của ông.

    Năm 1936, do bị giặc Pháp săn đuổi vì lý do “kích động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự” nên võ sư Trần Tiến phải khăn gói vào Nam.

    Quãng thời gian này, bởi mưu sinh và sự hiếu thắng của tuổi trẻ nên võ sư Trần Tiến đã rất nhiều lần thượng đài ở khắp các võ đài từ Bắc – Trung – Nam.


    Ông còn chinh chiến ở khắp các nước Đông Nam Á với nhiều đối thủ khác nhau và đều giành phần thắng

    Ông tham gia thượng đài và đánh hạ các đối thủ sừng sỏ ở nhiều võ đài tại các nước Thái Lan, Philippines, Malaysia, Myanmar, Singapore và cả Hồng Kông khiến quá nhiều cao thủ phải khiếp sợ và thán phục.

    Bí quyết để trở thành nhà vô địch của Trần Tiến, ngoài trình độ võ công thượng thừa, quan trọng còn phải biết sở trường, sở đoản của từng đối thủ để có đòn thế khắc chế và có đấu pháp hợp lý.

    Trận tử chiến cuối cùng với Tiểu Lâm Xung

    Theo võ sư Trần Tiến từng kể lại thì trận thượng đài đáng nhớ nhất và cũng chính là trận chiến cuối cùng của ông diễn ra trên đất Singapore.

    Sau khi đả bại loại hàng loạt các đấu thủ, trận cuối cùng ông gặp một đối thủ là võ sĩ người bản địa có biệt hiệu là Tiểu Lâm Xung.

    Đây là võ sĩ cao lớn như hộ pháp nhưng lại có thân hình rất rắn chắc, được ví là một lực sĩ.

    Cao thủ này là bậc thầy về ngạnh công, có thể đưa ngực, bụng chịu những cú đấm đá như trời giáng mà không hề hấn gì.

    Tiểu Lâm Xung còn có bàn tay mệnh danh “thiết thủ” có thể đấm vỡ tấm gỗ dày 5 phân. Khi đã thấm mệt, chỉ một đòn là Tiểu Lâm Xung cũng có thể khiến cho đối thủ phải bỏ mạng.


    Võ sư Trần Tiến trong một buổi lễ bái sư.
    Trước trận quyết đấu với Trần Tiến, Tiểu Lâm Xung đã thề sẽ đánh gục võ sĩ người Việt để “rửa hận” cho những người Singapore từng bại trận.

    Trận tử chiến cuối cùng cũng đến. Trận đấu được qui định trong 8 hiệp, mỗi hiệp dài 3 phút. Các võ sĩ chỉ bị cấm đánh xòe tay, còn đòn hiểm như cùi chỏ, đầu gối đều được sử dụng và không mặc áo giáp bảo hộ.

    Bước lên võ đài đài, với “bàn tay sắt” sở trường, Tiểu Lâm Xung đã thị uy, tung những cú đấm sấm sét của mình vào những tấm gỗ dày đến 5 cm khiến chúng vỡ tan.

    Xong, anh ta quay sang hỏi Trần Tiến có thi chặt ván với mình không. Trần Tiến chỉ im lặng lắc đầu. Tiểu Lâm Xung hỏi tiếp: “Vậy thì tự xin thua đi”.

    Trần Tiến vẫn chỉ lắc đầu. Tiếng chuông báo hiệp một vang lên, hai võ sĩ bước vào trận chiến.

    Cậy sức, Tiểu Lâm Xung tới tấp tung đòn mãnh liệt, Trần Tiến buộc phải lui vào thế phòng ngự, thỉnh thoảng mới tìm cách phản công.

    Tiểu Lâm Xung ra hổ quyền thì Trần Tiến dùng hầu quyền để tránh. Tiểu Lâm Xung tiếp tục tung xà quyền, Trần Tiến lại khống chế bằng hạc quyền.

    Bốn hiệp đấu trôi qua, võ sĩ người Việt vẫn chưa có được một đường tấn công đáng kể. Còn Tiểu Lâm Xung càng đánh càng hưng phấn, ham công và để lộ những sơ hở.

    Trong khoảnh khắc chủ quan khinh địch của đối thủ, Trần Tiến bất ngờ hạ thấp tấn pháp, trườn người nhập nội như con rắn và bật ngược lên tung đòn “xà vương phún khí” hiểm hóc đúng vào hạ bộ đối thủ.

    Trong chớp mắt, Tiểu Lâm Xung rũ người đổ ập xuống lăn lộn, rồi bất tỉnh. Cả khán đài sững sờ không hiểu chuyện gì xảy ra.

    Chính Trần Tiến cũng bàng hoàng không hiểu tại sao mình ra đòn hiểm này. Ông lặng lẽ cúi xuống xem Tiểu Lâm Xung bị thương thế nào. Miếng bảo hộ vùng hạ bộ của anh ta đã bị vỡ vì cú đánh quá mạnh.

    Thấy Tiểu Lâm Xung nằm bất động không thể thi đấu, trọng tài nắm tay Trần Tiến giơ lên cao, tuyên bố phần thắng bất ngờ đã thuộc về võ sĩ người Việt.

    Thế nhưng, trong khoảnh khắc vinh quang ấy, thấy Tiểu Lâm Xung nằm bất động trên sàn, Trần Tiến bỗng thấy ăn năn, day dứt. Ông rút tay lại, chắp bái xin lỗi rồi tự nhận phần thua cuộc.

    Trần Tiến lặng lẽ cúi đầu rời võ đài trong tiếng huýt sáo phản đối của những kẻ thua cược và cả tiếng vỗ tay của những người cảm phục khí khái ông.

    Thật ra, đòn ấy với võ đài tự do thì chẳng có gì là sai luật, thế nhưng với tinh thần võ đạo, cú đánh ấy lại là cấm kỵ bởi tính sát thủ tàn khốc.

    Với Trần Tiến, sau đòn hiểm độc trong tình huống một mất một còn, suốt đêm hôm đó ông không tài nào chợp mắt nổi.

    Nhưng rồi ông đã bình tâm trở lại. Ông nhận ra rằng, võ đài không cần phải quyết đấu nữa. Thắng bại chỉ như gió thoảng qua và sau trận đấu ấy, ông đã tránh xa “kiếp sống võ đài”.

    Vị chưởng môn huyền thoại

    Năm 1945, Trần Tiến từ Campuchia ra Hà Nội, được Việt Minh giác ngộ và tham gia cách mạng.

    Vào quân ngũ, với khả năng quyền thuật siêu đẳng, ông đã được phân công huấn luyện võ thuật cho bộ đội tinh nhuệ, chính là lực lượng đặc công sau này.

    Năm 1978, ông rời quân ngũ nhưng vẫn tự nguyện tham gia dạy võ thuật cho một số sĩ quan quân đội Campuchia suốt hơn chục năm trời.

    Sẵn vốn liếng võ cổ truyền Việt Nam cộng với tinh hoa các tông phái Trung Quốc và Nhật Bản, lão võ sư Trần Tiến đã sáng lập nên võ phái Thiếu Lâm nội gia quyền Việt Nam.


    Lão võ sư Trần Tiến biểu diễn khí công ở độ tuổi 100.
    Đến giờ, võ phái của ông đã thu hút cả ngàn môn sinh. Trong số ấy, có rất nhiều môn sinh người Âu, Mỹ, Phi… bởi nghe danh mà lặn lội tìm về theo học.

    Suốt cuộc đời, lão võ sư Trần Tiến cứ đau đáu một nỗi niềm là làm sao để võ học Việt Nam được bảo tồn và phát triển. Ông đào tạo ra hàng ngàn môn đệ, võ sư, HLV tài năng cho làng võ Việt Nam.

    Với nhiều đóng góp to lớn, Trần Tiến được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam tặng HCV danh dự; được Bộ trưởng – Chủ nhiệm Ủy ban TDTT tặng Huy chương vì sự nghiệp thể thao.

    Điều đặc biệt là khi đã ở gần ngưỡng tuổi bách niên, lão võ sư Trần Tiến vẫn rất khỏe mạnh, minh mẫn và vẫn có thể biểu diễn khí công trước sự trầm trồ thán phục của hàng ngàn người.

    Tới ngày 21/2/2011 do tuổi cao, lão võ sư Trần Tiến đã vĩnh viễn ra đi tại Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM), hưởng thọ 101 tuổi. Làng võ Việt mất đi một tên tuổi quá lớn!

    Nhưng với cộng đồng làng võ Việt, cái tên Trần Tiến vẫn còn sống mãi bởi đơn giản, ông là một huyền thoại, một cây đại thụ sẽ còn mãi tỏa bóng cho hậu thế.

    About-Privacy Policy-Contact us
    Copyright © 2013 Võ thuật Cổ Truyền - Võ Cổ Truyền Việt Nam - tin tức liên đoàn Võ thuật cổ truyền. Distributed By Võ thuật cổ truyền Việt Nam | https://banhngot.vn by https://banhngot.vn/ cung cấp Giỏ quà tết Bình Dương
    Proudly Powered by Võ Cổ truyền Việt Nam Phát triển xây dựng nội sung Bánh ngọtViệt Nam Bánh kem Hương vị Việt #banhngotvn Xem nhiều mẫu bánh sinh nhật võ thuật Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương Xem nhiều Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương
    back to top