• Featured

    Chia sẻ thông tin kiến thức, phương pháp tập luyện, chế độ dinh dưỡng cần thiết võ cổ truyền

  • Featured

    Don't miss these 10 Things if you are going for Picnic.

  • Articles

    iPhone 6 Will Look Like

  • Articles

    Solar Powered UAVs To Replace Satellites

  • Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh (tên thật là Tô Văn), biệt danh Sáu nhỏ sinh năm 1900 tại Chợ Lớn Sài Gòn.Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh là con trai út trong 1 gia đình đông con gồm 6 chị em, cha của ông là cụ Tô Nghiêm, người gốc Trung Quốc, mẹ là bà La Thị Muối, người Nghệ An, Việt Nam.Do thể chất nhỏ bé và thường hay bị bệnh tật nên cha mẹ đã gửi ông cho Mộc Đức Thiền Sư, một người Hoa lưu lạc ở Việt Nam, thâu nhận làm đệ tử với mong muốn ông được rèn luyện võ nghệ, tăng cường sức khỏe. Thấy Tô Văn nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn, tháo vát lại có năng khiếu về võ thuật, Mộc Đức Thiền Sư hết lòng quý mến truyền dạy võ nghệ cho cậu. Năm 1913, được sự đồng ý của gia đình, 2 chú cháu khăn gói sang Trung Quốc. Từ đây, cậu bé Tô Văn được các hòa thượng trong chùa Phi Lai Tự thâu nhận. Họ dạy cho ông cách Thiền định và võ học của Bắc phái như: Côn Luân, Cửu Ngũ Tam Vương, Xà Quyền.Ngoài ra ông được thầy Trường Giang Mạnh Vũ truyền dạy cho Thiếu lâm Nam phái.

    Sau 11 năm ông quay trở lại quê hương, đổi tên hiệu thành Thiện Tâm Thiền Sư Đoàn Tâm Ảnh. Từ bộ căn bản “Thất Thập Nhị Huyền Công” (72 thế căn bản tuyệt diệu nhất của Thiếu Lâm Tự), “Thập Bát La Hán Thế” bao gồm 18 chiêu thức chiến đấu (18 thế này đã được đúc thành 18 pho tượng ở Chùa Thiếu Lâm; “La Hán Thần Công” (18 chiêu thức tuyệt kỹ) đều được Tô Văn đón nhận, say mê luyện tập. Khi đã lĩnh hội được hầu hết những tinh hoa của Thiếu lâm, kết hợp với 1 số người, Tô Văn vận dụng “Thất thập nhị Huyền Công”, 18 thế quyền La Hán kết hợp với quyền của bên Bắc phái sáng chế ra 18 bài quyền, (Bài thấp nhất có 21 thức chính, bài dài nhất có 73 thức chính). Trong 18 bài quyền này ông lấy “Thất Thập Nhị Huyền Công” làm căn bản, lấy “Thập Bát Chưởng Công”, “Lục Bộ Thần Công” để ghép đan xen vào thành 18 bài quyền theo thức tự từ thấp lên cao, riêng bộ La Hán Thần Công ông để vào chương trình Thượng Đẳng và đặt tên cho môn võ này là môn “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền”.

    Ngày 03/11/2008 (tức ngày 06/10 năm Mậu Tý), lão Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh tạ thế, hưởng dương 109 tuổi. Ông mất đi để lại cho các thế hệ sau một kho tàng tài liệu về võ thuật; từ các bí kíp võ thuật của Bắc phái như “Côn Lôn”, “Cửu Ngũ Tam Vương”, “Xà Quyền“… cho đến tài liệu về võ học của phái “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền” và cả những kinh nghiệm mà ông đã đúc rút ra trong suốt cuộc đời phiêu bạt giang hồ của mình.
    Nhớ lại hồi nhỏ, khoảng năm 1969, tôi mới 15 tuổi, có dịp được thọ giáo môn Võ Lâm Côn Luân Bắc phái của Bác Sáu. Thời chúng tôi thọ giáo, Lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh bảo các môn sinh không được gọi là thầy, mà gọi là Bác Sáu. Đây là một duyên may, tôi thích học võ, nhưng học Judo không được vì không đủ tiền sắm bộ võ phục. Một anh bạn rủ tôi học võ ở hẻm Vườn Chuối, đối diện Trường Trung học Nông Lâm Súc Cần Thơ (cũ) nay là hẻm 58 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chỉ quần đùi, ở trần là tập được, không cần võ phục. Thêm một điều rất đặc biệt của Bác Sáu là nếu võ sinh là học sinh thì được miễn phí, Bác Sáu chỉ lấy học phí của những người có làm việc hoặc người lớn. Hai điều kiện này quá phù hợp với đám học sinh nghèo như bọn tôi.

    Trong thời gian học võ với Bác Sáu, các võ sinh được học tập với thời khóa biểu tự do, không có giờ học phổ thông thì cứ đến tập. Dần dần các võ sinh mới tự ổn định giờ tập luyện. Số giờ học không hạn chế, mệt thì nghỉ. Học tập bảy ngày trong tuần, không nhất thiết phải nghỉ Chủ nhật.

    Trong quá trình học tập, ngoài các bài võ, đôi khi Bác Sáu giảng dạy thêm cho chúng tôi về võ lý, đạo đức của võ sinh. Chúng tôi thường thấy Bác Sáu cặm cụi ghi ghi, chép chép vào các quyển tập. Rồi sau đó, các quyển này được chuyền tay cho các võ sinh chép lại tại chỗ hoặc mượn về nhà chép. Chỗ nào chưa hiểu thì hỏi, Bác Sáu giải thích rất cặn kẻ. Anh bạn tôi là một người siêng năng nên chép được rất nhiều di bút của Bác Sáu. Trong đó có nhiều bài võ của nhiều dòng võ La Hán, Tứ linh, Bát tiên, Mai hoa quyền… Nhiều bài lý luận về các nguyên tắc học võ, dạy võ, nhận định thế võ đúng hay sai,… Bác Sáu đã soạn nhiều sách võ thuật được xuất bản trước năm 1975. Trong đó, nổi tiếng nhất là quyển Thất thập nhị huyền công và Thập bát La Hán quyền, xuất bản năm 1971.

    Bác Sáu chính là người đã hệ thống hóa các thế căn bản của môn võ cổ truyền Việt Nam. Theo sách Võ Cổ Truyền Việt Nam của Liên đoàn Võ Cổ Truyền Việt Nam, xuất bản năm 2011, nếu thống kê sẽ thấy có trên hai phần ba các thế võ căn bản, còn gọi là căn bản công, tên gọi có một phần khác nhau, nhưng động tác trùng khớp với 72 thế căn bản mà Bác Sáu đã soạn trong sách trên.

    Picture10.jpg

    Phương pháp tập luyện của Bác Sáu có lẽ cũng có một không hai ở Việt Nam, mà cũng có thể cả quốc tế, đó là đấu quyền. Nếu như các phái võ khác chỉ có bài quyền riêng lẽ, hoặc đấu nhau cùng lúc vài ba thế. Bác Sáu lại dạy từng cặp bài quyền đối nhau. Hai võ sinh, mỗi người một bài võ đấu luyện với nhau. Đây là một trong những phương pháp huấn luyện võ thuật tuyệt vời, tạo hứng thú cho võ sinh, giúp quen đòn dạn thế trong chiến đấu. Sau một thời gian tập luyện sẽ trở thành phản xạ tức thời.

    Bác Sáu có rất nhiều đồ đệ thành danh trong và ngoài nước, kể cả ở môn phái võ khác. Điển hình là anh Nguyễn Văn Phước (Phu Nguyen), Việt kiều Canada, hiện là Bát đẳng huyền đai, Phó Tổng Thư ký Tae Kwon Do hệ phái WTF (World Taekwondo Federation), phụ trách Châu Á.

    Tôi và người bạn miệt mài tập võ cho đến năm 1973 thì bạn tôi qua đời. Thêm vào đó, bận việc học, tôi phải nghỉ tập để hoàn tất việc học phổ thông.

    Rồi sau năm 1975, thời gian khoảng từ năm 1987 - 1990 tôi có tham gia huấn luyện Võ lâm. Nhưng phần lớn thời gian còn lại, vì chuyện học hành, làm việc, sinh kế quá bận rộn, nên tôi không chuyên tâm đến chuyện võ nghệ. Gần đây, sắp đến tuổi về hưu, công việc giảm, tôi mới có dịp đọc lại các di bút của Bác Sáu, do các bạn sưu tầm trước và sau năm 1975, giao lại cho tôi. Một số khám phá mới mà tôi hồi nhỏ, hoặc không hiểu hoặc không để ý đến.

    Có lẽ Bác Sáu đã đạt đỉnh cao của võ thuật. Với triết lý, học võ cũng là học làm người, không tấn công trước mà lấy nhẫn làm đầu, áp dụng võ thuật theo cách của người Việt xưa là lấy nhu chế cương.

    Xin trích nguyên văn một đoạn trong di bút của Bác Sáu, được viết tại Cần Thơ, khoảng năm 1988: “… Tự vệ - thể thao - đạo hạnh, đào tạo người học cho k
    ỳ được cả nghề lẫn nết. Không chiến đấu cũng đặng khỏe mạnh, thể xác sung mãn, tinh thần có tác phong đạo đức.

    Bởi vì coi quyền thuật là môn giáo luyện về cơ thể. Trong đó, có những cử động cương nhu, khí lực biến chuyển thân thể. Khi dạy, động kình phát chiêu, đầy chưởng. Đó là làm cho động mạch, điều hòa hơi thở để bồi dưỡng sức khỏe, tăng cường khí lực, sung mãn tinh thần. Già bảy tám mươi còn sức lao động. Đó là môn võ chú trọng về ba điểm chính: ích cho nước, thuận cho nhà, lợi cho dân…...

    ….. Không có võ nào mà không chiến đấu. Là trường hợp cây muốn lặng mà gió không muốn ngừng mới có. Bởi vì võ Bắc phái luyện về di ảnh kỳ hình, lấy nhu áp cương. Nếu háo chiến thì thua bệnh viện, thắng nhà tù. Như vậy sao gọi là võ đạo được.

    Lối nhẫn nhịn của Bắc phái tối thượng. Bởi vì không nghiên cứu tấn công trước ai khi gây chiến, mà đứng chờ tối đa, nếu bãi chiến càng tốt. Vì cách di ảnh, khi bị ai tấn công, chỉ lắc lư một cái thì xuất nhập như quỷ thần. Nếu biết tấn công trước thì họ chết, như ta cũng chết tù. Thế nên, không biết đòn tấn công trước ai là chờ đợi cho hòa, càng tốt….”.

    Xin mạn phép vài dòng, cũng có thể suy nghĩ chưa thật thấu đáo, để tưởng niệm con người tài ba xuất chúng trong làng võ thuật Việt Nam, Lão Võ sư Đoàn Tâm Ảnh. Chúc hương hồn Bác Sáu an lạc ở cõi vĩnh hằng./.
    Khải Đăng

    Thiền sư - Võ sư Đoàn Tâm Ảnh (Tô Văn 1900-2008)

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Nhân-vật-võ-thuật  |  Read More»

    Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh (tên thật là Tô Văn), biệt danh Sáu nhỏ sinh năm 1900 tại Chợ Lớn Sài Gòn.Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh là con trai út trong 1 gia đình đông con gồm 6 chị em, cha của ông là cụ Tô Nghiêm, người gốc Trung Quốc, mẹ là bà La Thị Muối, người Nghệ An, Việt Nam.Do thể chất nhỏ bé và thường hay bị bệnh tật nên cha mẹ đã gửi ông cho Mộc Đức Thiền Sư, một người Hoa lưu lạc ở Việt Nam, thâu nhận làm đệ tử với mong muốn ông được rèn luyện võ nghệ, tăng cường sức khỏe. Thấy Tô Văn nhỏ bé nhưng rất nhanh nhẹn, tháo vát lại có năng khiếu về võ thuật, Mộc Đức Thiền Sư hết lòng quý mến truyền dạy võ nghệ cho cậu. Năm 1913, được sự đồng ý của gia đình, 2 chú cháu khăn gói sang Trung Quốc. Từ đây, cậu bé Tô Văn được các hòa thượng trong chùa Phi Lai Tự thâu nhận. Họ dạy cho ông cách Thiền định và võ học của Bắc phái như: Côn Luân, Cửu Ngũ Tam Vương, Xà Quyền.Ngoài ra ông được thầy Trường Giang Mạnh Vũ truyền dạy cho Thiếu lâm Nam phái.

    Sau 11 năm ông quay trở lại quê hương, đổi tên hiệu thành Thiện Tâm Thiền Sư Đoàn Tâm Ảnh. Từ bộ căn bản “Thất Thập Nhị Huyền Công” (72 thế căn bản tuyệt diệu nhất của Thiếu Lâm Tự), “Thập Bát La Hán Thế” bao gồm 18 chiêu thức chiến đấu (18 thế này đã được đúc thành 18 pho tượng ở Chùa Thiếu Lâm; “La Hán Thần Công” (18 chiêu thức tuyệt kỹ) đều được Tô Văn đón nhận, say mê luyện tập. Khi đã lĩnh hội được hầu hết những tinh hoa của Thiếu lâm, kết hợp với 1 số người, Tô Văn vận dụng “Thất thập nhị Huyền Công”, 18 thế quyền La Hán kết hợp với quyền của bên Bắc phái sáng chế ra 18 bài quyền, (Bài thấp nhất có 21 thức chính, bài dài nhất có 73 thức chính). Trong 18 bài quyền này ông lấy “Thất Thập Nhị Huyền Công” làm căn bản, lấy “Thập Bát Chưởng Công”, “Lục Bộ Thần Công” để ghép đan xen vào thành 18 bài quyền theo thức tự từ thấp lên cao, riêng bộ La Hán Thần Công ông để vào chương trình Thượng Đẳng và đặt tên cho môn võ này là môn “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền”.

    Ngày 03/11/2008 (tức ngày 06/10 năm Mậu Tý), lão Thiền sư Đoàn Tâm Ảnh tạ thế, hưởng dương 109 tuổi. Ông mất đi để lại cho các thế hệ sau một kho tàng tài liệu về võ thuật; từ các bí kíp võ thuật của Bắc phái như “Côn Lôn”, “Cửu Ngũ Tam Vương”, “Xà Quyền“… cho đến tài liệu về võ học của phái “Võ Lâm Chánh Tông Thập Bát La Hán Quyền” và cả những kinh nghiệm mà ông đã đúc rút ra trong suốt cuộc đời phiêu bạt giang hồ của mình.
    Nhớ lại hồi nhỏ, khoảng năm 1969, tôi mới 15 tuổi, có dịp được thọ giáo môn Võ Lâm Côn Luân Bắc phái của Bác Sáu. Thời chúng tôi thọ giáo, Lão võ sư Đoàn Tâm Ảnh bảo các môn sinh không được gọi là thầy, mà gọi là Bác Sáu. Đây là một duyên may, tôi thích học võ, nhưng học Judo không được vì không đủ tiền sắm bộ võ phục. Một anh bạn rủ tôi học võ ở hẻm Vườn Chuối, đối diện Trường Trung học Nông Lâm Súc Cần Thơ (cũ) nay là hẻm 58 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Chỉ quần đùi, ở trần là tập được, không cần võ phục. Thêm một điều rất đặc biệt của Bác Sáu là nếu võ sinh là học sinh thì được miễn phí, Bác Sáu chỉ lấy học phí của những người có làm việc hoặc người lớn. Hai điều kiện này quá phù hợp với đám học sinh nghèo như bọn tôi.

    Trong thời gian học võ với Bác Sáu, các võ sinh được học tập với thời khóa biểu tự do, không có giờ học phổ thông thì cứ đến tập. Dần dần các võ sinh mới tự ổn định giờ tập luyện. Số giờ học không hạn chế, mệt thì nghỉ. Học tập bảy ngày trong tuần, không nhất thiết phải nghỉ Chủ nhật.

    Trong quá trình học tập, ngoài các bài võ, đôi khi Bác Sáu giảng dạy thêm cho chúng tôi về võ lý, đạo đức của võ sinh. Chúng tôi thường thấy Bác Sáu cặm cụi ghi ghi, chép chép vào các quyển tập. Rồi sau đó, các quyển này được chuyền tay cho các võ sinh chép lại tại chỗ hoặc mượn về nhà chép. Chỗ nào chưa hiểu thì hỏi, Bác Sáu giải thích rất cặn kẻ. Anh bạn tôi là một người siêng năng nên chép được rất nhiều di bút của Bác Sáu. Trong đó có nhiều bài võ của nhiều dòng võ La Hán, Tứ linh, Bát tiên, Mai hoa quyền… Nhiều bài lý luận về các nguyên tắc học võ, dạy võ, nhận định thế võ đúng hay sai,… Bác Sáu đã soạn nhiều sách võ thuật được xuất bản trước năm 1975. Trong đó, nổi tiếng nhất là quyển Thất thập nhị huyền công và Thập bát La Hán quyền, xuất bản năm 1971.

    Bác Sáu chính là người đã hệ thống hóa các thế căn bản của môn võ cổ truyền Việt Nam. Theo sách Võ Cổ Truyền Việt Nam của Liên đoàn Võ Cổ Truyền Việt Nam, xuất bản năm 2011, nếu thống kê sẽ thấy có trên hai phần ba các thế võ căn bản, còn gọi là căn bản công, tên gọi có một phần khác nhau, nhưng động tác trùng khớp với 72 thế căn bản mà Bác Sáu đã soạn trong sách trên.

    Picture10.jpg

    Phương pháp tập luyện của Bác Sáu có lẽ cũng có một không hai ở Việt Nam, mà cũng có thể cả quốc tế, đó là đấu quyền. Nếu như các phái võ khác chỉ có bài quyền riêng lẽ, hoặc đấu nhau cùng lúc vài ba thế. Bác Sáu lại dạy từng cặp bài quyền đối nhau. Hai võ sinh, mỗi người một bài võ đấu luyện với nhau. Đây là một trong những phương pháp huấn luyện võ thuật tuyệt vời, tạo hứng thú cho võ sinh, giúp quen đòn dạn thế trong chiến đấu. Sau một thời gian tập luyện sẽ trở thành phản xạ tức thời.

    Bác Sáu có rất nhiều đồ đệ thành danh trong và ngoài nước, kể cả ở môn phái võ khác. Điển hình là anh Nguyễn Văn Phước (Phu Nguyen), Việt kiều Canada, hiện là Bát đẳng huyền đai, Phó Tổng Thư ký Tae Kwon Do hệ phái WTF (World Taekwondo Federation), phụ trách Châu Á.

    Tôi và người bạn miệt mài tập võ cho đến năm 1973 thì bạn tôi qua đời. Thêm vào đó, bận việc học, tôi phải nghỉ tập để hoàn tất việc học phổ thông.

    Rồi sau năm 1975, thời gian khoảng từ năm 1987 - 1990 tôi có tham gia huấn luyện Võ lâm. Nhưng phần lớn thời gian còn lại, vì chuyện học hành, làm việc, sinh kế quá bận rộn, nên tôi không chuyên tâm đến chuyện võ nghệ. Gần đây, sắp đến tuổi về hưu, công việc giảm, tôi mới có dịp đọc lại các di bút của Bác Sáu, do các bạn sưu tầm trước và sau năm 1975, giao lại cho tôi. Một số khám phá mới mà tôi hồi nhỏ, hoặc không hiểu hoặc không để ý đến.

    Có lẽ Bác Sáu đã đạt đỉnh cao của võ thuật. Với triết lý, học võ cũng là học làm người, không tấn công trước mà lấy nhẫn làm đầu, áp dụng võ thuật theo cách của người Việt xưa là lấy nhu chế cương.

    Xin trích nguyên văn một đoạn trong di bút của Bác Sáu, được viết tại Cần Thơ, khoảng năm 1988: “… Tự vệ - thể thao - đạo hạnh, đào tạo người học cho k
    ỳ được cả nghề lẫn nết. Không chiến đấu cũng đặng khỏe mạnh, thể xác sung mãn, tinh thần có tác phong đạo đức.

    Bởi vì coi quyền thuật là môn giáo luyện về cơ thể. Trong đó, có những cử động cương nhu, khí lực biến chuyển thân thể. Khi dạy, động kình phát chiêu, đầy chưởng. Đó là làm cho động mạch, điều hòa hơi thở để bồi dưỡng sức khỏe, tăng cường khí lực, sung mãn tinh thần. Già bảy tám mươi còn sức lao động. Đó là môn võ chú trọng về ba điểm chính: ích cho nước, thuận cho nhà, lợi cho dân…...

    ….. Không có võ nào mà không chiến đấu. Là trường hợp cây muốn lặng mà gió không muốn ngừng mới có. Bởi vì võ Bắc phái luyện về di ảnh kỳ hình, lấy nhu áp cương. Nếu háo chiến thì thua bệnh viện, thắng nhà tù. Như vậy sao gọi là võ đạo được.

    Lối nhẫn nhịn của Bắc phái tối thượng. Bởi vì không nghiên cứu tấn công trước ai khi gây chiến, mà đứng chờ tối đa, nếu bãi chiến càng tốt. Vì cách di ảnh, khi bị ai tấn công, chỉ lắc lư một cái thì xuất nhập như quỷ thần. Nếu biết tấn công trước thì họ chết, như ta cũng chết tù. Thế nên, không biết đòn tấn công trước ai là chờ đợi cho hòa, càng tốt….”.

    Xin mạn phép vài dòng, cũng có thể suy nghĩ chưa thật thấu đáo, để tưởng niệm con người tài ba xuất chúng trong làng võ thuật Việt Nam, Lão Võ sư Đoàn Tâm Ảnh. Chúc hương hồn Bác Sáu an lạc ở cõi vĩnh hằng./.
    Khải Đăng

    Danh y Tuệ Tĩnh từ lâu đã đưa ra một bí quyết trường thọ rất nổi tiếng. Bí quyết này được tóm tắt trong hai câu rất dễ nhớ sau :

    Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
    Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình.

    Chúng ta tìm hiểu bí quyết sống khỏe và trường thọ này vì nó liên quan mật thiết đến Tiên Thiên Khí Công, đồng thời bổ túc thêm những điều cần yếu chưa được đề cập. Hai câu trên bao gồm bảy ý niệm, tất cả đều cần được hiểu rõ và thực hành trong đời sống hằng ngày để sống lâu một cách khỏe mạnh, sáng suốt.


    1. Bế Tinh

    Tinh; tức chất tinh túy được cơ thể chắt lọc từ thức ăn, từ các chất bổ dưỡng nhứt. Tinh đầy đủ thì sức khỏe khang kiện, tính tình vui vẻ, hắng hái, yêu đời. tinh thiếu thốn thì thường bệnh hoạn,ốm đau, bi quan, buồn chán. Tinh bị mất nhiều nhất trong quan hệ vơ chồng, nam nữ. Nam giới thường bị mất mát nhiều hơn nữ giới, nhưng không có nghĩa là nữ giới không bị tổn hại nếu lạm dùng tình dục. Đàn ông thường có tuổi thọ ngắn hơn đàn bà là do tiêu phí tinh quá nhiều. Nhiều người già trước tuổi, sức khỏe suy kiệt nhanh chóng đến độ đi đứng không vững cũng do sự phí phạm chất tinh túy của cơ thể này. Ông vua điển hình của sự phí phạm tinh túy đến nỗi phải nằm trên long sàng là Lê Long Đĩnh, còn được gọi là Lê Ngọa Triều. Ngoài ra, trong lịch sử nhân loại có rất nhiều người do có thế lực,do giàu có đã quá lạm dụng tình dục, đưa đến hậu quả tất yếu là giảm sức khỏe, tinh thần suy kiệt, đầu óc mê muội, đời sống bị rút ngăn trong tối tăm, mịt mờ. Nhiều người, kể cả người có tuổi vẫn không biết chế ngự, vẫn không biết hạn chế,luôn luôn phí phạm tinh chất trong các cuộc truy hoan liên tục, đưa đến tình trạng bại hoại từ vật chất đến tinh thần. Vì thế Tuệ Tĩnh khuyên chúng ta nên bế tinh.

    Nhưng Bế Tinh là thế nào ? Có phải hoàn toàn diệt dục, tuyệt đối không giải quyết nhu cầu sinh lý không ? Tất nhiên, việc bế tinh hoàn toàn, suốt cuộc đời không đáp ứng nhu cầu tình dục như những vị tu hành xuất gia ngay khi từ còn nhỏ thì cuộc sống rất thanh cao, trí não sáng suốt đặc biệt, tu hành mau đắc quả. Nhưng, một cuộc sống thoát tục như thế không phải dễ dàng và không phải ai cũng làm được. Ở đây, chúng ta chỉ muốn đề cập đại đa số phàm nhân sống bình thường nhưng biết cách giữ gìn chất tinh túy trong cơ thể. Chữ bế tinh mà Tuệ Tịnh muốn nói đến có ý khuyên chúng ta nên hạn chế tình dục, không nên hoang phí quá độ. Biết khi nào tiêu xài và khi nào nên lưu trữ. Tiêu xài với ai, tiêu xài thế nào là điều luôn luôn phải được nghĩ đến. Đó là chưa nói đến việc tiêu xài không có chọn lọc và cẩn thận sẽ đưa đến bịnh tật hiểm nghèo bất trị nữa. Chúng tôi muốn nói đến bịnh AIDS của thời đại ngày nay. Thanh niên nam nữ kể cả những người có tuổi thường cũng ít suy nghĩ kỹ lưỡng về vấn đề này. Cứ giải quyết cho thỏa thích và bất chấp hậu quả ! Đó là điều thật đáng tiếc. Và Tiên Thiên Khí Công sẽ không giúp cho bạn được bao nhiêu nếu bạn không biết cách bế tinh để bảo toàn sức khỏe và nuôi dưỡng tinh thần.

    2. Dưỡng Khí

    Tinh và khí liên quan mật thiết. Có tinh thì dưỡng khí mới có kết quả. Người xưa thường nói "Tinh hóa khí". Dưỡng khí là đem năng lượng khí trời trong sạch vào hạ đơn điền để biến thành tinh khí, thành năng lực luân lưu khắp châu thân để bảo toàn sự sống. Vì thế muốn dưỡng khí hữu hiệu thì phải bế tinh, tức phải biết tiết dục. Tiết dục chứ không phải diệt dục. Tiết dục dễ hơn diệt dục nhiều. Khi tinh và khí đầy đủ, sung mãn thì bịnh tật rất khó xâm nhập, mà bịnh tật không xâm nhập được thì có phải là ta đã có được một cơ thể quý báu không ? Người luôn luôn khỏe mạnh hay chưa bị ngã bịnh thường rất để ý đến bịnh tật; nhưng khi ngã bịnh, đi đứng không bình thường, ăn ngủ không được, đau nhức hành hạ,lúc đó mới nhận thức được sự quý báu của sức khỏe. Mà nhận thức được như thế nhiều lần thì cuộc đời còn gì là ý nghĩa, hứng thứ nữa? "Bệnh" là nỗi khổ triền miên mà nhân loại đang oằn oại gánh chịu, không thoát ra được. Nhiều thứ bịnh của con người không sao kể cho ra hết, nhưng phần lớn đều do mình tạo ra, không ai có thể gây bịnh cho ta được. Trừ trường hợp bẩm sinh, hầu hết chúng ta đều được sinh ra với một cơ thể bình thường. Nên nếu biết cách sống, ta có thể tránh được nhiều loại bịnh tật. Vậy tại sao chúng ta không chịu tìm hiểu để áp dụng cho cuộc sống của mình thêm hạnh phúc. Phải bế tinh thì dưỡng khí mới có kết quả. Tinh cạn kiệt thì khí không thể điều động để trở thành năng lực nuôi sống, bảo toàn sức khỏe một cách tốt nhứt được.

    3. Tồn thần

    Tinh khí đầy đủ chẳng những giúp cho cơ thể khỏe mạnh mà còn giúp cho tinh thần sáng suốt, tinh nhanh. Thần là sắc khí của một con người thường hiện ra trên sắc mặt, trong cặp mắt. Khí và tinh hợp lại biến thành thần khí hay thần sắc. Nhìn sắc diện một người, chúng ta có thể nhận ra được ngay họ có thần sắc hay không. Thần sắc đầy đủ thể hiện một sự lạc quan yêu đời, một cuộc sống sung mãn, thánh thiện. Con người có thể chất tinh thần, cả hai liên quan chặt chẽ với nhau. Không thể có một tinh thần trong một cơ thể bịnh hoạn được. Tinh -khí - thần liên quan chặt chẽ với nhau, vì thế phải giữ tinh để hóa khí và từ tinh khí sẽ biến thành thần sắc. Nhưng chữ "tồn thần" cũng phải được hiểu là "giữ thần", tồn thần là còn, là giữ gìn cho còn. Thần sắc được tinh khí tạo ra, nhưng phải được bảo tồn, nếu hoang phí thần thì cũng giống như hoang phi tính và khí. Tồn thần hay dưỡng thần cũng giống như ta sử dụng điện năng. Được cung cấp nhiều thì khả năng tồn giữ không mất, lại dồi dào thêm. Ngược lại, tiêu xài nhiều, tiêu phí nhiều thì khả năng tồn giữ bị tiêu hao. Thần bị tán, bị mất khi ta suy nghĩ,làm việc nhiều bằng trí não, nói chuyện nhiều hoặc chăm chú xem hay nghe, kể cả xem truyền hình và nghe đài phát thanh, làm việc nhiều bằng máy tính. Thần cũng bị tán khi ta có quá nhiều cảm xúc dễ giận hờn, thù oán, nhiều tham vọng hay tự cao, tự đại. Thần được lưu giữ nhờ sự bình an trong tâm hồn, nhờ giấc ngủ yên lành không mộng mị. Tóm lại, ta phải tập cho mình một phong thái sống, nếp sống, một thời khóa biểu cho sự làm việc và nghỉ ngơi. Chúng ta cần thuộc lòng câu nói sau đây: Tinh túc thì ít bệnh. Khí túc thì ít ăn. Thần túc thì ít ngủ.

    Chúng ta vừa tìm hiểu ba ý niệm: Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần. Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu bốn ý niệm của câu thứ hai : "Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình".

    1. Thanh tâm

    Tâm, nghĩa hẹp là lòng, là tấm lòng, rộng hơn là phần tinh thần cũng gọi là tâm hồn, tức là phần điều khiển tất cả mọi sinh hoạt của thể xác. Mà phần tinh thần của con người thì bao gồm rất nhiều thứ, từ tình cảm, lý trí, khả năng suy tưởng, khả năng sáng tác và các khả năng đặc biệt khác.

    Chính nhờ phần "tâm này" mà loài người mới có tiến bộ và có cuộc sống khác hơn loài vật, mới được gọi là "linh ư vạn vật". Còn chữ "thanh" được hiểu là sự trong sạch, thanh khiết không bị vướng bất cứ một thứ cặn bã nào. Sự hướng thượng, lòng khoan dung, sự tha thứ, sẵn sàng làm điều tốt, điều thiện mưu cầu lợi ích cho người khác" thuộc thanh. Người luôn luôn thanh tâm là người luôn có cuộc sống an lành nhờ tâm hồn được nuôi dưỡng bằng những tình cảm, tư tưởng thanh cao, tốt đẹp. Vì thế,họ luôn luôn được an vui, hạnh phúc. Chính nguồn vui, hạnh phúc này giúp họ có đời sống rất khỏe mạnh và an lạc.

    2. Quả dục

    Dục là ham muốn, đòi hỏi, thèm khát. Quả dục là giảm thiểu sự ham muốn, sự đòi hỏi, sự thèm khát. Tham vọng càng nhiều, thất vọng càng lớn. Chính vì lòng ham muốn này đã dẫn dắt không biết bao nhiêu người đi vào vực sâu, mất an vui, hạnh phúc và gần nhất là là sức khỏe bị suy mòn, tinh thần bị lụn bại. Vì thế muốn, nếu muốn khỏe mạnh và sống lâu thì phải biết chế ngự lòng ham muốn, tính tham lam, thèm khát. Lòng ham muốn vô bờ biến giống như những cơn sóng to làm chìm đắm tất cả mọi sự bình an. Phải biết sống an vui với những gì mang đang có, biết "tri túc" thì cuộc sống sẽ tốt đẹp và có ý nghĩa. Người xưa thường khuyên ta : "Tri túc thường lạc" hoặc "Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc". Nghĩa là biết đủ thì sẽ luôn được an vui, hoặc biết đủ, an hưởng cái đủ, còn chờ đủ thì không bao giờ đủ cả..

    3. Thủ chân

    Thủ là giữ. Chân là chân lý. Thủ chân tức là luôn luôn theo đuổi một điều gì mình cho là chân lý,là lý tưởng. Đời người phải hướng về một mục đích nào đó để phục vụ, để thờ phượng thì cuộc sống mới có ý nghĩa. Thật là tội nghiệp cho bất cứ ai cứ tưởng phương tiện là mục đích. Nếu biến phương tiện thành mục đích thì con người sẽ trở thành nô lệ cho những đối tượng tầm thường. Rất nhiều người coi tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, danh vọng, sắc đẹp là mục đích trong khi chúng chỉ là phương tiện, nên cả đời họ chỉ lo chạy theo những thứ vật chất mau đổi thay, mau tan rã, không tồn tại lâu dài này. Tự biến mình thành nô lệ mà mình không bao giờ tỉnh thức.

    Người biết sống, người sáng suốt lúc nào cũng phân biệt rõ được phương tiện và mục đích. Họ luôn luôn làm chủ đời sống chứ không bao giờ trở thành nô lệ. Mục đích của họ có thể có nhiều nhưng mục đích cùng tột cao cả nhứt là sự giải thoát khỏi những ưu phiền của thể sự, những hạn hẹp của kiếp người. Người "thủ chân" thường là người biết sống, có một ước mơ cao cả đề tìm cầu, để thực hiện trong suốt cuộc đời của mình. Họ sống thanh thoát và ra đi an lành. Họ sống giản dị và biết vượt qua những ưu phiền.

    4. Luyện hình

    Luyện hình được hiểu là rèn luyện cơ thể. Nói một cách thật dễ hiểu là tập luyện cho thân hình luôn luôn khỏe mạnh, cường tráng. Tục ngữ Pháp có câu : "Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể cường tráng" (Une âme saine dans un corps sain). Tập luyện cho cơ thể khỏe mạnh có rất nhiều cách. Từ tập thể dục thông thường đến đi bộ, bơi lội, đi xe đạp..v..v.. đều là những cách đơn giản và thông dụng.
    Nhưng luyện hình mà Tuệ Tỉnh muốn nói, không đơn giản chỉ là những động tác thể dục bình thường mà là những cách tập luyện toàn diện giúp cho nội lực luôn sung túc và đả thông được các huyệt đạo trong lục phủ, ngũ tạng. Cách luyện hình của người xưa tại Á Đông được truyền bá giới hạn trong các môn phái Yoga, Thiền và nhứt là trong các môn phái Khí Công. Để đạt được cả hai phần thể chất và tinh thần, Tiên Thiên Khí Công vừa có các cách luyện tập vận khí, đưa năng lượng Khí Trời trong sạch vào trong cơ thể làm thông các huyệt đạo, vừa đưa khí vào để biến tinh khí thành thần để thay thế thức ăn, thức uống.

    Ngoài các cách tập luyện về phần làm khang kiện thể chất, Tiên Thiên Khí Công cũng có phần tập an định về tinh thần để đạt được sư an lạc, tự tại. Người tập Tiên Thiên Khí Công kiên trì, theo đuổi lâu dài, thực hành đúng cách sẽ đạt được những kết quả to lớn cả thể chất lần tinh thần trong thế gian đầy ô trược và xã hội với bịnh tật tràn lan như hiện nay.

    Điều cần nói thêm là danh y Tuệ Tĩnh qua hai câu nói ngắn gọn, dễ nhớ, đã cho ta một phương châm vô cùng quý báu để sống thế nào cho đúng, sống thế nào cho khỏe mạnh, trường thọ, sống thế nào cho được an vui, hạnh phúc. Chắc chắn, là còn một phần tối hệ trọng khác, nhưng Tuệ Tĩnh không đề cập trong hai câu nói nổi tiếng này. Đó là điều mà Người muốn gửi gấm trong hai chữ “thủ chân” ở câu thứ hai. Vì bất cứ một thứ chân lý nào tồn tại trên thế gian này mà chỉ dừng lại ở những bất toàn, bất túc, những vô thường hằng ngày thì chưa thể gọi là chân lý theo nghĩa thật triệt để, nói cách khác là vẫn chưa giải quyết được tận gốc cuộc sống của con người. Nhưng, bất cứ một loại thành tựu nào, dù là thể chất hay tâm linh, dù vô thường hay vĩnh hằng đều phải là kết quả của những dụng công, những cố gắng và miệt mài áp dụng thực hành. Và tất nhiên, bất cứ một phương pháp hay một pháp môn nào muốn được thừa nhận đều cũng phải được chứng nghiệm, phải đưa đến kết quả chắc chắn. Còn ngược lại, một phương pháp chỉ có tính lý thuyết suông, lại mang nhiều điều không hữu lý, không mang tính khoa học thì nhứt định chúng ta không nên uổng thời giờ tìm hiểu và tất nhiên không nên thực hành.

    Tóm lại, qua hai câu :

    Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
    Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình.

    Danh y Tuệ Tĩnh đã nhắc nhở ta bảy điều tâm niệm cần phải nằm lòng để trở thành một người có cuộc sống khỏe mạnh, an vui, hạnh phúc, một thứ hạnh phúc chân thật, đúng nghĩa.

    Sưu tầm

    Danh y Tuệ Tĩnh và bí quyết trường thọ: tu dưỡng, rè luyện, ăn uống

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Y-võ  |  Read More»

    Danh y Tuệ Tĩnh từ lâu đã đưa ra một bí quyết trường thọ rất nổi tiếng. Bí quyết này được tóm tắt trong hai câu rất dễ nhớ sau :

    Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
    Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình.

    Chúng ta tìm hiểu bí quyết sống khỏe và trường thọ này vì nó liên quan mật thiết đến Tiên Thiên Khí Công, đồng thời bổ túc thêm những điều cần yếu chưa được đề cập. Hai câu trên bao gồm bảy ý niệm, tất cả đều cần được hiểu rõ và thực hành trong đời sống hằng ngày để sống lâu một cách khỏe mạnh, sáng suốt.


    1. Bế Tinh

    Tinh; tức chất tinh túy được cơ thể chắt lọc từ thức ăn, từ các chất bổ dưỡng nhứt. Tinh đầy đủ thì sức khỏe khang kiện, tính tình vui vẻ, hắng hái, yêu đời. tinh thiếu thốn thì thường bệnh hoạn,ốm đau, bi quan, buồn chán. Tinh bị mất nhiều nhất trong quan hệ vơ chồng, nam nữ. Nam giới thường bị mất mát nhiều hơn nữ giới, nhưng không có nghĩa là nữ giới không bị tổn hại nếu lạm dùng tình dục. Đàn ông thường có tuổi thọ ngắn hơn đàn bà là do tiêu phí tinh quá nhiều. Nhiều người già trước tuổi, sức khỏe suy kiệt nhanh chóng đến độ đi đứng không vững cũng do sự phí phạm chất tinh túy của cơ thể này. Ông vua điển hình của sự phí phạm tinh túy đến nỗi phải nằm trên long sàng là Lê Long Đĩnh, còn được gọi là Lê Ngọa Triều. Ngoài ra, trong lịch sử nhân loại có rất nhiều người do có thế lực,do giàu có đã quá lạm dụng tình dục, đưa đến hậu quả tất yếu là giảm sức khỏe, tinh thần suy kiệt, đầu óc mê muội, đời sống bị rút ngăn trong tối tăm, mịt mờ. Nhiều người, kể cả người có tuổi vẫn không biết chế ngự, vẫn không biết hạn chế,luôn luôn phí phạm tinh chất trong các cuộc truy hoan liên tục, đưa đến tình trạng bại hoại từ vật chất đến tinh thần. Vì thế Tuệ Tĩnh khuyên chúng ta nên bế tinh.

    Nhưng Bế Tinh là thế nào ? Có phải hoàn toàn diệt dục, tuyệt đối không giải quyết nhu cầu sinh lý không ? Tất nhiên, việc bế tinh hoàn toàn, suốt cuộc đời không đáp ứng nhu cầu tình dục như những vị tu hành xuất gia ngay khi từ còn nhỏ thì cuộc sống rất thanh cao, trí não sáng suốt đặc biệt, tu hành mau đắc quả. Nhưng, một cuộc sống thoát tục như thế không phải dễ dàng và không phải ai cũng làm được. Ở đây, chúng ta chỉ muốn đề cập đại đa số phàm nhân sống bình thường nhưng biết cách giữ gìn chất tinh túy trong cơ thể. Chữ bế tinh mà Tuệ Tịnh muốn nói đến có ý khuyên chúng ta nên hạn chế tình dục, không nên hoang phí quá độ. Biết khi nào tiêu xài và khi nào nên lưu trữ. Tiêu xài với ai, tiêu xài thế nào là điều luôn luôn phải được nghĩ đến. Đó là chưa nói đến việc tiêu xài không có chọn lọc và cẩn thận sẽ đưa đến bịnh tật hiểm nghèo bất trị nữa. Chúng tôi muốn nói đến bịnh AIDS của thời đại ngày nay. Thanh niên nam nữ kể cả những người có tuổi thường cũng ít suy nghĩ kỹ lưỡng về vấn đề này. Cứ giải quyết cho thỏa thích và bất chấp hậu quả ! Đó là điều thật đáng tiếc. Và Tiên Thiên Khí Công sẽ không giúp cho bạn được bao nhiêu nếu bạn không biết cách bế tinh để bảo toàn sức khỏe và nuôi dưỡng tinh thần.

    2. Dưỡng Khí

    Tinh và khí liên quan mật thiết. Có tinh thì dưỡng khí mới có kết quả. Người xưa thường nói "Tinh hóa khí". Dưỡng khí là đem năng lượng khí trời trong sạch vào hạ đơn điền để biến thành tinh khí, thành năng lực luân lưu khắp châu thân để bảo toàn sự sống. Vì thế muốn dưỡng khí hữu hiệu thì phải bế tinh, tức phải biết tiết dục. Tiết dục chứ không phải diệt dục. Tiết dục dễ hơn diệt dục nhiều. Khi tinh và khí đầy đủ, sung mãn thì bịnh tật rất khó xâm nhập, mà bịnh tật không xâm nhập được thì có phải là ta đã có được một cơ thể quý báu không ? Người luôn luôn khỏe mạnh hay chưa bị ngã bịnh thường rất để ý đến bịnh tật; nhưng khi ngã bịnh, đi đứng không bình thường, ăn ngủ không được, đau nhức hành hạ,lúc đó mới nhận thức được sự quý báu của sức khỏe. Mà nhận thức được như thế nhiều lần thì cuộc đời còn gì là ý nghĩa, hứng thứ nữa? "Bệnh" là nỗi khổ triền miên mà nhân loại đang oằn oại gánh chịu, không thoát ra được. Nhiều thứ bịnh của con người không sao kể cho ra hết, nhưng phần lớn đều do mình tạo ra, không ai có thể gây bịnh cho ta được. Trừ trường hợp bẩm sinh, hầu hết chúng ta đều được sinh ra với một cơ thể bình thường. Nên nếu biết cách sống, ta có thể tránh được nhiều loại bịnh tật. Vậy tại sao chúng ta không chịu tìm hiểu để áp dụng cho cuộc sống của mình thêm hạnh phúc. Phải bế tinh thì dưỡng khí mới có kết quả. Tinh cạn kiệt thì khí không thể điều động để trở thành năng lực nuôi sống, bảo toàn sức khỏe một cách tốt nhứt được.

    3. Tồn thần

    Tinh khí đầy đủ chẳng những giúp cho cơ thể khỏe mạnh mà còn giúp cho tinh thần sáng suốt, tinh nhanh. Thần là sắc khí của một con người thường hiện ra trên sắc mặt, trong cặp mắt. Khí và tinh hợp lại biến thành thần khí hay thần sắc. Nhìn sắc diện một người, chúng ta có thể nhận ra được ngay họ có thần sắc hay không. Thần sắc đầy đủ thể hiện một sự lạc quan yêu đời, một cuộc sống sung mãn, thánh thiện. Con người có thể chất tinh thần, cả hai liên quan chặt chẽ với nhau. Không thể có một tinh thần trong một cơ thể bịnh hoạn được. Tinh -khí - thần liên quan chặt chẽ với nhau, vì thế phải giữ tinh để hóa khí và từ tinh khí sẽ biến thành thần sắc. Nhưng chữ "tồn thần" cũng phải được hiểu là "giữ thần", tồn thần là còn, là giữ gìn cho còn. Thần sắc được tinh khí tạo ra, nhưng phải được bảo tồn, nếu hoang phí thần thì cũng giống như hoang phi tính và khí. Tồn thần hay dưỡng thần cũng giống như ta sử dụng điện năng. Được cung cấp nhiều thì khả năng tồn giữ không mất, lại dồi dào thêm. Ngược lại, tiêu xài nhiều, tiêu phí nhiều thì khả năng tồn giữ bị tiêu hao. Thần bị tán, bị mất khi ta suy nghĩ,làm việc nhiều bằng trí não, nói chuyện nhiều hoặc chăm chú xem hay nghe, kể cả xem truyền hình và nghe đài phát thanh, làm việc nhiều bằng máy tính. Thần cũng bị tán khi ta có quá nhiều cảm xúc dễ giận hờn, thù oán, nhiều tham vọng hay tự cao, tự đại. Thần được lưu giữ nhờ sự bình an trong tâm hồn, nhờ giấc ngủ yên lành không mộng mị. Tóm lại, ta phải tập cho mình một phong thái sống, nếp sống, một thời khóa biểu cho sự làm việc và nghỉ ngơi. Chúng ta cần thuộc lòng câu nói sau đây: Tinh túc thì ít bệnh. Khí túc thì ít ăn. Thần túc thì ít ngủ.

    Chúng ta vừa tìm hiểu ba ý niệm: Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần. Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu bốn ý niệm của câu thứ hai : "Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình".

    1. Thanh tâm

    Tâm, nghĩa hẹp là lòng, là tấm lòng, rộng hơn là phần tinh thần cũng gọi là tâm hồn, tức là phần điều khiển tất cả mọi sinh hoạt của thể xác. Mà phần tinh thần của con người thì bao gồm rất nhiều thứ, từ tình cảm, lý trí, khả năng suy tưởng, khả năng sáng tác và các khả năng đặc biệt khác.

    Chính nhờ phần "tâm này" mà loài người mới có tiến bộ và có cuộc sống khác hơn loài vật, mới được gọi là "linh ư vạn vật". Còn chữ "thanh" được hiểu là sự trong sạch, thanh khiết không bị vướng bất cứ một thứ cặn bã nào. Sự hướng thượng, lòng khoan dung, sự tha thứ, sẵn sàng làm điều tốt, điều thiện mưu cầu lợi ích cho người khác" thuộc thanh. Người luôn luôn thanh tâm là người luôn có cuộc sống an lành nhờ tâm hồn được nuôi dưỡng bằng những tình cảm, tư tưởng thanh cao, tốt đẹp. Vì thế,họ luôn luôn được an vui, hạnh phúc. Chính nguồn vui, hạnh phúc này giúp họ có đời sống rất khỏe mạnh và an lạc.

    2. Quả dục

    Dục là ham muốn, đòi hỏi, thèm khát. Quả dục là giảm thiểu sự ham muốn, sự đòi hỏi, sự thèm khát. Tham vọng càng nhiều, thất vọng càng lớn. Chính vì lòng ham muốn này đã dẫn dắt không biết bao nhiêu người đi vào vực sâu, mất an vui, hạnh phúc và gần nhất là là sức khỏe bị suy mòn, tinh thần bị lụn bại. Vì thế muốn, nếu muốn khỏe mạnh và sống lâu thì phải biết chế ngự lòng ham muốn, tính tham lam, thèm khát. Lòng ham muốn vô bờ biến giống như những cơn sóng to làm chìm đắm tất cả mọi sự bình an. Phải biết sống an vui với những gì mang đang có, biết "tri túc" thì cuộc sống sẽ tốt đẹp và có ý nghĩa. Người xưa thường khuyên ta : "Tri túc thường lạc" hoặc "Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc". Nghĩa là biết đủ thì sẽ luôn được an vui, hoặc biết đủ, an hưởng cái đủ, còn chờ đủ thì không bao giờ đủ cả..

    3. Thủ chân

    Thủ là giữ. Chân là chân lý. Thủ chân tức là luôn luôn theo đuổi một điều gì mình cho là chân lý,là lý tưởng. Đời người phải hướng về một mục đích nào đó để phục vụ, để thờ phượng thì cuộc sống mới có ý nghĩa. Thật là tội nghiệp cho bất cứ ai cứ tưởng phương tiện là mục đích. Nếu biến phương tiện thành mục đích thì con người sẽ trở thành nô lệ cho những đối tượng tầm thường. Rất nhiều người coi tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, danh vọng, sắc đẹp là mục đích trong khi chúng chỉ là phương tiện, nên cả đời họ chỉ lo chạy theo những thứ vật chất mau đổi thay, mau tan rã, không tồn tại lâu dài này. Tự biến mình thành nô lệ mà mình không bao giờ tỉnh thức.

    Người biết sống, người sáng suốt lúc nào cũng phân biệt rõ được phương tiện và mục đích. Họ luôn luôn làm chủ đời sống chứ không bao giờ trở thành nô lệ. Mục đích của họ có thể có nhiều nhưng mục đích cùng tột cao cả nhứt là sự giải thoát khỏi những ưu phiền của thể sự, những hạn hẹp của kiếp người. Người "thủ chân" thường là người biết sống, có một ước mơ cao cả đề tìm cầu, để thực hiện trong suốt cuộc đời của mình. Họ sống thanh thoát và ra đi an lành. Họ sống giản dị và biết vượt qua những ưu phiền.

    4. Luyện hình

    Luyện hình được hiểu là rèn luyện cơ thể. Nói một cách thật dễ hiểu là tập luyện cho thân hình luôn luôn khỏe mạnh, cường tráng. Tục ngữ Pháp có câu : "Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể cường tráng" (Une âme saine dans un corps sain). Tập luyện cho cơ thể khỏe mạnh có rất nhiều cách. Từ tập thể dục thông thường đến đi bộ, bơi lội, đi xe đạp..v..v.. đều là những cách đơn giản và thông dụng.
    Nhưng luyện hình mà Tuệ Tỉnh muốn nói, không đơn giản chỉ là những động tác thể dục bình thường mà là những cách tập luyện toàn diện giúp cho nội lực luôn sung túc và đả thông được các huyệt đạo trong lục phủ, ngũ tạng. Cách luyện hình của người xưa tại Á Đông được truyền bá giới hạn trong các môn phái Yoga, Thiền và nhứt là trong các môn phái Khí Công. Để đạt được cả hai phần thể chất và tinh thần, Tiên Thiên Khí Công vừa có các cách luyện tập vận khí, đưa năng lượng Khí Trời trong sạch vào trong cơ thể làm thông các huyệt đạo, vừa đưa khí vào để biến tinh khí thành thần để thay thế thức ăn, thức uống.

    Ngoài các cách tập luyện về phần làm khang kiện thể chất, Tiên Thiên Khí Công cũng có phần tập an định về tinh thần để đạt được sư an lạc, tự tại. Người tập Tiên Thiên Khí Công kiên trì, theo đuổi lâu dài, thực hành đúng cách sẽ đạt được những kết quả to lớn cả thể chất lần tinh thần trong thế gian đầy ô trược và xã hội với bịnh tật tràn lan như hiện nay.

    Điều cần nói thêm là danh y Tuệ Tĩnh qua hai câu nói ngắn gọn, dễ nhớ, đã cho ta một phương châm vô cùng quý báu để sống thế nào cho đúng, sống thế nào cho khỏe mạnh, trường thọ, sống thế nào cho được an vui, hạnh phúc. Chắc chắn, là còn một phần tối hệ trọng khác, nhưng Tuệ Tĩnh không đề cập trong hai câu nói nổi tiếng này. Đó là điều mà Người muốn gửi gấm trong hai chữ “thủ chân” ở câu thứ hai. Vì bất cứ một thứ chân lý nào tồn tại trên thế gian này mà chỉ dừng lại ở những bất toàn, bất túc, những vô thường hằng ngày thì chưa thể gọi là chân lý theo nghĩa thật triệt để, nói cách khác là vẫn chưa giải quyết được tận gốc cuộc sống của con người. Nhưng, bất cứ một loại thành tựu nào, dù là thể chất hay tâm linh, dù vô thường hay vĩnh hằng đều phải là kết quả của những dụng công, những cố gắng và miệt mài áp dụng thực hành. Và tất nhiên, bất cứ một phương pháp hay một pháp môn nào muốn được thừa nhận đều cũng phải được chứng nghiệm, phải đưa đến kết quả chắc chắn. Còn ngược lại, một phương pháp chỉ có tính lý thuyết suông, lại mang nhiều điều không hữu lý, không mang tính khoa học thì nhứt định chúng ta không nên uổng thời giờ tìm hiểu và tất nhiên không nên thực hành.

    Tóm lại, qua hai câu :

    Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần
    Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình.

    Danh y Tuệ Tĩnh đã nhắc nhở ta bảy điều tâm niệm cần phải nằm lòng để trở thành một người có cuộc sống khỏe mạnh, an vui, hạnh phúc, một thứ hạnh phúc chân thật, đúng nghĩa.

    Sưu tầm

    VÔ DƯỢC LIỆU PHÁP 

    Tùy sự phát triển của văn minh nhân loại, trình độ gánh vác của tinh thần và lao nhọc của thể xác cũng theo đó gia tăng, khiến bệnh tật ngày càng phức tạp khó trị. Cách trị liệu của y học hiện hữu chẳng thể giải quyết sự mâu thuẫn này. Đối với bệnh ung thư, sida và những bệnh nan y quái lạ do tinh thần căng thẳng gây nên, cảm thấy vô phương đối trị. Đứng trên lý luận triết học, từ gốc độ vật lý hóa học đến sinh lý giải phẫu để xem xét, nguyên nhân căn bản không thể nhận thức bản chất của bệnh tật là do cố chấp lý luận không gian ba chiều tự tạo chướng ngại. Câu hỏi cần thiết là tại sao những khu phát triển kinh tế với trình độ văn hóa càng cao thì càng xuất hiện những bệnh tật mới lạ và tỷ lệ phát bệnh càng nhiều càng khó trị ? Xu hướng xuất hiện bệnh văn minh ngày càng nhiều, chẳng thể giải thích.

    Do đó, vô dược liệu pháp ắt được người ta chú trọng, cuối cùng sẽ kiến lập một thể hệ y học mới.

    Theo hiện tượng mà chúng tôi đã biết, đối với những bệnh tật có tánh tiềm ẩn trong cơ thể và do tình dục phát triển quá mạnh, làm cho chức năng của tạng phủ gánh vác không nổi, cuộc sống thất thường, lâu ngày rồi sinh ra quái bệnh. những phương pháp đối trị những bệnh tật kể trên bằng vô dược liệu pháp vừa giản dị lại mau có công hiệu.

    Vô dược liệu pháp xưa nay các nước đều có, nếu sưu tập lại có thể thành một hệ thống cụ thể, nay diển tả theo từng môn loại, trong đó có cái thì có pháp mà vô lý, có cái thuộc về bí truyền, khó giải thích theo lý luận khoa học hiện đại; có cái thuộc bất khả tư nghì, thậm chí nghiêng về tính cách mê tín, các chuyên gia không dám tiếp xúc, e sợ ảnh hưởng đến sự nghiêm túc của kỹ thuật khoa học. Nhưng đối với những người mang bệnh đã lâu, bị y học chánh thống phán đoán cho là không còn hy vọng, chẳng có lối thoát, vì sự khát vọng cầu sống mà áp dụng vô dược liệu pháp lại được lành bệnh một cách kỳ lạ.

    Do đó chúng tôi quy nạp tất cả vô dược liệu pháp, phân ra thứ lớp và môn loại, thành 12 loại như sau :

    1.- KHÍ CÔNG LIỆU PHÁP

    Khí công liệu pháp là một điển hình của vô dược liệu pháp, hiện tượng khí công là hiện tượng hoạt động của tâm lý và sinh lý đặc biệt, khác hơn người thường. Kỹ thuật khí công là một thứ kỹ thuật phản nghịch quy luật thường, kỹ thuật này được biểu hiện ra dưới trạng thái công năng đặc biệt, là một thứ kỹ thuật mà người thường không có khả năng xử dụng, chỉ có những người đã thông qua tu luyện như kích phát, dẫn dụ, truyền thọ, cảm ứng mới có công năng để xử dụng, ví như xem xa, biết xa, chẩn đoán bằng xem thấu vật chất như X quang, cho đến ý niệm dời vật v.v…

    Khí công liệu pháp có sự tồn tại chơn thật, đã được giới khoa học công nhận, nên xếp loại lớp thứ nhất của vô dược liệu pháp.

    2.- LIỆU PHÁP CÔNG NĂNG ĐẶC BIỆT BẨM SINH

    Có người sinh ra tự có công năng đặc biệt, có thể gọi là " khí công sẵn có". Người có công năng đặc biệt giống như nhà khí công, cũng là tiềm năng của sinh mạng hiện ra công năng phản nghịch qui luật thường.

    Kỳ thật, cách đoán bệnh trị bệnh của người công năng đặc biệt rất đơn giản, khéo hơn nhà khí công và thần hiệu hơn, các thứ trị liệu khác không thể so sánh, cũng thuộc một thứ vô dược liệu pháp.

    3.- KINH LẠC LIỆU PHÁP

    Kinh lạc gồm châm cứu, điểm huyệt, xoa bóp v.v… Đông y đem kết hợp với khí công, thì công hiệu trị liệu được tăng cường nhiều hơn là chỉ dùng mỗi thứ riêng biệt.

    Kinh lạc chẳng thể thấy, chẳng thể mò, mà Đông y lại đặt ra một hệ thống cụ thể rõ ràng, vẽ ra biểu đồ đầy đủ mọi kinh lạc trong cơ thể, dù sinh lý giải phẫu tìm không ra nó, nhưng đại học y khoa phương Tây lại đặt ra khoa châm cứu, có bằng cấp tốt nghiệp được chính phủ công nhận, vậy có thể chứng tỏ người xưa dùng siêu ngũ giác quan để cảm nhận tin tức ẩn tánh trong cơ thể cũng là điều hợp lý.

    4.- TỊCH CỐC TUYỆT THỰC LIỆU PHÁP

    Nguồn năng lượng của con người là do thức ăn đưa vào bao tử và ruột, thông qua phản ứng hóa học sinh ra nhiệt lượng và dinh dưỡng cần thiết của cơ thể, nếu không cần lương thực bằng vật chất mà được trực tiếp thu hút năng lượng trong không gian để nuôi dưỡng cơ thể, chẳng cần ăn cơm thì phương tiện biết bao !

    Nếu thật chẳng cần ăn cơm thì chẳng sanh ra cái khổ "bệnh từ miệng vào", có sự kỳ lạ hơn là đang lúc tịch cốc, sinh lý của cơ thể có thể tự điều chỉnh quân bình mà lành bệnh và giữ sức khỏe.

    Ở Hàng Châu Trung Quốc, có một nhà khí công tên Trương Vinh Đường, truyền thọ kỹ thuật khí công tịch cốc rất kỳ lạ: Ông ấy chẳng cần trực tiếp phát công trị bệnh, bệnh nhân chẳng cần luyện công, có thể xuất hiện trạng thái tịch cốc, chẳng cần ăn uống mà khỏe mạnh và làm việc như thường, đồng thời các thứ bệnh kinh niên cũng được dần dần giảm bớt và tiêu trừ. Kỳ thật đối với phương pháp này cũng chẳng nên nghi ngờ, các nước tân tiến cũng có áp dụng tuyệt thực liệu pháp, đều có công hiệu, chỉ là hiện nay chưa được các học giả xem trọng, lại, đối với người tham ăn cũng không muốn chấp nhận, nghĩa là chưa đến bước đường cùng thì đa số bệnh nhân không chịu chọn cách nhịn đói để chữa bệnh !

    Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là sự phát triển theo qui luật biến hóa của sinh lý con người, sự phát triển từ phức tạp đến đơn giản, từ thức ăn hữu hình tiến đến thức ăn vô hình (năng lượng), dần dần phát triển tiến hóa, cuối cùng cắt tuyệt nguyên do phát bệnh và giải quyết vấn đề căn bản của sinh lão bệnh tử. Do đó, tịch cốc liệu pháp sẽ được chúng ta xem trọng.

    5.- Ý NIỆM LIỆU PHÁP

    Ý niệm là một thứ lực bằng năng lượng, khác với lực cơ điện, gán tên cho nó gọi là động lực ẩn tánh. Năng lượng ý niệm đã được nghiệm chứng có sự tồn tại khách quan, ở đây chúng tôi muốn nói về dùng ý niệm lực có thể trị bệnh, việc này đã là chuyện thường đối với nhà khí công.

    Trong thập niên 50, Liên Xô đã áp dụng phương pháp sanh đẻ không đau, cũng có hiệu quả: Bác sĩ dùng ý niệm cương quyết bảo người sản phụ rằng việc sinh con vốn chẳng đau đớn, sở dĩ cảm thấy đau là do tinh thần lo sợ mà ra. YÙ niệm này khi được sản phụ chấp nhận và đủ lòng tin phối hợp thì sẽ có công hiệu, ý niệm càng kiên cố càng được hiệu quả. Trường hợp nếu sản phụ cho đó chỉ là lời an ủi, do không tin mà cảm thấy hoang mang thì ý niệm lực phát ra chẳng được tiếp nhận, ắt phải thất bại. Theo đó có thể chứng tỏ sự hiệu ứng của ý niệm lực.

    Tất cả nhà khí công được hiệu ứng trong trị liệu đều liên quan đến sự hoạt động của ý niệm. Phương pháp của họ có ba tầng lớp: Kích phát ngoại khí, bắn ra ý niệm lực và điều khiển tin tức. Sau khi hiểu được cơ chế của ý niệm lực, người chẳng biết khí công vẫn có thể dùng ý niệm để chữa bệnh, chẳng phải chỉ có nhà khí công mới trị bệnh bằng ý niệm lực; như sự cầu nguyện của Tin lành, trì chú của Mật tông, tụng kinh của Đạo giáo, Phật giáo, cho đến hoạt động tế thần của những bộ lạc nguyên thủy ở Châu Phi v.v… trong lúc vô ý mà lợi dụng ý niệm lực cũng được phát huy hiệu ứng trị liệu.

    6.- TIN TỨC LIỆU PHÁP

    Nội dung của tin tức có hai: Một thứ có thể thấy nghe, như bùa chú, đồ hình, vật tin tức của Đạo gia, âm nhạc, chuông trống, tụng ki nh của nhà Phật, dùng các loại tin tức thông qua sự thấy nghe để thỏa mãn nhu cầu của con người. một thứ thuộc vô hình, chẳng thể thấy nghe, như làn sóng tin tức, quán tưởng sinh linh trên hành tinh, quán tâm linh của chính mình, thầm tưởng các thứ bí quyết và khẩu lệnh bằng mật mã.

    Người bệnh nếu có ý niệm tin tưởng mãnh liệt và có người hướng dẫn, giúp đở, hợp tác tăng cường, sẽ hình thành làn sóng tin tức, điều khiển ý niệm lực để trị bệnh, cũng được hiệu ứng mau chóng.

    Tin tức liệu pháp xưa nay đã lưu truyền mấy ngàn năm, các nước đều có, nhất là ở các bộ lạc và dân tộc thiểu số còn gặp nhiều hơn, nhưng họ thường bị người văn minh cho là mê tín, nhưng lòng tin của họ rất vững chắc, không sợ phê phán và ngăn cấm, sự thật hiện nay vẫn còn tồn tại.

    Tin tức liệu pháp có nhiều hình thức, như rửa tội, xoa đầu an ủi, ban phước, chiêu hồn, đuổi tà v.v…trong hoạt động tôn giáo, và tin tức thủy, tin tức nhạc, tin tức viết, tin tức quạt … của người có công năng đặc biệt và nhà khí công, có thể điều khiển sinh lý hoạt động của tin tức, siêu việt thời gian không gian để chẩn đoán, trị liệu bệnh nhân bất cứ xa gần.

    Nói tóm lại, ý niệm trị liệu mở mang phát triển, ắt sẽ dẫn ra tin tức trị liệu, nghĩa là thúc đẩy công năng của ý niệm trị liệu lên tầng lớp cao hơn.

    7.- NHẬP ĐỊNH TƯ DUY TRỊ LIỆU

    Tư duy trị liệu có bốn chữ yếu quyết: Buông, tịnh, hư, rỗng. Trước tiên buông xã thân tâm của chính mình, nếu đã làm được thì thân tâm có thể nghỉ ngơi đầy đủ, theo qui luật điều chỉnh sinh lý. Sau khi buông xã thân tâm rồi có thể nhập tịnh, do tịnh sanh huệ, do tịnh tăng trí, trạng thái tịnh có thể khiến sự rối loạn của thân tâm khôi phục trật tự quân bình mà đạt đến mục đích trị liệu.

    Thông thường trạng thái tịnh khó giữ được thời gian lâu dài, chân thật thâm sâu, thực hiện " tư duy trống rỗng" chẳng phải dễ, nên dùng một niệm thay trăm niệm; một niệm còn thì trăm niệm tiêu; một niệm này tức là niệm của tư duy siêu phàm. Nói "tư duy" chẳng phải lo nghĩ việc ăn mặc đi ở, danh lợi thành bại của thế gian, tư duy tức quán tưởng chơn lý của nhân sinh vũ trụ, giống như tham thoại đầu của Thiền tông.

    Tư duy sinh ra hiệu ứng, có thể điều chỉnh trạng thái sinh lý, khiến thân tâm tự nhiên quân bình, trong đó bao gồm dưỡng sinh, ngộ đạo, mở mang trí tuệ, gọi là minh tâm kiến tánh. Tư duy chú trọng nhập tịnh, giống như tịnh công của khí công, từ buông đến tịnh, đạt đến tánh không, quên mình, Lão Tử gọi là "vô vi"; vô vi mới có thể vô sở bất vi, quên mình thì quên hết phiền não thế gian, tâm linh sáng tỏ thì khí huyết điều hòa, bệnh từ đâu đến ?

    8.- THIỀN ĐỊNH LIỆU PHÁP

    Tư duy tiến vào cảnh giới tầng lớp cao hơn tức là tịnh lự, cũng gọi là "Thiền". Thiền tọa kéo dài, đạt đến trạng thái tối cao gọi là thiền định, được nhập thiền định sẽ siêu thoát tất cả lo âu tính toán của việc thế gian, gọi là "vô niệm" (chẳng có vọng niệm). Thiền định đến cảnh giới cao tột, không những có thể tiêu trừ bệnh tật, còn có thể không nhờ ăn uống mà duy trì sinh mạng lâu dài cho đến mấy trăm năm.

    Liệu pháp này rất khó thực dụng trong đời sống căng thẳng ngày nay, luôn cả tuyên truyền cũng khó được người ta tiếp nhận, nhưng nó thuộc về liệu pháp thượng hạng, người ham tu hành đa số đều hiểu lý này.

    9.- TÂM LÝ LIỆU PHÁP

    Pháp này xuất phát từ phương Tây, sau này theo khoa học hiện đại truyền sang phương Đông, Tâm lý học lại hình thành một môn học trong sách giáo khoa. Tâm lý liệu pháp luôn tồn tại nơi lâm sàng của bệnh viện, bác sĩ dùng an ủi liệu pháp, bảo đảm liệu pháp v.v… đều thuộc phạm vi của tâm lý liệu pháp. có người cho rằng bệnh nhân ung thư thường chết vì sợ hãi, chẳng phải vô lý: do tinh thần lo âu ảnh hưởng sức khỏe, điều đó ai cũng biết, bệnh nhân thiếu lòng tin thì bệnh khó trị, là dựa trên quan điểm Tâm lý học.

    Có người nói "khí công cũng là tâm lý liệu pháp" ấy là sai, phải nói là trong khí công liệu pháp có xử dụng tâm lý liệu pháp, nhưng chẳng đồng nhau. Tâm lý liệu pháp của phương Tây còn nông cạn, thuộc dạng bị động, họ chẳng thể dùng nhân tố tích cực trong cơ thể sinh mạng của bệnh nhân điều khiển tiềm năng sinh lý của họ. Nếu chỉ đơn thuần xử dụng tâm lý liệu pháp thường không đủ công hiệu, lại chẳng dễ gì được bệnh nhân tiếp nhận lâu dài, nếu bệnh nhân cho đó là sự thương xót an ủi thì mất linh nghiệm.

    Tâm lý liệu pháp phải kết hợp với các liệu pháp khác, khiến bệnh nhân tin tưởng tự sanh ra hiệu ứng của tâm lý họ, dùng ý chí lực tự điều chỉnh chính mình, như lời Đông y nói "thần lãnh hình, linh chủ mạng, khí thống huyết", từ đó thần an thì hình bất loạn, tâm bình thì thể tự hòa, nghĩa là do khả năng của chính mình thực hành tâm lý liệu pháp, mới trở thành một phương pháp kỳ diệu.

    10.- SÁM HỐI LIỆU PHÁP

    Trong cuộc đời của con người, đôi lúc vì làm ra việc xấu việc lầm rồi ghi nhớ hình ảnh trong tâm, sanh lòng hối hận tự trách chẳng thể giải tỏa, chôn vùi trong thâm tâm hình thành một khối độc hại, ảnh hưởng sức khỏe, gọi là tâm bệnh. do đó, tâm lý liệu pháp kể trên đã phát triển thêm một liệu pháp gọi là sám hối liệu pháp, cũng như người phương Tây thú tội trước Hồng y giáo chủ, cầu xin Thượng Đế xã tội; tín đồ của tôn giáo phương Đông cũng có sự hoạt động về sám hối, như tụng kinh bái sám để tiêu trừ bệnh ẩn mật đó, giải tỏa áp lực của tinh thần mà khôi phục lại sức khỏe.

    Sám hối liệu pháp vô hình để thấy, nhưng thường có công hiệu chơn thật. Muốn có hiệu ứng chơn thật, cần phải dùng lòng tin tưởng của mình, cầu trời làm chứng, thành kính sám hối, mới được công hiệu.

    11.- NGŨ HÀNH LIỆU PHÁP

    Sự hình thành của quả địa cầu là nhờ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, sự sinh tồn của người địa cầu cũng là nhờ nhân tố của kim mộc thủy hỏa thổ làm hữu cơ phối hợp mà thành. Khi sự phối hợp của ngũ hành mất qui luật thì sinh ra bệnh tật.

    Ngũ hành liệu pháp dùng mọi thứ riêng biệt để trị bệnh, cũng như kim dùng tiếng chuông để thay thế, mộc tức là ẩn khí của cây cối, thủy là nước suối, như tắm suối nóng, tắm nước tin tức, tắm hơi … hỏa là ánh sáng, là quang tuyến, như tắm nắng, trị liệu bằng tia sáng … thổ là tắm sình, tịnh dưỡng trong hang núi, đi chân không dẫm trên mặt đất, dạo chơi ngoại ô… Tóm lại, đối với ngũ hành liệu pháp, Đông y đã nghiên cứu ra một hệ thống cụ thể, có lý luận hoàn chỉnh, nếu biết cách xử dụng cũng rất công hiệu.

    12.- THÔI MIÊN LIỆU PHÁP

    Thôi miên liệu pháp đối với những bệnh hư tổn có nhiều công hiệu hơn, có người vì sinh kế mà lao tâm lao lực quá mức, lâu ngày thành bệnh, nếu được nghỉ ngơi đầy đủ để giảm bớt mỏi mệt, khôi phục sức khỏe, nhân công liệu pháp cũng là một trong những pháp đó. Khi vào được trạng thái thôi miên thì thể xác và tinh thần đều có dịp nghỉ ngơi và tự điều chỉnh quân bình, khi ngủ một giấc ngon lành thức dậy thì cảm thấy tinh thần khỏe mạnh.

    Người đủ điều kiện có thể tự mình thôi miên, khỏi nhờ nhà khí công và thầy thôi miên thì tiện hơn nhiều. Có người muốn tự thôi miên, đếm hơi thở trong tâm hoặc nghe tiếng tíc tắc của đồng hồ thường chẳng có công hiệu, ấy là vì ông chưa đủ khả năng thôi miên. Kỳ thật phương pháp thôi miên chẳng phải khó học, ai cũng có thể tự học thử, chủ yếu là luyện tập bốn chữ :Buông, tịnh, hư, rỗng đã đề cập trong điều " nhập tịnh tư duy liệu pháp" ở trên, người muốn học thôi miên cứ theo đó thực hành.

    Hiện nay Trung Quốc dùng cách thôi miên.

    Hoà thượng Thích Duy Lực

    Khí công liệu pháp - phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    VÔ DƯỢC LIỆU PHÁP 

    Tùy sự phát triển của văn minh nhân loại, trình độ gánh vác của tinh thần và lao nhọc của thể xác cũng theo đó gia tăng, khiến bệnh tật ngày càng phức tạp khó trị. Cách trị liệu của y học hiện hữu chẳng thể giải quyết sự mâu thuẫn này. Đối với bệnh ung thư, sida và những bệnh nan y quái lạ do tinh thần căng thẳng gây nên, cảm thấy vô phương đối trị. Đứng trên lý luận triết học, từ gốc độ vật lý hóa học đến sinh lý giải phẫu để xem xét, nguyên nhân căn bản không thể nhận thức bản chất của bệnh tật là do cố chấp lý luận không gian ba chiều tự tạo chướng ngại. Câu hỏi cần thiết là tại sao những khu phát triển kinh tế với trình độ văn hóa càng cao thì càng xuất hiện những bệnh tật mới lạ và tỷ lệ phát bệnh càng nhiều càng khó trị ? Xu hướng xuất hiện bệnh văn minh ngày càng nhiều, chẳng thể giải thích.

    Do đó, vô dược liệu pháp ắt được người ta chú trọng, cuối cùng sẽ kiến lập một thể hệ y học mới.

    Theo hiện tượng mà chúng tôi đã biết, đối với những bệnh tật có tánh tiềm ẩn trong cơ thể và do tình dục phát triển quá mạnh, làm cho chức năng của tạng phủ gánh vác không nổi, cuộc sống thất thường, lâu ngày rồi sinh ra quái bệnh. những phương pháp đối trị những bệnh tật kể trên bằng vô dược liệu pháp vừa giản dị lại mau có công hiệu.

    Vô dược liệu pháp xưa nay các nước đều có, nếu sưu tập lại có thể thành một hệ thống cụ thể, nay diển tả theo từng môn loại, trong đó có cái thì có pháp mà vô lý, có cái thuộc về bí truyền, khó giải thích theo lý luận khoa học hiện đại; có cái thuộc bất khả tư nghì, thậm chí nghiêng về tính cách mê tín, các chuyên gia không dám tiếp xúc, e sợ ảnh hưởng đến sự nghiêm túc của kỹ thuật khoa học. Nhưng đối với những người mang bệnh đã lâu, bị y học chánh thống phán đoán cho là không còn hy vọng, chẳng có lối thoát, vì sự khát vọng cầu sống mà áp dụng vô dược liệu pháp lại được lành bệnh một cách kỳ lạ.

    Do đó chúng tôi quy nạp tất cả vô dược liệu pháp, phân ra thứ lớp và môn loại, thành 12 loại như sau :

    1.- KHÍ CÔNG LIỆU PHÁP

    Khí công liệu pháp là một điển hình của vô dược liệu pháp, hiện tượng khí công là hiện tượng hoạt động của tâm lý và sinh lý đặc biệt, khác hơn người thường. Kỹ thuật khí công là một thứ kỹ thuật phản nghịch quy luật thường, kỹ thuật này được biểu hiện ra dưới trạng thái công năng đặc biệt, là một thứ kỹ thuật mà người thường không có khả năng xử dụng, chỉ có những người đã thông qua tu luyện như kích phát, dẫn dụ, truyền thọ, cảm ứng mới có công năng để xử dụng, ví như xem xa, biết xa, chẩn đoán bằng xem thấu vật chất như X quang, cho đến ý niệm dời vật v.v…

    Khí công liệu pháp có sự tồn tại chơn thật, đã được giới khoa học công nhận, nên xếp loại lớp thứ nhất của vô dược liệu pháp.

    2.- LIỆU PHÁP CÔNG NĂNG ĐẶC BIỆT BẨM SINH

    Có người sinh ra tự có công năng đặc biệt, có thể gọi là " khí công sẵn có". Người có công năng đặc biệt giống như nhà khí công, cũng là tiềm năng của sinh mạng hiện ra công năng phản nghịch qui luật thường.

    Kỳ thật, cách đoán bệnh trị bệnh của người công năng đặc biệt rất đơn giản, khéo hơn nhà khí công và thần hiệu hơn, các thứ trị liệu khác không thể so sánh, cũng thuộc một thứ vô dược liệu pháp.

    3.- KINH LẠC LIỆU PHÁP

    Kinh lạc gồm châm cứu, điểm huyệt, xoa bóp v.v… Đông y đem kết hợp với khí công, thì công hiệu trị liệu được tăng cường nhiều hơn là chỉ dùng mỗi thứ riêng biệt.

    Kinh lạc chẳng thể thấy, chẳng thể mò, mà Đông y lại đặt ra một hệ thống cụ thể rõ ràng, vẽ ra biểu đồ đầy đủ mọi kinh lạc trong cơ thể, dù sinh lý giải phẫu tìm không ra nó, nhưng đại học y khoa phương Tây lại đặt ra khoa châm cứu, có bằng cấp tốt nghiệp được chính phủ công nhận, vậy có thể chứng tỏ người xưa dùng siêu ngũ giác quan để cảm nhận tin tức ẩn tánh trong cơ thể cũng là điều hợp lý.

    4.- TỊCH CỐC TUYỆT THỰC LIỆU PHÁP

    Nguồn năng lượng của con người là do thức ăn đưa vào bao tử và ruột, thông qua phản ứng hóa học sinh ra nhiệt lượng và dinh dưỡng cần thiết của cơ thể, nếu không cần lương thực bằng vật chất mà được trực tiếp thu hút năng lượng trong không gian để nuôi dưỡng cơ thể, chẳng cần ăn cơm thì phương tiện biết bao !

    Nếu thật chẳng cần ăn cơm thì chẳng sanh ra cái khổ "bệnh từ miệng vào", có sự kỳ lạ hơn là đang lúc tịch cốc, sinh lý của cơ thể có thể tự điều chỉnh quân bình mà lành bệnh và giữ sức khỏe.

    Ở Hàng Châu Trung Quốc, có một nhà khí công tên Trương Vinh Đường, truyền thọ kỹ thuật khí công tịch cốc rất kỳ lạ: Ông ấy chẳng cần trực tiếp phát công trị bệnh, bệnh nhân chẳng cần luyện công, có thể xuất hiện trạng thái tịch cốc, chẳng cần ăn uống mà khỏe mạnh và làm việc như thường, đồng thời các thứ bệnh kinh niên cũng được dần dần giảm bớt và tiêu trừ. Kỳ thật đối với phương pháp này cũng chẳng nên nghi ngờ, các nước tân tiến cũng có áp dụng tuyệt thực liệu pháp, đều có công hiệu, chỉ là hiện nay chưa được các học giả xem trọng, lại, đối với người tham ăn cũng không muốn chấp nhận, nghĩa là chưa đến bước đường cùng thì đa số bệnh nhân không chịu chọn cách nhịn đói để chữa bệnh !

    Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là sự phát triển theo qui luật biến hóa của sinh lý con người, sự phát triển từ phức tạp đến đơn giản, từ thức ăn hữu hình tiến đến thức ăn vô hình (năng lượng), dần dần phát triển tiến hóa, cuối cùng cắt tuyệt nguyên do phát bệnh và giải quyết vấn đề căn bản của sinh lão bệnh tử. Do đó, tịch cốc liệu pháp sẽ được chúng ta xem trọng.

    5.- Ý NIỆM LIỆU PHÁP

    Ý niệm là một thứ lực bằng năng lượng, khác với lực cơ điện, gán tên cho nó gọi là động lực ẩn tánh. Năng lượng ý niệm đã được nghiệm chứng có sự tồn tại khách quan, ở đây chúng tôi muốn nói về dùng ý niệm lực có thể trị bệnh, việc này đã là chuyện thường đối với nhà khí công.

    Trong thập niên 50, Liên Xô đã áp dụng phương pháp sanh đẻ không đau, cũng có hiệu quả: Bác sĩ dùng ý niệm cương quyết bảo người sản phụ rằng việc sinh con vốn chẳng đau đớn, sở dĩ cảm thấy đau là do tinh thần lo sợ mà ra. YÙ niệm này khi được sản phụ chấp nhận và đủ lòng tin phối hợp thì sẽ có công hiệu, ý niệm càng kiên cố càng được hiệu quả. Trường hợp nếu sản phụ cho đó chỉ là lời an ủi, do không tin mà cảm thấy hoang mang thì ý niệm lực phát ra chẳng được tiếp nhận, ắt phải thất bại. Theo đó có thể chứng tỏ sự hiệu ứng của ý niệm lực.

    Tất cả nhà khí công được hiệu ứng trong trị liệu đều liên quan đến sự hoạt động của ý niệm. Phương pháp của họ có ba tầng lớp: Kích phát ngoại khí, bắn ra ý niệm lực và điều khiển tin tức. Sau khi hiểu được cơ chế của ý niệm lực, người chẳng biết khí công vẫn có thể dùng ý niệm để chữa bệnh, chẳng phải chỉ có nhà khí công mới trị bệnh bằng ý niệm lực; như sự cầu nguyện của Tin lành, trì chú của Mật tông, tụng kinh của Đạo giáo, Phật giáo, cho đến hoạt động tế thần của những bộ lạc nguyên thủy ở Châu Phi v.v… trong lúc vô ý mà lợi dụng ý niệm lực cũng được phát huy hiệu ứng trị liệu.

    6.- TIN TỨC LIỆU PHÁP

    Nội dung của tin tức có hai: Một thứ có thể thấy nghe, như bùa chú, đồ hình, vật tin tức của Đạo gia, âm nhạc, chuông trống, tụng ki nh của nhà Phật, dùng các loại tin tức thông qua sự thấy nghe để thỏa mãn nhu cầu của con người. một thứ thuộc vô hình, chẳng thể thấy nghe, như làn sóng tin tức, quán tưởng sinh linh trên hành tinh, quán tâm linh của chính mình, thầm tưởng các thứ bí quyết và khẩu lệnh bằng mật mã.

    Người bệnh nếu có ý niệm tin tưởng mãnh liệt và có người hướng dẫn, giúp đở, hợp tác tăng cường, sẽ hình thành làn sóng tin tức, điều khiển ý niệm lực để trị bệnh, cũng được hiệu ứng mau chóng.

    Tin tức liệu pháp xưa nay đã lưu truyền mấy ngàn năm, các nước đều có, nhất là ở các bộ lạc và dân tộc thiểu số còn gặp nhiều hơn, nhưng họ thường bị người văn minh cho là mê tín, nhưng lòng tin của họ rất vững chắc, không sợ phê phán và ngăn cấm, sự thật hiện nay vẫn còn tồn tại.

    Tin tức liệu pháp có nhiều hình thức, như rửa tội, xoa đầu an ủi, ban phước, chiêu hồn, đuổi tà v.v…trong hoạt động tôn giáo, và tin tức thủy, tin tức nhạc, tin tức viết, tin tức quạt … của người có công năng đặc biệt và nhà khí công, có thể điều khiển sinh lý hoạt động của tin tức, siêu việt thời gian không gian để chẩn đoán, trị liệu bệnh nhân bất cứ xa gần.

    Nói tóm lại, ý niệm trị liệu mở mang phát triển, ắt sẽ dẫn ra tin tức trị liệu, nghĩa là thúc đẩy công năng của ý niệm trị liệu lên tầng lớp cao hơn.

    7.- NHẬP ĐỊNH TƯ DUY TRỊ LIỆU

    Tư duy trị liệu có bốn chữ yếu quyết: Buông, tịnh, hư, rỗng. Trước tiên buông xã thân tâm của chính mình, nếu đã làm được thì thân tâm có thể nghỉ ngơi đầy đủ, theo qui luật điều chỉnh sinh lý. Sau khi buông xã thân tâm rồi có thể nhập tịnh, do tịnh sanh huệ, do tịnh tăng trí, trạng thái tịnh có thể khiến sự rối loạn của thân tâm khôi phục trật tự quân bình mà đạt đến mục đích trị liệu.

    Thông thường trạng thái tịnh khó giữ được thời gian lâu dài, chân thật thâm sâu, thực hiện " tư duy trống rỗng" chẳng phải dễ, nên dùng một niệm thay trăm niệm; một niệm còn thì trăm niệm tiêu; một niệm này tức là niệm của tư duy siêu phàm. Nói "tư duy" chẳng phải lo nghĩ việc ăn mặc đi ở, danh lợi thành bại của thế gian, tư duy tức quán tưởng chơn lý của nhân sinh vũ trụ, giống như tham thoại đầu của Thiền tông.

    Tư duy sinh ra hiệu ứng, có thể điều chỉnh trạng thái sinh lý, khiến thân tâm tự nhiên quân bình, trong đó bao gồm dưỡng sinh, ngộ đạo, mở mang trí tuệ, gọi là minh tâm kiến tánh. Tư duy chú trọng nhập tịnh, giống như tịnh công của khí công, từ buông đến tịnh, đạt đến tánh không, quên mình, Lão Tử gọi là "vô vi"; vô vi mới có thể vô sở bất vi, quên mình thì quên hết phiền não thế gian, tâm linh sáng tỏ thì khí huyết điều hòa, bệnh từ đâu đến ?

    8.- THIỀN ĐỊNH LIỆU PHÁP

    Tư duy tiến vào cảnh giới tầng lớp cao hơn tức là tịnh lự, cũng gọi là "Thiền". Thiền tọa kéo dài, đạt đến trạng thái tối cao gọi là thiền định, được nhập thiền định sẽ siêu thoát tất cả lo âu tính toán của việc thế gian, gọi là "vô niệm" (chẳng có vọng niệm). Thiền định đến cảnh giới cao tột, không những có thể tiêu trừ bệnh tật, còn có thể không nhờ ăn uống mà duy trì sinh mạng lâu dài cho đến mấy trăm năm.

    Liệu pháp này rất khó thực dụng trong đời sống căng thẳng ngày nay, luôn cả tuyên truyền cũng khó được người ta tiếp nhận, nhưng nó thuộc về liệu pháp thượng hạng, người ham tu hành đa số đều hiểu lý này.

    9.- TÂM LÝ LIỆU PHÁP

    Pháp này xuất phát từ phương Tây, sau này theo khoa học hiện đại truyền sang phương Đông, Tâm lý học lại hình thành một môn học trong sách giáo khoa. Tâm lý liệu pháp luôn tồn tại nơi lâm sàng của bệnh viện, bác sĩ dùng an ủi liệu pháp, bảo đảm liệu pháp v.v… đều thuộc phạm vi của tâm lý liệu pháp. có người cho rằng bệnh nhân ung thư thường chết vì sợ hãi, chẳng phải vô lý: do tinh thần lo âu ảnh hưởng sức khỏe, điều đó ai cũng biết, bệnh nhân thiếu lòng tin thì bệnh khó trị, là dựa trên quan điểm Tâm lý học.

    Có người nói "khí công cũng là tâm lý liệu pháp" ấy là sai, phải nói là trong khí công liệu pháp có xử dụng tâm lý liệu pháp, nhưng chẳng đồng nhau. Tâm lý liệu pháp của phương Tây còn nông cạn, thuộc dạng bị động, họ chẳng thể dùng nhân tố tích cực trong cơ thể sinh mạng của bệnh nhân điều khiển tiềm năng sinh lý của họ. Nếu chỉ đơn thuần xử dụng tâm lý liệu pháp thường không đủ công hiệu, lại chẳng dễ gì được bệnh nhân tiếp nhận lâu dài, nếu bệnh nhân cho đó là sự thương xót an ủi thì mất linh nghiệm.

    Tâm lý liệu pháp phải kết hợp với các liệu pháp khác, khiến bệnh nhân tin tưởng tự sanh ra hiệu ứng của tâm lý họ, dùng ý chí lực tự điều chỉnh chính mình, như lời Đông y nói "thần lãnh hình, linh chủ mạng, khí thống huyết", từ đó thần an thì hình bất loạn, tâm bình thì thể tự hòa, nghĩa là do khả năng của chính mình thực hành tâm lý liệu pháp, mới trở thành một phương pháp kỳ diệu.

    10.- SÁM HỐI LIỆU PHÁP

    Trong cuộc đời của con người, đôi lúc vì làm ra việc xấu việc lầm rồi ghi nhớ hình ảnh trong tâm, sanh lòng hối hận tự trách chẳng thể giải tỏa, chôn vùi trong thâm tâm hình thành một khối độc hại, ảnh hưởng sức khỏe, gọi là tâm bệnh. do đó, tâm lý liệu pháp kể trên đã phát triển thêm một liệu pháp gọi là sám hối liệu pháp, cũng như người phương Tây thú tội trước Hồng y giáo chủ, cầu xin Thượng Đế xã tội; tín đồ của tôn giáo phương Đông cũng có sự hoạt động về sám hối, như tụng kinh bái sám để tiêu trừ bệnh ẩn mật đó, giải tỏa áp lực của tinh thần mà khôi phục lại sức khỏe.

    Sám hối liệu pháp vô hình để thấy, nhưng thường có công hiệu chơn thật. Muốn có hiệu ứng chơn thật, cần phải dùng lòng tin tưởng của mình, cầu trời làm chứng, thành kính sám hối, mới được công hiệu.

    11.- NGŨ HÀNH LIỆU PHÁP

    Sự hình thành của quả địa cầu là nhờ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, sự sinh tồn của người địa cầu cũng là nhờ nhân tố của kim mộc thủy hỏa thổ làm hữu cơ phối hợp mà thành. Khi sự phối hợp của ngũ hành mất qui luật thì sinh ra bệnh tật.

    Ngũ hành liệu pháp dùng mọi thứ riêng biệt để trị bệnh, cũng như kim dùng tiếng chuông để thay thế, mộc tức là ẩn khí của cây cối, thủy là nước suối, như tắm suối nóng, tắm nước tin tức, tắm hơi … hỏa là ánh sáng, là quang tuyến, như tắm nắng, trị liệu bằng tia sáng … thổ là tắm sình, tịnh dưỡng trong hang núi, đi chân không dẫm trên mặt đất, dạo chơi ngoại ô… Tóm lại, đối với ngũ hành liệu pháp, Đông y đã nghiên cứu ra một hệ thống cụ thể, có lý luận hoàn chỉnh, nếu biết cách xử dụng cũng rất công hiệu.

    12.- THÔI MIÊN LIỆU PHÁP

    Thôi miên liệu pháp đối với những bệnh hư tổn có nhiều công hiệu hơn, có người vì sinh kế mà lao tâm lao lực quá mức, lâu ngày thành bệnh, nếu được nghỉ ngơi đầy đủ để giảm bớt mỏi mệt, khôi phục sức khỏe, nhân công liệu pháp cũng là một trong những pháp đó. Khi vào được trạng thái thôi miên thì thể xác và tinh thần đều có dịp nghỉ ngơi và tự điều chỉnh quân bình, khi ngủ một giấc ngon lành thức dậy thì cảm thấy tinh thần khỏe mạnh.

    Người đủ điều kiện có thể tự mình thôi miên, khỏi nhờ nhà khí công và thầy thôi miên thì tiện hơn nhiều. Có người muốn tự thôi miên, đếm hơi thở trong tâm hoặc nghe tiếng tíc tắc của đồng hồ thường chẳng có công hiệu, ấy là vì ông chưa đủ khả năng thôi miên. Kỳ thật phương pháp thôi miên chẳng phải khó học, ai cũng có thể tự học thử, chủ yếu là luyện tập bốn chữ :Buông, tịnh, hư, rỗng đã đề cập trong điều " nhập tịnh tư duy liệu pháp" ở trên, người muốn học thôi miên cứ theo đó thực hành.

    Hiện nay Trung Quốc dùng cách thôi miên.

    Hoà thượng Thích Duy Lực

    Trung Quốc là một quốc gia có nền văn minh lâu đời chứa ẩn trong đó một hệ thống triết học, vũ trụ quan và nhân sinh quan thâm thuý, đồng thời còn là cái nôi của một nền võ thuật và y học kỳ lạ, nhưng cũng rất cần thiết cho nhân loại.

    Khí công - Công phu là vấn đề không kém phần quan trọng được nghiên cứu và khảo luận từ lâu. Ngày nay ở Trung Quốc có hơn 3000 trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Khí công - Công phu, bao gồm nhiều môn phái và môn sinh trên toàn quốc.Các trung tâm khoa học hiện đại cũng tham gia nghiên cứu về Khí công - Công phu.

    Tuy là một vấn đề quan trọng đối với sức khoẻ, hạnh phúc và tiềm năng của con người, nhưng Khí công - Công phu cũng như nhiều lĩnh vực khác vẫn chưa đi đến một học thuyết hoàn chỉnh và phổ cập đi sâu vào lĩnh vực này. Còn biết bao nhiêu vấn đề nan giải được đặt ra. Thêm nữa, trong quá trình lịch sử Trung Quốc cách đặt vấn đề và chiết giải nó về phương pháp và khái niệm có một sự khác nhau và có sự cách biệt với khoa học hiện đại mang đặc tính của nền văn minh Tây phương.

    Con đường vượt qua sự bí truyền, tâm truyền, khắc phục được sự thất truyền để hiểu thấu đáo Khí Công -Công Phu đồng thời lại diễn giải dưới ánh sáng của Khoa học hiện đại để chỉ ra được bản chất của nó và phổ biến rộng rãi thật là khó khăn.

    Muốn thấu hiểu được điều đó, cần phải đạt được những điều kiện tối thiểu sau:
    1 - Hiểu rõ triết học Trung Quốc, nhất là triết lý Kinh Dịch và tư tưởng Lão giáo;
    2 - Hiểu rõ lịch sử Trung Quốc qua các thời đại;
    3 - Hiểu rõ Đông Y học và thành công trong thực hành;
    4 - Tự bản thân phải luyện Khí Công - Công Phu đạt được tới khả năng nào đó, để chứng nghiệm bổ khuyết lý thuyết đồng thời chứng minh được luận thuyết;
    5 - Hiểu rõ vật lý, sinh học, y học Tây phương;
    6 - Hiểu rõ triết hoc hiện đại.

    Chưa nói đến biết bao sự liên quan khác và vấn đề ngôn ngữ.

    Từng đó điều kiện đặt ra và yêu cầu bắt buộc đối với chúng ta là vô cùng khó khăn, một tập thể, một trung tâm, một hệ thống chưa chắc đã làm nổi, huống chi là một con người.
    Với từng đó những khó khăn, phức tạp, rất có thể vấn đề Khí Công - Công phu mãi mãi chỉ là những khảo cứu để tiến gần chân lý mà thôi.

    Những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực Khí Công - Công Phu có thể là những vấn đề sau:

    Bản chất Khí Công - Công phu là gì?
    Sự luân chuyển Khí trong cơ thể ra sao và liên quan như thế nào với cơ thể?
    Từ khí chuyển thành Công phu như thế nào?
    Các khả năng của Khí và Công Phu.
    Luyện tập Khí Công - Công Phu thế nào.v..v..v....
    Có một vấn đề hết sức có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay là sự nghiên cứu Khí Công cho phép nhân loại tìm một phương pháp Dưỡng Sinh để chống lại bệnh tật và tuổi già, đó là mối quan tâm rất lớn.

    Trên thế giới hiện nay, ngoài ba bệnh nan y là:
    - Thần kinh: Biết bao người mắc bệnh suy nhược thần kinh đến các chứng Hysteri.......
    - Ung thư: Một căn bệnh khó phát hiện sớm, đến khi phát hiện được thì quá muộn, cơ may sống rất mỏng manh.
    - Tim mạch: Các chứng bệnh huyết áp cao, nhối máu cơ tim, giãn tĩnh mạch, sơ cứng động mạch, gây ra không biết bao nhiêu cái chết đột ngột, hay xuất huyến não làm nhiều người trở thành tàn phế suốt đời.

    Ngoài ra còn biết bao chứng bệnh phức tạp, mà từ em bé đến người già đều có thể mắc phải, làm ảnh hưởng tới cuộc sống và hạnh phúc của mọi người.

    Chằng hạn, hiện nay bệnh AIDS, một hiểm hoạ ghê gớm mà con người đang phải đương đầu, mọi phương pháp trị liệu đưa ra đều chưa tỏ ra có hiệu lực, trong khi đó số lượng bệnh nhân tăng từng ngày từng giờ ở các nước.

    Các tổng kết ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, riêng bệnh tật làm ảnh hưởng tới năng suất, thời gian lao động rất lớn. Hơn nữa lượng tiền đổ vào để chữa chạt cũng rất lớn. Cho nên trong tương lai phương pháp Khí Công - Công Phu chữa bệnh và tự chữa bệnh sẽ đóng góp rất lớn cho nền y học thế giới.

    Như chúng ta đã từng biết, Khí Công - Công Phu gắn liền với võ thuật. Bất cứ ai học võ đều phải qua quá trình rèn luyện Khí Công - Nội Công - quyền thuật - binh khí.
    Khí công thực chất ra đời trước võ thuật, gắn liền với Thiền học, với Đạo Phật, Yoga....và các phương pháp dưỡng sinh đạo dẫn, luyện trường sinh bất lão. Đến khi truyền tới Trung Quốc, Khí công mới được hoàn thiện và tách ra thành một môn độc lập, nhưng tất cả các môn khác đều lấy đó làm cơ sở.

    Người Trung Quốc tự hào có một nền võ thuật Khí công lâu đời đạt nhiều thành tựu. Như Giáo sư Tiền Học Sâm, cha đẻ của ngành tên lửa Trung Quốc đã nói: "Trong hoàn cảnh hiện nay người Trung Quốc khó lòng đột phá vào khoa học cơ bản, vốn đã nằm trong tay người phương Tây. Trong tương lai người Trung Quốc muốn so tài với thế giới chỉ có hai con đường hoặc nghiên cứu Trung Y (y học cổ truyền) hoặc là nghiên cứu Khí công".

    Hay giáo sư Trần Lý An, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đài Loai, Nguyên chủ tịch Uỷ ban Khoa học Nhà nước khẳng định: "Nghiên cứu Khí công là con đường duy nhất để người Trung Quốc đoạt được giải Nobel".

    Hiện tại trên toàn Trung Quốc có hơn 3000 trung tâm nghiên cứu Khí công - Công phu và con số này ngày càng nhiều.Cùng với các dòng võ thuật Châu Á tràn sang Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, các môn Khí Công - Công phu để lại không ít ngạc nhiên cho người Tây Phương.

    Khí công ngày nay tuy có vẻ gạt bỏ được một phần nào màu sắc huyền bí, nhưng lại gạt bỏ mất phần nào quan trọng nhất, tức là cái gốc bản chất, khả năng luyện tập. Hiện tại lại thiên về phần ngọn, thất đáng tiếc. Việc đi làm tìm lại các nguồn, các nghiên cứu và kết quả của cổ nhân là một vấn đề hết sức cần thiết và các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đạt được những kết quả đáng quan tâm. Hơn nữa họ đã chọn hướng đi là áp dụng vào việc chữa bệnh và tự chữa bệnh cũng như Dưỡng sinh là hướng đi cần thiết và mang nhiều ý nghĩa thiết thực.

    Khí công Trung Hoa - nền tảng võ thuật Trung Quốc

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Trung Quốc là một quốc gia có nền văn minh lâu đời chứa ẩn trong đó một hệ thống triết học, vũ trụ quan và nhân sinh quan thâm thuý, đồng thời còn là cái nôi của một nền võ thuật và y học kỳ lạ, nhưng cũng rất cần thiết cho nhân loại.

    Khí công - Công phu là vấn đề không kém phần quan trọng được nghiên cứu và khảo luận từ lâu. Ngày nay ở Trung Quốc có hơn 3000 trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Khí công - Công phu, bao gồm nhiều môn phái và môn sinh trên toàn quốc.Các trung tâm khoa học hiện đại cũng tham gia nghiên cứu về Khí công - Công phu.

    Tuy là một vấn đề quan trọng đối với sức khoẻ, hạnh phúc và tiềm năng của con người, nhưng Khí công - Công phu cũng như nhiều lĩnh vực khác vẫn chưa đi đến một học thuyết hoàn chỉnh và phổ cập đi sâu vào lĩnh vực này. Còn biết bao nhiêu vấn đề nan giải được đặt ra. Thêm nữa, trong quá trình lịch sử Trung Quốc cách đặt vấn đề và chiết giải nó về phương pháp và khái niệm có một sự khác nhau và có sự cách biệt với khoa học hiện đại mang đặc tính của nền văn minh Tây phương.

    Con đường vượt qua sự bí truyền, tâm truyền, khắc phục được sự thất truyền để hiểu thấu đáo Khí Công -Công Phu đồng thời lại diễn giải dưới ánh sáng của Khoa học hiện đại để chỉ ra được bản chất của nó và phổ biến rộng rãi thật là khó khăn.

    Muốn thấu hiểu được điều đó, cần phải đạt được những điều kiện tối thiểu sau:
    1 - Hiểu rõ triết học Trung Quốc, nhất là triết lý Kinh Dịch và tư tưởng Lão giáo;
    2 - Hiểu rõ lịch sử Trung Quốc qua các thời đại;
    3 - Hiểu rõ Đông Y học và thành công trong thực hành;
    4 - Tự bản thân phải luyện Khí Công - Công Phu đạt được tới khả năng nào đó, để chứng nghiệm bổ khuyết lý thuyết đồng thời chứng minh được luận thuyết;
    5 - Hiểu rõ vật lý, sinh học, y học Tây phương;
    6 - Hiểu rõ triết hoc hiện đại.

    Chưa nói đến biết bao sự liên quan khác và vấn đề ngôn ngữ.

    Từng đó điều kiện đặt ra và yêu cầu bắt buộc đối với chúng ta là vô cùng khó khăn, một tập thể, một trung tâm, một hệ thống chưa chắc đã làm nổi, huống chi là một con người.
    Với từng đó những khó khăn, phức tạp, rất có thể vấn đề Khí Công - Công phu mãi mãi chỉ là những khảo cứu để tiến gần chân lý mà thôi.

    Những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực Khí Công - Công Phu có thể là những vấn đề sau:

    Bản chất Khí Công - Công phu là gì?
    Sự luân chuyển Khí trong cơ thể ra sao và liên quan như thế nào với cơ thể?
    Từ khí chuyển thành Công phu như thế nào?
    Các khả năng của Khí và Công Phu.
    Luyện tập Khí Công - Công Phu thế nào.v..v..v....
    Có một vấn đề hết sức có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay là sự nghiên cứu Khí Công cho phép nhân loại tìm một phương pháp Dưỡng Sinh để chống lại bệnh tật và tuổi già, đó là mối quan tâm rất lớn.

    Trên thế giới hiện nay, ngoài ba bệnh nan y là:
    - Thần kinh: Biết bao người mắc bệnh suy nhược thần kinh đến các chứng Hysteri.......
    - Ung thư: Một căn bệnh khó phát hiện sớm, đến khi phát hiện được thì quá muộn, cơ may sống rất mỏng manh.
    - Tim mạch: Các chứng bệnh huyết áp cao, nhối máu cơ tim, giãn tĩnh mạch, sơ cứng động mạch, gây ra không biết bao nhiêu cái chết đột ngột, hay xuất huyến não làm nhiều người trở thành tàn phế suốt đời.

    Ngoài ra còn biết bao chứng bệnh phức tạp, mà từ em bé đến người già đều có thể mắc phải, làm ảnh hưởng tới cuộc sống và hạnh phúc của mọi người.

    Chằng hạn, hiện nay bệnh AIDS, một hiểm hoạ ghê gớm mà con người đang phải đương đầu, mọi phương pháp trị liệu đưa ra đều chưa tỏ ra có hiệu lực, trong khi đó số lượng bệnh nhân tăng từng ngày từng giờ ở các nước.

    Các tổng kết ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, riêng bệnh tật làm ảnh hưởng tới năng suất, thời gian lao động rất lớn. Hơn nữa lượng tiền đổ vào để chữa chạt cũng rất lớn. Cho nên trong tương lai phương pháp Khí Công - Công Phu chữa bệnh và tự chữa bệnh sẽ đóng góp rất lớn cho nền y học thế giới.

    Như chúng ta đã từng biết, Khí Công - Công Phu gắn liền với võ thuật. Bất cứ ai học võ đều phải qua quá trình rèn luyện Khí Công - Nội Công - quyền thuật - binh khí.
    Khí công thực chất ra đời trước võ thuật, gắn liền với Thiền học, với Đạo Phật, Yoga....và các phương pháp dưỡng sinh đạo dẫn, luyện trường sinh bất lão. Đến khi truyền tới Trung Quốc, Khí công mới được hoàn thiện và tách ra thành một môn độc lập, nhưng tất cả các môn khác đều lấy đó làm cơ sở.

    Người Trung Quốc tự hào có một nền võ thuật Khí công lâu đời đạt nhiều thành tựu. Như Giáo sư Tiền Học Sâm, cha đẻ của ngành tên lửa Trung Quốc đã nói: "Trong hoàn cảnh hiện nay người Trung Quốc khó lòng đột phá vào khoa học cơ bản, vốn đã nằm trong tay người phương Tây. Trong tương lai người Trung Quốc muốn so tài với thế giới chỉ có hai con đường hoặc nghiên cứu Trung Y (y học cổ truyền) hoặc là nghiên cứu Khí công".

    Hay giáo sư Trần Lý An, Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đài Loai, Nguyên chủ tịch Uỷ ban Khoa học Nhà nước khẳng định: "Nghiên cứu Khí công là con đường duy nhất để người Trung Quốc đoạt được giải Nobel".

    Hiện tại trên toàn Trung Quốc có hơn 3000 trung tâm nghiên cứu Khí công - Công phu và con số này ngày càng nhiều.Cùng với các dòng võ thuật Châu Á tràn sang Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, các môn Khí Công - Công phu để lại không ít ngạc nhiên cho người Tây Phương.

    Khí công ngày nay tuy có vẻ gạt bỏ được một phần nào màu sắc huyền bí, nhưng lại gạt bỏ mất phần nào quan trọng nhất, tức là cái gốc bản chất, khả năng luyện tập. Hiện tại lại thiên về phần ngọn, thất đáng tiếc. Việc đi làm tìm lại các nguồn, các nghiên cứu và kết quả của cổ nhân là một vấn đề hết sức cần thiết và các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đạt được những kết quả đáng quan tâm. Hơn nữa họ đã chọn hướng đi là áp dụng vào việc chữa bệnh và tự chữa bệnh cũng như Dưỡng sinh là hướng đi cần thiết và mang nhiều ý nghĩa thiết thực.

    Từ xưa, nhiều môn phái Võ thuật và các trường phái Đông y đều nhấn mạnh việc luyện Khí công là phương pháp chủ yếu để gìn giữ và tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, cũng có những truyền thuyết về các khả năng gần như siêu việt của Khí công được nhiều người nói tới. Chẳng hạn như trong đoạn trích dẫn sau đây :

    “…Chỉ thấy cụ Lưu Văn Khanh cất bàn tay trái lên, một luồn hào quang màu hồng như tia sáng mặt trời từ tay cụ phóng ra. Đó chính là công phu nổi tiếng “Võ Đang long môn thất ất kim thích chưởng”. Tiếp đó, cụ lại biểu diễn “Hắc phong chưởng”: Một luồng khí sắc đen lại từ huyệt Lao Cung của bàn tay trái phóng ra tựa như một luồng khói đen, khiến mọi người chứng kiến sửng sốt kinh ngạc và thán phục. “Mai hoa chưởng” của cụ lại càng tinh diệu hơn nữa. Một luồng khí sắc trắng như khói từ tay cụ phóng ra kèm theo âm thanh “vù vù”, khiến hơn 200 con người hâm mộ đứng xem lặng người kinh ngạc và sau đó hoan hô vang dậy…Cụ Lưu cười ha hả nói : “Các vị vất vả quá và đã có vẻ mệt nhọc lắm rồi, để tôi giúp các vị bổ khí một chút”. Nói rồi cụ cất bàn tay lên lần lượt hướng tới mồm của ba người phóng ba lần “Dược vương chưởng”. Ba người điều cảm thấy một luồng khí có khí vị rất đậm của Trung dược từ khoang miệng lan tỏa khắp thân thể. Sau đó liền cảm thấy toàn thân thư giãn nhẹ nhàng, tinh thần thư thái sảng khoái vô cùng…”(Khí công-các kỳ nhân đương đại, Thiên Tùng biên dịch, Nhà xuất bản Thể dục thể thao, Hà Nội, 1990, trang 6-7) là một trong nhiều câu chuyện kể về khả năng siêu việt của khí công gần như là huyền thoại ! Bởi trong thực tế vẫn chưa có những luận cứ khoa học nào giải thích một cách minh bạch và tường tận về các khả năng sử dụng Khí công như vậy. Thái độ của những con người đang chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI không nên vội phê phán về các huyền thoại khí công như vừa kể, mà hãy gác nó qua một bên, chờ đợi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học.

    Thực chất về công năng của Khí công trong việc giữ gìn và tăng cường sức khỏe đã được khoa học chứng minh. Thật vậy, ngày nay, khoa học cho ta biết rõ cơ thể, và đặc biệt là các bắp thịt, trong lúc hoạt động rất cần khí Oxy và tiêu khử khí Carbonic. Oxy tiềm tàng trong không khí được hít vào phổi, rồi hòa tan vào huyết để được tải khắp cơ thể. Huyết cũng tải về phổi khí thán do các bộ phận khác tiết ra, để được thải ra ngoài lúc thở ra. Như vậy khí và huyết là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau, do đó hai quá trình vận khí và vận huyết cũng gắn chặt với nhau. Lưu thông khí huyết là điều kiện cơ bản trong việc bảo vệ sức khỏe và rèn luyện cơ thể.

    Tùy theo ý muốn, chúng ta có thể vận dụng bộ máy hô hấp, vận dụng các bắp thịt để thở. Bắp thịt thở chủ yếu là hoành cách mạc. Vận động của nó bảo đảm 2/5 dung tích không khí ra vào. Hoành cách mạc nằm thành một cái vòm giữa ngực và bụng, phía trên là phổi và tim phía dưới là gan, dạ dày và ruột. Lúc hoành cách mạc co thắt để hạ xuống 2 đến 3cm, nếu tập nhiều có thể hạ xuống đến 10 hay 15cm. Lúc ấy, lồng ngực và phổi dãn ra, bụng phình lên vì gan, ruột bị đẩy xuống, không khí được hít vào. Hoành cách mạc trở về chỗ cũ, phổi bị ép lại, không khí được đẩy ra ngoài, lúc ấy ruột gan bị kéo lên và bụng thót lại. Như vậy, lúc hít vào thì bụng phình lên, và lúc thở ra, bụng thót lại. Bắp thịt bụng cũng giúp vào việc thở, đặt biệt là lúc thở ra, khi ấy hoành cách mạc đi lên, cơ bụng thắt lại, đẩy gan ruột lên, do đó thở ra được sâu hơn. Tóm lại, cần nhớ nguyên tắc : thót bụng thở ra, phình bụng hít vào.

    Ngoài hoành cách và cơ bụng, giữa các xương sườn cũng có những cơ nối liền hai xương với nhau, phía trong và phía ngoài. Lúc các cơ liên sườn bên ngoài co thắt lại, xương sườn bị kéo ra, lồng ngực phồng lên, giúp cho không khí vào, và ngược lại, khi các cơ liên sườn bên trong kéo sườn vào thì lồng ngực thắt lại, không khí bị đẩy ra. Vì phía dưới của phổi rộng hơn phía chóp phổi, do các xương sườn trên rất cứng, gồm toàn xương từ trước ra sau, không như các xương sườn phía dưới, gồm một phần sụn ở phía trước, nên lồng nhực phía trên không co giãn được bao nhiêu. Những bắp thịt níu vào các xương sườn phía trên và xương đòn gánh, đóng góp vào việc đưa không khí ra vào không đáng kể. Thông thường khá nhiều người cứ lầm tưởng bắp thịt ngực, tức bắp thịt kéo từ cánh tay đến giữa ngực, là bắp thịt để thở, nên lúc tập thường đưa vai lên, kéo căn phần trên của ngực, trái với sinh lý tự nhiên.

    Thở bụng, tức là vận dụng hoành cách mạc, cơ bụng, cơ liên sườn phía dưới, là cách thở có hiệu quả cao nhất. Rèn luyện các bắp thịt ấy cho thật nhuần nhuyễn, trong lúc thở nắm cho được mình đang vận dụng bắp thịt nào là công tác cơ bản của khí công. Nói một cách tổng quát, cần nắm vững những động tác sau đây :

    Lúc thở ra, hoành cách mạc đưa lên, bụng thót lại, cơ liên sườn và các cơ bụng kéo sườn vào.

    Lúc hít vào, hoành cách mạc hạ xuống, bụng phình lên cơ liên sườn kéo sườn ra.

    Thở ra dài hơn hít vào và càng sâu càng tốt. Lúc hít vào xong, có thể giữ hơi lại một chút. Sách xưa thường nói rằng lúc hít vào, khí xuống đan điền, tức bụng dưới, thực ra vì hoành cách mạc đẩy ruột xuống nên bụng phình ra.

    Bình thường lúc ngồi yên hay làm việc nhẹ, dung tích không khí ra vào chừng 0,5 lít, và người ta thở chừng 12 đến 16 lần trong một phút. Khi vận động, nhất là vận động nhanh như chạy đua, đấu võ, lưu lượng không khí ra vào có thể gấp 15 hay 20 lần. Lúc ấy dung tích không khí ra vào có thể lên tới từ 4 lít đến 6 lít, tần số thở cũng tăng lên gấp đôi hoặc hơn. Muốn tăng lưu lượng phải tăng chủ yếu khả năng hoạt động của hoành cách mạc lên, xuống thật nhiều và nhanh, nếu cần có thể cho không khí ra vào qua miệng, vì con đường này rộng hơn và ít khúc khủy hơn con đường qua mũi. Nhưng nếu ta không vận động nhiều, không cần lưu lượng không khí ra vào, thì cũng không nên đưa quá nhiều Oxy vào cơ thể, khử quá nhiều khí thán ra ngoài, vì như thế sẽ bị choáng váng. Lúc ngồi yên điều hòa nhịp thở cho thật đều đặn, nhẹ nhàng, dài và sâu, chủ yếu để điều hòa hoạt động của nội tạng và làm cho thần khinh thoải mái. Nhịp thở lúc ấy là một cho đến bốn lần trong một phút.

    Tóm lại, có hai phương pháp luyện khí công :

    Lúc vận động nhiều, thở sâu và nhanh, có thể cho không khí qua miệng để tăng cường lưu lượng không khí ra vào, cung cấp nhiều oxy và khử nhiều khí carbonic

    Lúc vận động ít và không vận động, thì thở nhẹ, dài, sâu, rất chậm và toàn thể con người yên tĩnh điều hòa lại. Nếu hoàn cảnh cho phép, nhắm mắt lại tập trung ý nghĩ vào từng nhịp thở.

    Có thể tập khí công trong tư thế nằm cũng được, đứng, nằm hay ngồi, miễn sao vận dụng được hoành cách mạc một cách dễ dàng. Kết hợp với động tác chân tay trong khi tập khí công cũng được. Khi rèn luyện xong rồi thì lúc vận động, nhịp thở và động tác chân tay sẽ tự nhiên phối hợp nhịp nhàng với nhau. Kỹ thuật của khí công đơn giản, tập vài lần sẽ quen, chủ yếu là đừng đưa vai lên xuống lúc thở, đừng cho vận động của lồng ngực tréo với vận động của hoành cách mạc, vì có khi ta cho lồng ngực căng lên để hút không khí vào, đồng thời lại thót bụng lại đẩy hoành cách mạc lên, tức đẩy không khí ra. Động tác của hoành cách mạc, cơ bụng và cơ liên sườn cần được phối hợp chặc chẽ. Trong lúc tập khí công điều hòa, cần chú ý làm chủ nhịp thở : thở thật đều là chủ yếu, không để nhịp thở rối loạn.

    Nói một cách tổng quát, tập luyện khí công cần dựa vào những thành tựu khoa học thực tế để việc tập luyện phù hợp với vận động sinh lý tự nhiên của cơ thể, hầu tránh được những tật bệnh có thể phát sinh, đồng thời tạo điều kiện tốt cho khí oxy vào cơ thể giúp các tế bào hoạt động tốt hơn cũng như đưa khí carbonic ra khỏi cơ thể tạo môi trường tốt đẹp cho toàn cơ thể. Được như vậy, sức khỏe chắc chắn tăng tiến, từ đó khả năng dụng võ cũng tiến bộ là lẽ đương nhiên, đúng như Hải Thượng Lãn Ông đã từng viết :

    Tập cho khí huyết lưu thông
    Tay chân lanh lợi, tinh thần thảnh thơi

    Hồ Tường

    Bật mí sự thật về khí công - thực tế, huyền thoại và phim ảnh

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Sức-khỏe  |  Read More»

    Từ xưa, nhiều môn phái Võ thuật và các trường phái Đông y đều nhấn mạnh việc luyện Khí công là phương pháp chủ yếu để gìn giữ và tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, cũng có những truyền thuyết về các khả năng gần như siêu việt của Khí công được nhiều người nói tới. Chẳng hạn như trong đoạn trích dẫn sau đây :

    “…Chỉ thấy cụ Lưu Văn Khanh cất bàn tay trái lên, một luồn hào quang màu hồng như tia sáng mặt trời từ tay cụ phóng ra. Đó chính là công phu nổi tiếng “Võ Đang long môn thất ất kim thích chưởng”. Tiếp đó, cụ lại biểu diễn “Hắc phong chưởng”: Một luồng khí sắc đen lại từ huyệt Lao Cung của bàn tay trái phóng ra tựa như một luồng khói đen, khiến mọi người chứng kiến sửng sốt kinh ngạc và thán phục. “Mai hoa chưởng” của cụ lại càng tinh diệu hơn nữa. Một luồng khí sắc trắng như khói từ tay cụ phóng ra kèm theo âm thanh “vù vù”, khiến hơn 200 con người hâm mộ đứng xem lặng người kinh ngạc và sau đó hoan hô vang dậy…Cụ Lưu cười ha hả nói : “Các vị vất vả quá và đã có vẻ mệt nhọc lắm rồi, để tôi giúp các vị bổ khí một chút”. Nói rồi cụ cất bàn tay lên lần lượt hướng tới mồm của ba người phóng ba lần “Dược vương chưởng”. Ba người điều cảm thấy một luồng khí có khí vị rất đậm của Trung dược từ khoang miệng lan tỏa khắp thân thể. Sau đó liền cảm thấy toàn thân thư giãn nhẹ nhàng, tinh thần thư thái sảng khoái vô cùng…”(Khí công-các kỳ nhân đương đại, Thiên Tùng biên dịch, Nhà xuất bản Thể dục thể thao, Hà Nội, 1990, trang 6-7) là một trong nhiều câu chuyện kể về khả năng siêu việt của khí công gần như là huyền thoại ! Bởi trong thực tế vẫn chưa có những luận cứ khoa học nào giải thích một cách minh bạch và tường tận về các khả năng sử dụng Khí công như vậy. Thái độ của những con người đang chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI không nên vội phê phán về các huyền thoại khí công như vừa kể, mà hãy gác nó qua một bên, chờ đợi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học.

    Thực chất về công năng của Khí công trong việc giữ gìn và tăng cường sức khỏe đã được khoa học chứng minh. Thật vậy, ngày nay, khoa học cho ta biết rõ cơ thể, và đặc biệt là các bắp thịt, trong lúc hoạt động rất cần khí Oxy và tiêu khử khí Carbonic. Oxy tiềm tàng trong không khí được hít vào phổi, rồi hòa tan vào huyết để được tải khắp cơ thể. Huyết cũng tải về phổi khí thán do các bộ phận khác tiết ra, để được thải ra ngoài lúc thở ra. Như vậy khí và huyết là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau, do đó hai quá trình vận khí và vận huyết cũng gắn chặt với nhau. Lưu thông khí huyết là điều kiện cơ bản trong việc bảo vệ sức khỏe và rèn luyện cơ thể.

    Tùy theo ý muốn, chúng ta có thể vận dụng bộ máy hô hấp, vận dụng các bắp thịt để thở. Bắp thịt thở chủ yếu là hoành cách mạc. Vận động của nó bảo đảm 2/5 dung tích không khí ra vào. Hoành cách mạc nằm thành một cái vòm giữa ngực và bụng, phía trên là phổi và tim phía dưới là gan, dạ dày và ruột. Lúc hoành cách mạc co thắt để hạ xuống 2 đến 3cm, nếu tập nhiều có thể hạ xuống đến 10 hay 15cm. Lúc ấy, lồng ngực và phổi dãn ra, bụng phình lên vì gan, ruột bị đẩy xuống, không khí được hít vào. Hoành cách mạc trở về chỗ cũ, phổi bị ép lại, không khí được đẩy ra ngoài, lúc ấy ruột gan bị kéo lên và bụng thót lại. Như vậy, lúc hít vào thì bụng phình lên, và lúc thở ra, bụng thót lại. Bắp thịt bụng cũng giúp vào việc thở, đặt biệt là lúc thở ra, khi ấy hoành cách mạc đi lên, cơ bụng thắt lại, đẩy gan ruột lên, do đó thở ra được sâu hơn. Tóm lại, cần nhớ nguyên tắc : thót bụng thở ra, phình bụng hít vào.

    Ngoài hoành cách và cơ bụng, giữa các xương sườn cũng có những cơ nối liền hai xương với nhau, phía trong và phía ngoài. Lúc các cơ liên sườn bên ngoài co thắt lại, xương sườn bị kéo ra, lồng ngực phồng lên, giúp cho không khí vào, và ngược lại, khi các cơ liên sườn bên trong kéo sườn vào thì lồng ngực thắt lại, không khí bị đẩy ra. Vì phía dưới của phổi rộng hơn phía chóp phổi, do các xương sườn trên rất cứng, gồm toàn xương từ trước ra sau, không như các xương sườn phía dưới, gồm một phần sụn ở phía trước, nên lồng nhực phía trên không co giãn được bao nhiêu. Những bắp thịt níu vào các xương sườn phía trên và xương đòn gánh, đóng góp vào việc đưa không khí ra vào không đáng kể. Thông thường khá nhiều người cứ lầm tưởng bắp thịt ngực, tức bắp thịt kéo từ cánh tay đến giữa ngực, là bắp thịt để thở, nên lúc tập thường đưa vai lên, kéo căn phần trên của ngực, trái với sinh lý tự nhiên.

    Thở bụng, tức là vận dụng hoành cách mạc, cơ bụng, cơ liên sườn phía dưới, là cách thở có hiệu quả cao nhất. Rèn luyện các bắp thịt ấy cho thật nhuần nhuyễn, trong lúc thở nắm cho được mình đang vận dụng bắp thịt nào là công tác cơ bản của khí công. Nói một cách tổng quát, cần nắm vững những động tác sau đây :

    Lúc thở ra, hoành cách mạc đưa lên, bụng thót lại, cơ liên sườn và các cơ bụng kéo sườn vào.

    Lúc hít vào, hoành cách mạc hạ xuống, bụng phình lên cơ liên sườn kéo sườn ra.

    Thở ra dài hơn hít vào và càng sâu càng tốt. Lúc hít vào xong, có thể giữ hơi lại một chút. Sách xưa thường nói rằng lúc hít vào, khí xuống đan điền, tức bụng dưới, thực ra vì hoành cách mạc đẩy ruột xuống nên bụng phình ra.

    Bình thường lúc ngồi yên hay làm việc nhẹ, dung tích không khí ra vào chừng 0,5 lít, và người ta thở chừng 12 đến 16 lần trong một phút. Khi vận động, nhất là vận động nhanh như chạy đua, đấu võ, lưu lượng không khí ra vào có thể gấp 15 hay 20 lần. Lúc ấy dung tích không khí ra vào có thể lên tới từ 4 lít đến 6 lít, tần số thở cũng tăng lên gấp đôi hoặc hơn. Muốn tăng lưu lượng phải tăng chủ yếu khả năng hoạt động của hoành cách mạc lên, xuống thật nhiều và nhanh, nếu cần có thể cho không khí ra vào qua miệng, vì con đường này rộng hơn và ít khúc khủy hơn con đường qua mũi. Nhưng nếu ta không vận động nhiều, không cần lưu lượng không khí ra vào, thì cũng không nên đưa quá nhiều Oxy vào cơ thể, khử quá nhiều khí thán ra ngoài, vì như thế sẽ bị choáng váng. Lúc ngồi yên điều hòa nhịp thở cho thật đều đặn, nhẹ nhàng, dài và sâu, chủ yếu để điều hòa hoạt động của nội tạng và làm cho thần khinh thoải mái. Nhịp thở lúc ấy là một cho đến bốn lần trong một phút.

    Tóm lại, có hai phương pháp luyện khí công :

    Lúc vận động nhiều, thở sâu và nhanh, có thể cho không khí qua miệng để tăng cường lưu lượng không khí ra vào, cung cấp nhiều oxy và khử nhiều khí carbonic

    Lúc vận động ít và không vận động, thì thở nhẹ, dài, sâu, rất chậm và toàn thể con người yên tĩnh điều hòa lại. Nếu hoàn cảnh cho phép, nhắm mắt lại tập trung ý nghĩ vào từng nhịp thở.

    Có thể tập khí công trong tư thế nằm cũng được, đứng, nằm hay ngồi, miễn sao vận dụng được hoành cách mạc một cách dễ dàng. Kết hợp với động tác chân tay trong khi tập khí công cũng được. Khi rèn luyện xong rồi thì lúc vận động, nhịp thở và động tác chân tay sẽ tự nhiên phối hợp nhịp nhàng với nhau. Kỹ thuật của khí công đơn giản, tập vài lần sẽ quen, chủ yếu là đừng đưa vai lên xuống lúc thở, đừng cho vận động của lồng ngực tréo với vận động của hoành cách mạc, vì có khi ta cho lồng ngực căng lên để hút không khí vào, đồng thời lại thót bụng lại đẩy hoành cách mạc lên, tức đẩy không khí ra. Động tác của hoành cách mạc, cơ bụng và cơ liên sườn cần được phối hợp chặc chẽ. Trong lúc tập khí công điều hòa, cần chú ý làm chủ nhịp thở : thở thật đều là chủ yếu, không để nhịp thở rối loạn.

    Nói một cách tổng quát, tập luyện khí công cần dựa vào những thành tựu khoa học thực tế để việc tập luyện phù hợp với vận động sinh lý tự nhiên của cơ thể, hầu tránh được những tật bệnh có thể phát sinh, đồng thời tạo điều kiện tốt cho khí oxy vào cơ thể giúp các tế bào hoạt động tốt hơn cũng như đưa khí carbonic ra khỏi cơ thể tạo môi trường tốt đẹp cho toàn cơ thể. Được như vậy, sức khỏe chắc chắn tăng tiến, từ đó khả năng dụng võ cũng tiến bộ là lẽ đương nhiên, đúng như Hải Thượng Lãn Ông đã từng viết :

    Tập cho khí huyết lưu thông
    Tay chân lanh lợi, tinh thần thảnh thơi

    Hồ Tường

    Là bác sĩ Tây y, chuyên ngành về nôi khoa và siêu âm, có nhiều năm công tác tại các bệnh viện đa khoa An Giang, Bạc Liêu và Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (TP HCM), rất tình cờ, bác sĩ (BS) Lê Văn Vĩnh đã được một ông thày người Hoa tại Chợ Lớn truyền cho liệu pháp khí công có tên HỒI XUÂN CÔNG. Hồi Xuân công đơn giản là làm cho con người trẻ, khoẻ mãi với thời gian.

    Cơ hội tình cờ

    Tốt nghiệp ĐH Y khoa Huế, nhưng BS Lê Văn Vĩnh luôn bị bạn bè ái ngại vì cơ thể gầy gò, ốm yếu của mình. Nhiều đồng nghiệp nói thẳng với anh rằng, với sức khoẻ như thế, anh khó lòng có thể vượt qua được ngưỡng tuổi 50. Với những kiến thức được học về Tây y, BS Vĩnh biết rằng bộ phận tiêu hoá của bản thân không tốt, nên các chất bổ đưa vào cơ thể không được hấp thụ hiệu quả nhất. Rời khỏi Huế, BS Vĩnh công tác tại các bệnh viện lớn ở miền Tây và TP HCM, vừa hành nghề vừa tìm tòi các loại thuốc bổ cả Đông và Tây y, ăn những món ăn bổ dưỡng nhất, nhưng cơ thể vẫn không cải thiện được chút nào. Sau nhiều năm tìm tòi những toa thuốc để tự cứu mình, BS Vĩnh tình cờ gặp được một số bạn bè người Hoa sống tại Q.5, TP HCM. Họ giới thiệu với anh bộ môn khí công vốn có truyền thống lâu đời từ Trung Quốc. Tự tập luyện, sức khoẻ của bác sĩ gầy gò đã được cải thiện đôi chút. Nhưng phải đến ba năm sau, BS Vĩnh mới tìm được thày giỏi truyền nghề cho mình. Đó là thày A Phủ ở Chợ lớn (ông đã mất cách đây 10 năm, thọ tròn 100 tuổi). Với các tài liệu mà thày A Phủ đưa cho cùng một số động tác được truyền lại, BS Vĩnh lặng lẽ luyện tập một mình. Anh kể rằng, thời gian đầu cực khổ lắm. Các tài liệu chủ yếu bằng tiếng Hoa và tiếng Anh. Vừa dịch, vừa luyện tập, từ sơ cấp lên trung cấp và cuối cùng, niềm vui đã tới, BS Vĩnh đã đạt trình độ cao cấp của bộ môn khí công.

    Sau 5 năm tập luyện như vậy, BS Lê Văn Vĩnh dần dần lên cân, khoẻ mạnh hơn. Từ 44kg, anh lên được 55kg và sau 20 năm tập luyện, đến giờ anh đã giữ được mức cân 60kg rất ổn định. Trước đây, anh ăn không ngon, ngủ không sâu, thì giờ đã ăn ngon ngủ tốt, đã qua tuổi trung niên, nhưng tóc BS Vĩnh rất xanh, da đỏ hồng hào, giọng nói sang sảng. Anh đã làm mất đi hình ảnh một BS Vĩnh gầy gò, ốm yếu, bệnh tật ngày xưa. Anh đang trẻ hoá nhờ bộ môn khí công mà anh đã theo đuổi vài chục năm nay, đó là Hồi Xuân công.

    Công pháp đặc biệt

    Hồi Xuân công là một công pháp đặc biệt của các đạo sĩ môn phái Hoa Sơn (Trung Quốc) có từ ngàn xưa. Tất cả các bài tập đều dựa trên lý thuyết ngũ hành âm dương làm cơ bản, từ đó, các kỳ kinh bát mạch trong cơ thể được thông suốt và thận được tăng cường chủ yếu. Tất cả các tuyến nội tiết đều được hoạt động lại hoàn thiện sung mãn như thời trẻ và có tác dụng chống lão hoá ưu việt nhất. "Đây chính là nét đặc thù của công pháp" - BS Vĩnh đã viết như vậy trong lời tựa cuốn Trường thọ Hồi Xuân công, lý thuyết và tác dụng, được lưu truyền trong Hội Dưỡng sinh TP HCM

    Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền văn minh lâu đời nhất trên thế giới. Một trong những kho báu văn hoá của TQ chính là phương pháp dưỡng sinh. Các công trình nghiên cứu trong quá khứ về dưỡng sinh đã bị hạn chế công bố do luật lệ nghiêm khắc của các đạo gia: "Không được truyền cho bất cứ ai, kể cả cha con". Nhưng có một người đã quyết định phá vỡ luật lệ hà khắc này khi ông ở tuổi gần đất xa trời. Đó là Biện Trị Trung (Bian Zhizhong), Chủ tịch Viện Nghiên cứu dưỡng sinh cổ truyền Bắc Kinh. Ông cho rằng, nếu giữ bí mật như vậy thì con cháu đời sau sẽ không được thừa hưởng và phát huy môn dưỡng sinh này nữa. Do vậy, Biện Trị Trung đã công bố các bài tập của thuật dưỡng sinh trường thọ, một di sản bí truyền của đạo gia chính thống từ môn phái Hoa Sơn, TQ. Cuốn sách Trường thọ Hồi Xuân công được xuất bản tại Thượng Hải năm 1988, được NXB Hà Nội dịch ra tiếng Việt phát hành năm 1996 tại VN.

    Theo Biện Trị Trung, thuật dưỡng sinh và trường thọ bao gồm nhiều mục. Nguyên lý cơ bản nhất là nâng cao chức năng sinh học, giữ cho tế bào khoẻ và hoạt động tốt, kích thích sản xuất nội tiết tố, kích thích các kinh lạc và tuần hoàn máu, điều hoà chức năng nội tạng, củng cố và kéo dài tuổi xuân, phục hồi khí lực. Luyện tập dưỡng sinh và trường thọ không cần phải có một chỗ rộng rãi. Người ta có thể tập ở sân, ở giường ngủ, thậm chí ở bàn làm việc cơ quan. Số lượng sinh lực tiêu thụ cho các bài tập này là nhỏ, dễ cử động và dễ nhớ. Người tập có thể cảm thấy hiệu quả ngay sau vài ngày tập. Tập lâu hơn sẽ thấy lão hoá bị chậm lại đối với người già và hồi phục khí lực. Càng tập luyện lâu càng thấy kết quả tuyệt vời.

    BS Lê Văn Vĩnh sau khi có được những tài liệu của Biện Trị Trung và được thày A Phủ truyền lại các tư thế của Hồi Xuân công đã có nhiều kinh nghiệm tập luyện. Theo BS Vĩnh, những bài tập này không phải là võ thuật hoặc khí công. Cũng không dùng sức hoặc dùng trí. Mục tiêu của bài tập là kích thích tuần hoàn máu với những cử động nhẹ nhàng tập trung quanh vùng đan điền. Võ thuật, thái cực quyền, quyền Anh hoặc khí công nhấn mạnh vào hiệu quả bên ngoài và tập trung sinh lực cơ thể vào ngực hoặc phần giữa của bụng, trong lúc Hồi Xuân công lại nhấn mạnh vào hiệu quả bên trong và tập trung sinh lực ở phần dưới bụng. Những bài tập có thể tập ở 7 tư thế và mỗi tư thế được chia làm nhiều phần. 7 tư thế đó là: đứng, ngồi, ngồi xổm, quỳ, bò, lăn và nằm ngửa. 7 tư thế của bài tập là độc lập nhau, nhưng liên hệ mật thiết. Mỗi tư thế có hai phần: cho nam và cho nữ. Người tập không cần phải tập tất cả những tư thế, nhưng tuyển chọn một hoặc vài tư thế thích hợp cho thể chất và điều kiện làm việc của họ. Những người mới tập đầu tiên nên học tư thế đứng.

    Tác dụng hữu hiệu

    Bắt đầu tập từ sơ cấp rồi đạt tới cao cấp, BS Lê Văn Vĩnh đã mang tất cả những vốn liếng học được để dạy lại cho tất cả những ai yêu thích Hồi Xuân công. Đã 10 năm nay, Hồi Xuân công được dạy lại cho bạn bè thân hữu để duy trì một sức khoẻ tốt. Hiện nay, cứ vào ngày nghỉ cuối tuần, anh lại truyền bá Hồi Xuân công cho các học viên tại Câu lạc bộ Khí công TP HCM.

    Để có thêm tư liệu, chúng tôi đã tìm gặp và trao đổi với một số học viên đã và đang theo tập Hồi Xuân công. Bà Nguyễn Thị Xuân, 57 tuổi (108/46A Trần Quang Diệu, Q3, TP HCM) có tiền sử bị viêm xoang 35 năm. Bà đã đi chữa nhiều nơi, mổ ba lần mà vẫn không khỏi. Bà Xuân bị ho liên tục do chất đàm (đờm) chảy xuống họng, kết hợp với bệnh rối loạn thần kinh ti, có triệu chứng đau nhói ngực và mất ngủ. Sau khi tập Hồi Xuân công được 3 tháng, hiện nay, bà Xuân đã bớt hẳn chứng viêm xoang, ăn ngủ tốt, bệnh tật đã chuyển biến rõ.

    Bà Lý Ngọc Sương, 60 tuổi (220/123 Lê Văn Sỹ, P14, Q3, TP HCM) bị cao huyết áp, thường xuyên bị cảm cùm và suy nhược cơ thể. Sau hai tháng tập Hồi Xuân công, bà nói triệu chứng cảm cúm không còn nữa và huyết áp đã trở lại bình thường.

    Bà Nguyễn Thị Hồng Lệ, 40 tuổi, bị mắc chứng mất ngủ kỳ lạ. Đã 2 năm rồi bà bị mất ngủ trắng đêm. Bà Lệ đã đi khám nhiều BS chuyên khoa thần kinh, uống thuốc ngủ nhiều đến mức cơ thể lờn thuốc mà vẫn không hết bệnh. Sau 2 tháng luyện tập Hồi Xuân công, bà Lệ đã có giấc ngủ bình thường như mọi người khác, từ 23 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau. Bà nói: "Hồi Xuân công đã cứu tôi qua khỏi chứng bệnh mất ngủ".

    Bà Hứa Thị Bạch Yến, 50 tuổi, đã tập khí công nhiều nhưng vẫn thấy cơ thể mệt mỏi. Sau khi chuyển sang Hồi Xuân công, hiện da mặt của bà Yến hồng hào khoẻ mạnh giống như thời còn xuân sắc.

    Một số lời khuyên rất tích cực của Hồi Xuân công là: khi tập luyện phải tin tưởng vào hiệu quả bài tập; nên tiến hành tuần tự và kiên nhẫn; tránh giận dữ và kiểm soát tốt những ham muốn; có cuộc sống vui vẻ và luôn tươi cười; cử động theo vòng tròn và mềm mại; bài tập dành cho bất cứ ai, không phân biệt tuổi tác và giới tính; có thể tập vào bất cứ thời gian nào trong ngày, nhưng tốt nhất là ngay trước khi ngủ và sau khi ngủ dậy trong khoảng 3-5 phút.

    Theo tài liệu mà BS Vĩnh cung cấp, tác dụng của Hồi Xuân công khá rộng trên toàn cơ thể, mà nổi trội là làm mạnh cơ quan sinh dục, chữa trị chứng bất lực và xuất tinh sớm; các bệnh phụ khoa; điều trị viêm phế quản mãn tính, hen xuyễn, mụn trứng cá, đốm lão hoá (tàn nhang), mũi đỏ cà chua, bệnh giãn tĩnh mạch tinh, phục hồi vóc dáng cơ thể sau sinh; bệnh nhiễm trùng vùng chậu; chữa và ngừa tư thế lọm khọm (lưng còng xuống); tình trạng suy nhược cơ thể; bệnh mạch vành và biến chứng; bệnh tim; đột quỵ; cao huyết áp, gai cột sống, viêm khớp...

    BS Lê Văn Vĩnh hiện đang là huấn luyện viên khí công tại Câu lạc bộ Khí công TP HCM vào cuối tuần. Bên cạnh công việc của một BS Tây y hàng ngày. Một ngày của BS Vĩnh bắt đầu từ 6 giờ, anh tập luyện tới 7h30' Thái cực quyền và Thái dương công phu. Ngoài ra, anh còn tập nhiều bài của các môn phái khác để bổ túc như môn phái Võ Đang, Thiếu Lâm...

    Hồi Xuân công đang được nhiều người tập luyện để duy trì sức khoẻ và sức sống vui tươi. Không ai có thể thoát được vòng sinh-lão-bệnh-tử nhưng với sự đúc kết hàng nghìn năm, Hồi Xuân công có thể giúp cho con người làm chậm tiến trình lão hoá, kéo dài tuổi xuân.

    12 động tác của thuật "Dưỡng sinh trường thọ" và "Hồi Xuân công"

    1- Hồi xuân công; 2- Thượng nguyên công; 3- Bát quái công; 4- Băng tường công; 5- Quì túc công; 6- Long du công; 7- Thiềm vịnh công; 8- Thiên địa công; 9- Miêu phốc công; 10- Phượng vũ công; 11- Khánh thọ công; 12- Hoàn đồng công.

    Thế Giới Mới số 680

    Hồi xuân công pháp Khí công hồi xuân

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Là bác sĩ Tây y, chuyên ngành về nôi khoa và siêu âm, có nhiều năm công tác tại các bệnh viện đa khoa An Giang, Bạc Liêu và Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (TP HCM), rất tình cờ, bác sĩ (BS) Lê Văn Vĩnh đã được một ông thày người Hoa tại Chợ Lớn truyền cho liệu pháp khí công có tên HỒI XUÂN CÔNG. Hồi Xuân công đơn giản là làm cho con người trẻ, khoẻ mãi với thời gian.

    Cơ hội tình cờ

    Tốt nghiệp ĐH Y khoa Huế, nhưng BS Lê Văn Vĩnh luôn bị bạn bè ái ngại vì cơ thể gầy gò, ốm yếu của mình. Nhiều đồng nghiệp nói thẳng với anh rằng, với sức khoẻ như thế, anh khó lòng có thể vượt qua được ngưỡng tuổi 50. Với những kiến thức được học về Tây y, BS Vĩnh biết rằng bộ phận tiêu hoá của bản thân không tốt, nên các chất bổ đưa vào cơ thể không được hấp thụ hiệu quả nhất. Rời khỏi Huế, BS Vĩnh công tác tại các bệnh viện lớn ở miền Tây và TP HCM, vừa hành nghề vừa tìm tòi các loại thuốc bổ cả Đông và Tây y, ăn những món ăn bổ dưỡng nhất, nhưng cơ thể vẫn không cải thiện được chút nào. Sau nhiều năm tìm tòi những toa thuốc để tự cứu mình, BS Vĩnh tình cờ gặp được một số bạn bè người Hoa sống tại Q.5, TP HCM. Họ giới thiệu với anh bộ môn khí công vốn có truyền thống lâu đời từ Trung Quốc. Tự tập luyện, sức khoẻ của bác sĩ gầy gò đã được cải thiện đôi chút. Nhưng phải đến ba năm sau, BS Vĩnh mới tìm được thày giỏi truyền nghề cho mình. Đó là thày A Phủ ở Chợ lớn (ông đã mất cách đây 10 năm, thọ tròn 100 tuổi). Với các tài liệu mà thày A Phủ đưa cho cùng một số động tác được truyền lại, BS Vĩnh lặng lẽ luyện tập một mình. Anh kể rằng, thời gian đầu cực khổ lắm. Các tài liệu chủ yếu bằng tiếng Hoa và tiếng Anh. Vừa dịch, vừa luyện tập, từ sơ cấp lên trung cấp và cuối cùng, niềm vui đã tới, BS Vĩnh đã đạt trình độ cao cấp của bộ môn khí công.

    Sau 5 năm tập luyện như vậy, BS Lê Văn Vĩnh dần dần lên cân, khoẻ mạnh hơn. Từ 44kg, anh lên được 55kg và sau 20 năm tập luyện, đến giờ anh đã giữ được mức cân 60kg rất ổn định. Trước đây, anh ăn không ngon, ngủ không sâu, thì giờ đã ăn ngon ngủ tốt, đã qua tuổi trung niên, nhưng tóc BS Vĩnh rất xanh, da đỏ hồng hào, giọng nói sang sảng. Anh đã làm mất đi hình ảnh một BS Vĩnh gầy gò, ốm yếu, bệnh tật ngày xưa. Anh đang trẻ hoá nhờ bộ môn khí công mà anh đã theo đuổi vài chục năm nay, đó là Hồi Xuân công.

    Công pháp đặc biệt

    Hồi Xuân công là một công pháp đặc biệt của các đạo sĩ môn phái Hoa Sơn (Trung Quốc) có từ ngàn xưa. Tất cả các bài tập đều dựa trên lý thuyết ngũ hành âm dương làm cơ bản, từ đó, các kỳ kinh bát mạch trong cơ thể được thông suốt và thận được tăng cường chủ yếu. Tất cả các tuyến nội tiết đều được hoạt động lại hoàn thiện sung mãn như thời trẻ và có tác dụng chống lão hoá ưu việt nhất. "Đây chính là nét đặc thù của công pháp" - BS Vĩnh đã viết như vậy trong lời tựa cuốn Trường thọ Hồi Xuân công, lý thuyết và tác dụng, được lưu truyền trong Hội Dưỡng sinh TP HCM

    Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền văn minh lâu đời nhất trên thế giới. Một trong những kho báu văn hoá của TQ chính là phương pháp dưỡng sinh. Các công trình nghiên cứu trong quá khứ về dưỡng sinh đã bị hạn chế công bố do luật lệ nghiêm khắc của các đạo gia: "Không được truyền cho bất cứ ai, kể cả cha con". Nhưng có một người đã quyết định phá vỡ luật lệ hà khắc này khi ông ở tuổi gần đất xa trời. Đó là Biện Trị Trung (Bian Zhizhong), Chủ tịch Viện Nghiên cứu dưỡng sinh cổ truyền Bắc Kinh. Ông cho rằng, nếu giữ bí mật như vậy thì con cháu đời sau sẽ không được thừa hưởng và phát huy môn dưỡng sinh này nữa. Do vậy, Biện Trị Trung đã công bố các bài tập của thuật dưỡng sinh trường thọ, một di sản bí truyền của đạo gia chính thống từ môn phái Hoa Sơn, TQ. Cuốn sách Trường thọ Hồi Xuân công được xuất bản tại Thượng Hải năm 1988, được NXB Hà Nội dịch ra tiếng Việt phát hành năm 1996 tại VN.

    Theo Biện Trị Trung, thuật dưỡng sinh và trường thọ bao gồm nhiều mục. Nguyên lý cơ bản nhất là nâng cao chức năng sinh học, giữ cho tế bào khoẻ và hoạt động tốt, kích thích sản xuất nội tiết tố, kích thích các kinh lạc và tuần hoàn máu, điều hoà chức năng nội tạng, củng cố và kéo dài tuổi xuân, phục hồi khí lực. Luyện tập dưỡng sinh và trường thọ không cần phải có một chỗ rộng rãi. Người ta có thể tập ở sân, ở giường ngủ, thậm chí ở bàn làm việc cơ quan. Số lượng sinh lực tiêu thụ cho các bài tập này là nhỏ, dễ cử động và dễ nhớ. Người tập có thể cảm thấy hiệu quả ngay sau vài ngày tập. Tập lâu hơn sẽ thấy lão hoá bị chậm lại đối với người già và hồi phục khí lực. Càng tập luyện lâu càng thấy kết quả tuyệt vời.

    BS Lê Văn Vĩnh sau khi có được những tài liệu của Biện Trị Trung và được thày A Phủ truyền lại các tư thế của Hồi Xuân công đã có nhiều kinh nghiệm tập luyện. Theo BS Vĩnh, những bài tập này không phải là võ thuật hoặc khí công. Cũng không dùng sức hoặc dùng trí. Mục tiêu của bài tập là kích thích tuần hoàn máu với những cử động nhẹ nhàng tập trung quanh vùng đan điền. Võ thuật, thái cực quyền, quyền Anh hoặc khí công nhấn mạnh vào hiệu quả bên ngoài và tập trung sinh lực cơ thể vào ngực hoặc phần giữa của bụng, trong lúc Hồi Xuân công lại nhấn mạnh vào hiệu quả bên trong và tập trung sinh lực ở phần dưới bụng. Những bài tập có thể tập ở 7 tư thế và mỗi tư thế được chia làm nhiều phần. 7 tư thế đó là: đứng, ngồi, ngồi xổm, quỳ, bò, lăn và nằm ngửa. 7 tư thế của bài tập là độc lập nhau, nhưng liên hệ mật thiết. Mỗi tư thế có hai phần: cho nam và cho nữ. Người tập không cần phải tập tất cả những tư thế, nhưng tuyển chọn một hoặc vài tư thế thích hợp cho thể chất và điều kiện làm việc của họ. Những người mới tập đầu tiên nên học tư thế đứng.

    Tác dụng hữu hiệu

    Bắt đầu tập từ sơ cấp rồi đạt tới cao cấp, BS Lê Văn Vĩnh đã mang tất cả những vốn liếng học được để dạy lại cho tất cả những ai yêu thích Hồi Xuân công. Đã 10 năm nay, Hồi Xuân công được dạy lại cho bạn bè thân hữu để duy trì một sức khoẻ tốt. Hiện nay, cứ vào ngày nghỉ cuối tuần, anh lại truyền bá Hồi Xuân công cho các học viên tại Câu lạc bộ Khí công TP HCM.

    Để có thêm tư liệu, chúng tôi đã tìm gặp và trao đổi với một số học viên đã và đang theo tập Hồi Xuân công. Bà Nguyễn Thị Xuân, 57 tuổi (108/46A Trần Quang Diệu, Q3, TP HCM) có tiền sử bị viêm xoang 35 năm. Bà đã đi chữa nhiều nơi, mổ ba lần mà vẫn không khỏi. Bà Xuân bị ho liên tục do chất đàm (đờm) chảy xuống họng, kết hợp với bệnh rối loạn thần kinh ti, có triệu chứng đau nhói ngực và mất ngủ. Sau khi tập Hồi Xuân công được 3 tháng, hiện nay, bà Xuân đã bớt hẳn chứng viêm xoang, ăn ngủ tốt, bệnh tật đã chuyển biến rõ.

    Bà Lý Ngọc Sương, 60 tuổi (220/123 Lê Văn Sỹ, P14, Q3, TP HCM) bị cao huyết áp, thường xuyên bị cảm cùm và suy nhược cơ thể. Sau hai tháng tập Hồi Xuân công, bà nói triệu chứng cảm cúm không còn nữa và huyết áp đã trở lại bình thường.

    Bà Nguyễn Thị Hồng Lệ, 40 tuổi, bị mắc chứng mất ngủ kỳ lạ. Đã 2 năm rồi bà bị mất ngủ trắng đêm. Bà Lệ đã đi khám nhiều BS chuyên khoa thần kinh, uống thuốc ngủ nhiều đến mức cơ thể lờn thuốc mà vẫn không hết bệnh. Sau 2 tháng luyện tập Hồi Xuân công, bà Lệ đã có giấc ngủ bình thường như mọi người khác, từ 23 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau. Bà nói: "Hồi Xuân công đã cứu tôi qua khỏi chứng bệnh mất ngủ".

    Bà Hứa Thị Bạch Yến, 50 tuổi, đã tập khí công nhiều nhưng vẫn thấy cơ thể mệt mỏi. Sau khi chuyển sang Hồi Xuân công, hiện da mặt của bà Yến hồng hào khoẻ mạnh giống như thời còn xuân sắc.

    Một số lời khuyên rất tích cực của Hồi Xuân công là: khi tập luyện phải tin tưởng vào hiệu quả bài tập; nên tiến hành tuần tự và kiên nhẫn; tránh giận dữ và kiểm soát tốt những ham muốn; có cuộc sống vui vẻ và luôn tươi cười; cử động theo vòng tròn và mềm mại; bài tập dành cho bất cứ ai, không phân biệt tuổi tác và giới tính; có thể tập vào bất cứ thời gian nào trong ngày, nhưng tốt nhất là ngay trước khi ngủ và sau khi ngủ dậy trong khoảng 3-5 phút.

    Theo tài liệu mà BS Vĩnh cung cấp, tác dụng của Hồi Xuân công khá rộng trên toàn cơ thể, mà nổi trội là làm mạnh cơ quan sinh dục, chữa trị chứng bất lực và xuất tinh sớm; các bệnh phụ khoa; điều trị viêm phế quản mãn tính, hen xuyễn, mụn trứng cá, đốm lão hoá (tàn nhang), mũi đỏ cà chua, bệnh giãn tĩnh mạch tinh, phục hồi vóc dáng cơ thể sau sinh; bệnh nhiễm trùng vùng chậu; chữa và ngừa tư thế lọm khọm (lưng còng xuống); tình trạng suy nhược cơ thể; bệnh mạch vành và biến chứng; bệnh tim; đột quỵ; cao huyết áp, gai cột sống, viêm khớp...

    BS Lê Văn Vĩnh hiện đang là huấn luyện viên khí công tại Câu lạc bộ Khí công TP HCM vào cuối tuần. Bên cạnh công việc của một BS Tây y hàng ngày. Một ngày của BS Vĩnh bắt đầu từ 6 giờ, anh tập luyện tới 7h30' Thái cực quyền và Thái dương công phu. Ngoài ra, anh còn tập nhiều bài của các môn phái khác để bổ túc như môn phái Võ Đang, Thiếu Lâm...

    Hồi Xuân công đang được nhiều người tập luyện để duy trì sức khoẻ và sức sống vui tươi. Không ai có thể thoát được vòng sinh-lão-bệnh-tử nhưng với sự đúc kết hàng nghìn năm, Hồi Xuân công có thể giúp cho con người làm chậm tiến trình lão hoá, kéo dài tuổi xuân.

    12 động tác của thuật "Dưỡng sinh trường thọ" và "Hồi Xuân công"

    1- Hồi xuân công; 2- Thượng nguyên công; 3- Bát quái công; 4- Băng tường công; 5- Quì túc công; 6- Long du công; 7- Thiềm vịnh công; 8- Thiên địa công; 9- Miêu phốc công; 10- Phượng vũ công; 11- Khánh thọ công; 12- Hoàn đồng công.

    Thế Giới Mới số 680

    Sự sống bao gồm hoạt động và nghỉ ngơi. Các xúc động tâm lý, những căng thẳng thần kinh sẽ gây cản trở sự hoạt động và nghỉ ngơi. Không phát huy được khả năng, bền bỉ dẻo dai, không sáng suốt nhận định, đều do những căng thẳng, những xúc động gây ra. Hoạt động như vậy khó đạt được hiệu quả. Thân xác không hoạt động, trong lòng lại đầy những tính toán lo âu, là nghỉ ngơi không trọn vẹn, sinh lực chẳng được phục hồi. Hoạt động nghỉ ngơi như vậy, cuộc sống của ta khó có an vui hạnh phúc. Qua thực nghiệm, người xưa đã tìm ra và khoa học ngày nay đã công nhận : Với sự tập luyện khí công, nhịp tim sẽ điều hòa để bộ máy tâm sinh lý được cân bằng ồn định. Chỉ trong căn bằng ổn định, sự hoạt động nghỉ ngơi mới trọn vẹn.

    Khí công gồm hai phần : Tĩnh luyện và Động luyện.

    Khí công tĩnh luyện có thể tập ở hai tư thế : Ngồi hoặc nằm.

    Ở tư thế ngồi, ta ngồi xếp bằng hoặc cài chéo hai chân vào nhau, hai bàn tay úp xuống đùi, cánh tay ép vào lườn, xương sống thẳng để khí huyết dễ luân lưu, mắt nhắm chú tâm vào tam linh là vùng giữa hai chân mày, đổi chiều với não, đó là vùng suy nghĩ của não bộ. Chú tâm vào phần này khi luỵên khí, lâu ngày ta sẽ làm chủ được tư tưởng của mình và có khả năng tập trung tư tưởng cao.

    Ở tư thế nằm, ta nằm ngửa, hai tay để xuôi theo thân, bàn tay úp, nhắm mắt, chú tâm vào vùng rốn. Chú tâm vào vùng này khi luyện khí, huyết sẽ dồn xuống bụng làm thần kinh bớt căng thẳng. Nhờ vậy, ta dễ đi vào giấc ngủ và có được giấc ngủ êm sâu.

    Tập khí ở hai tư thế này, mắt phải nhắm lại, môi khép kín, lưỡi co lên hàm trên để kích thích sự hoạt động của các tuyến nước miếng, là phương dược trong cơ thể con người, giúp chặn bớt các chứng sưng gan, tim lớn và ngăn chặn được các chứng loét bao tử, thực quản.

    Khí công động luyện : Nhu khí công quyền.

    Thí dụ : bài Nhu Khí công quyền với một lối thở hai thì của Việt Võ Đạo.

    Như tên gọi đây là bài tập kết hợp hơi thở với các động tác co duỗi của tay, di động của chân với sự làm mềm tối đa các cơ bắp khi vận động. Nếu dày công tập luyện sẽ có khả năng làm chủ tâm ý, biết giảm bớt căng thẳng, từ đó sẽ có sự sáng suốt, bền bỉ dẻo dai khi hoạt động, khi làm việc tay chân hoặc trí óc. Lúc luyện tập các bài nhu khí, phải chú tâm vào các động tác để cảm nhận được sự co duỗi của cơ bắp, môi khép, lưỡi để tự nhiên, hít thở bằng mũi, hơi thở ăn nhịp với động tác, chú ý làm mềm các cơ vùng mặt và cơ bàn tay để có sự nhẹ nhàng thư thái trong tâm khi vận động.





    Tập khí công là tập thở bằng bụng : Hít vào phình bụng lên, thở ra hóp bụng lại. Hít thở bằng mũi. Hơi dài ngắn tùy sức, nhưng phải êm nhẹ, thời gian vào ra của hơi thở bằng nhau. Đây là phương pháp khí công tu dưỡng nên ngoài các cơ bắp giúp vùng bụng phình lên, hóp lại, giúp tay chân chuyển động các cơ bắp khác, nhất là các cơ bắp vùng mặt và cơ bàn tay phải làm mềm tối đa.Để đáp ứng như cầu hoạt động nghỉ ngơi của con người, như đã trình bày, khí công gồm hai phần : Động luyện và tĩnh luyện. Dù động hay tĩnh đều có thể cương hoạt nhu luyện. Khí công cương luyện là hít thở kết hợp sự căng cứng toàn bộ hay từng phần cơ bắp. Và sự tập trung cao độ của thần kinh vào vùng cơ bắp căng cứng. Đó là dùng lực để vận khí và phương pháp này tạo sức mạnh về thần chất cho người tập luyện. Khí công nhu luyện là sự hít thở đi đôi với sự làm mềm các cơ bắp, tạo êm dịu cho hệ thần kinh. Các cơ bắp khi ở trạng thái mềm tối đa, cơ thể con người được nghỉ ngơi trọn vẹn và sinh lực được mau chống phục hồi. Khí công nhu luyện giúp người tập có một nhịp tim điều hòa, một hệ thần kinh ổn định, sự điềm tĩnh nhu hòa sẽ đến. Đó chính là sức mạnh tinh thần.

    Khi luyện khí phải biết kết hợp giữa động lẫn tĩnh, cả cương lẫn nhu. Tuy nhiên, nếp sống ngày nay đã khiến mọi người phải quá hoạt động, gây ra quá nhiều sự căng thẳng về thần kinh nên cách tập thích hợp nhất cho mọi người là dù động hay tĩnh nên nhu luyện nhiều hơn để tái lập căng bằng.

    Có người nhờ luyện khí đã có những khả năng phi thường. Đó là trường hợp ít có. Những người này phải căn cốt đặc biệt còn phải trải qua một thời gian dài dồn toàn bộ tâm sức để luyện tập với các phương pháp vượt khỏi sự chịu đựng thông thường của mọi người. Cũng có những khả năng phi thường tự nhiên xuất hiện ở một số người. Khả năng siêu nhiên chính là tiềm năng của con người, có thể do luyện tập, cũng có thể tự nhiên xuất hiện. Đây không phải là hiện tượng phổ biến.

    Có nhiều lối luyện khí :
    Hai thì : Nạp (hít vào), Xả (thở ra)
    Ba thì : Nạp, Vận (nín thở lúc khí đầy phổi, đẩy khí đi toàn châu thân), Xả.
    Bốn thì : Nạp, Vận, Xả, Bế (ngưng thở lúc đã thở hết khí trời ra).

    Các lối thở này, với sự điều chỉnh hơi thở ra vô, êm nhẹ, từ từ, lâu dài, giúp người tập có khả năng điều chỉnh được nhịp tim, chịu đựng được các tình trạng thiếu oxy hoặc tăng nồng độ cacbonic trong máu, từ đó bắt buộc hệ thần kinh phải tự điều chỉnh cho thích nghi, tạo sức đề kháng để cơ thể có thể chống lại mọi thay đổi đột ngột của môi trường.

    Thở hai thì là lối thở căn bản của mọi phương pháp luyện khí. Tập thở hai thì, người tập sẽ làm quen dần với trạng thái thiếu oxy và dư carbonic trong máu ở mức độ vừa phải không đột ngột.

    Khi tập thở, hơi thở ra vô dài ngắn, tùy theo sức chịu đựng của mỗi người. Kiên nhẫn luyện tập, hơi thở sẽ trở nên êm nhẹ, lâu dài, thong thả, nhịp thở ra vô sẽ đều nhau, nhịp tim được điều hòa, hoạt động của bộ máy tâm sinh lý sẽ cân bằng ổn định. Sự cân bằng này được biểu lộ qua tác phong điềm tĩnh nhu hòa, vô cầu.
    Khi đã có sự cân bằng này rồi, nếu muốn, ta có thể luyện qua lối thở ba thì, bốn thì.

    Chỉ trong hoạt động, ta phải nín thở lấy sức, còn bình thường, lối thở hai thì là lối thở tự nhiên của mọi người. Ai cũng hít thở, nhưng nếu không luyện khí, sự hít thở sẽ không hoàn chỉnh. Sự hít thở gọi là hoàn chỉnh khi cả lúc động và tĩnh hơi thở ra vô lúc nào cũng nhẹ êm, sâu dài, thong thả. Luyện khí ở tư thế như tĩnh, ta dễ chuyên chú vào khí để hoàn thiện, dễ làm chủ hơi thở của chính mình. Nhờ tập nhu khí ở tư thế tĩnh, ta sẽ dễ phát huy được động năng của các bào nhu khí, cương khí đối với bản thân khi luyện tập. Đó là sự kết hợp giữa động và tĩnh trong luyện khí. Nếu chuyên luyện nhu khí sự trẻ trung tươi mát, sự bền bỉ dẽo dai, sự hồn nhiên vô tư, sự hiền hòa từ tốn, sự bao dung độ lượng sẽ đến với ta. Đấy chính là cái đẹp bên ngoài của tinh thần Nhân Võ Đạo.

    Vận động với nhịp độ nhanh, cường độ mạnh, cần tăng cường hô hấp nên đôi khi phải thở ra bằng miệng mới kịp. Tuy nhiên, tốt nhất là nên hít thở bằng mũi .

    Có những lý do sau :

    - Mũi là bộ máy điều hòa không khí của cơ thể. Với những nếp gấp ở hốc mũi, không khí hít vào được tẩy bụi, hấp nóng, có khi lại được tiếp hơi ấm để đủ điều kiện cần thiết trước khi vào phổi. Hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng, mũi do hấp nóng không khí khi hít vào, nhiệt độ bị giảm dần, sẽ bị lạnh. Điều này có thể gây sổ mũi hoặc sưng cuống phổi. Nếu thở ra bằng mũi hơi thở sẽ hoàn toàn cấp nhiệt cho mũi và như thế lại giúp nó làm tròn vai trò điều hòa không khí hít vào.

    - Mũi có vai trò điều tiết lưu lượng không khí hít vào thở ra và làm giảm tốc quá trình hô hấp. Hít vào bằng miệng, lẽ tất nhiên là ta đưa nhanh chóng vào phổi một lượng lớn không khí và như thế dễ làm tổn thương nhiều phế nang tế nhị. Vả lại, nên hiểu rằng khi hít vào, phổi vừa hấp thụ cả không khí lẫn máu theo một tỉ lệ nhất định để giữ cân bằng cho môi trường bên trong. Thở bằng miệng thường làm thay đổi tỷ lệ đó và làm mất cân bằng cơ chế hô hấp vốn rất tinh tế. Thở bằng miệng chỉ áp dụng trong những trường hợp khẩn cấp do cơ thể đòi hỏi.

    - Những nếp gấp trong mũi được phủ đầy đầu dây thần kinh có mắc nối với nhiều cơ quan và các trọng tâm thần kinh. Gặp người bị ngất, cho họ ngửi ammoniac hoặc giấm chua, họ có thể tỉnh ngay. Cơ thể của con người cũng cần được kích thích bởi luồng không khí qua mũi.

    Trong cơ thể con người, mạch là những ống dẫn huyết từ tim chạy khắp châu thân và ngược lại. Theo Đông y, ngoài mạch máu ra còn có hệ thống kinh lạc. Kinh là những đường dây nối liền các huyệt trong châu thân theo một đường dọc và lạc là những đường nối liền từ kinh nọ sang kinh kia, chạy theo hàng ngang. Có hai kinh chính là Nhâm Kinh và Đốc Kinh. Nhâm Kinh là đường kinh nối liền từ chỗ hõm ở môi dưới chạy thẳng xuống, qua lằn chỉ ở dịch hoàn đến hậu môn. Đốc Kinh là đường kinh chạy từ đỉnh xương cùng đến đỉnh xương đầu trỏ ra trước mặt vượt qua rãnh dưới đầu mũi tới dưới răng hàm trên. Khi luyện khí, hai môi nên khép lại cho Nhâm Kinh và Đốc Kinh được nối liền với nhau, để khí dễ luân lưu. Ngoài ra, lưỡi co lên, chạm vòm họng để kích thích sự hoạt động của các tuyến nước bọt. Theo y học thì nước miếng là phương thần dược trong cơ thể con người có thể trị các chứng sưng gan : Tim lớn, làm thần kinh mát dịu, nhất là những chứng lở loét bao tử, thực quản. Chúng ta cũng thường thấy rằng một cái dầm xướng cá chích vào chân răng, lưỡi miệng, chỉ trong hai, ba tiếng đồng hồ không nghe đau nhức nữa. Nếu da thịt bị như thế, ít nhất hai ba hôm mới hết, có khi lại trở thành mụn nữa.

    Tập khí công là tập thở bằng bụng dưới (hít vào, phình bụng - thở ra, hóp bụng) để kích thích vùng đan điền. Đông Y quan niện đó là nơi tích tụ sinh lực của con người và khoa học ngày nay coi đó là vùng trọng tâm của cơ thể. Khi kích thích đúng mức, sinh lực sẽ được phát huy. Nói cách khác, khi trọng tâm con người, do tập luyện trở về vị trí đan điền, tâm sinh lý được cân bằng. Trong trạng thái cân bằng, sinh lực sẽ được phát huy toàn vẹn. Nếu đã nắm vững hệ thống kinh mạch, ta có thể dùng tư tưởng để dẫn khí.

    Tuy nhiên, dùng ý dẫn khí sẽ sinh tâm lý nóng vội vì muốn mau chóng thành công, như vậy dễ đi đến tình trạng thái quá, dễ gây căng thẳng cho hệ thần kinh, hệ tim mạch bị loạn nhịp. Sinh lý bị xáo trộn do luyện khí, người xưa gọi là “tẩu hỏa nhập mà”. Cách tập an toàn nhất cho tất cả mọi người là tập với lòng thanh thản, vô cầu, không dùng ý dẫn khí, chỉ thư giãn tối đa, tùy cơ thể tập, chú tâm vào từng vùng nào đó. Thí dụ : Tập khí ở tư thế tĩnh tọa, chú tâm vào vùng giữa hai chân mày, ở tư thế nằm, chú tâm vào vùng rốn. Khi thở đúng mức, khai thông được hai kinh Nhâm, Đốc, luồng khí sẽ chu lưu khắp cơ thể theo hệ thống kinh lạc. Khi hít thở, dưỡng khí qua phế nang được máu hấp thụ, theo động mạch đi đến các cơ quan. Khí di chuyển theo đường kinh lạc là một thứ khí khác; người xưa gọi là : Chân khí, Tiên thiên khí, Khí thái hư… Hấp thụ được luồng khí này, con người sẽ phát triển được các phẩm chất thanh cao, hướng thượng. Người tập có khả năng điều khí tốt, khai thông được Nhâm, Đốc Kinh, thì các bài nhu khí, cương khí sẽ giúp thúc đẩy dẫn khí ra tứ chi. Khai thông kinh lạc là bước đầu của lĩnh vực khí công.

    Tập khí công phải biết phối hợp giữa động với tĩnh, và đó là nguyên lý Cương Nhu Phối Triển của Vovinam- Việt Võ Đạo

    V.S LÊ SÁNG

    Luyện tập khí công - tuyệt kỹ kungfu võ thuật khí công thực hành

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Sự sống bao gồm hoạt động và nghỉ ngơi. Các xúc động tâm lý, những căng thẳng thần kinh sẽ gây cản trở sự hoạt động và nghỉ ngơi. Không phát huy được khả năng, bền bỉ dẻo dai, không sáng suốt nhận định, đều do những căng thẳng, những xúc động gây ra. Hoạt động như vậy khó đạt được hiệu quả. Thân xác không hoạt động, trong lòng lại đầy những tính toán lo âu, là nghỉ ngơi không trọn vẹn, sinh lực chẳng được phục hồi. Hoạt động nghỉ ngơi như vậy, cuộc sống của ta khó có an vui hạnh phúc. Qua thực nghiệm, người xưa đã tìm ra và khoa học ngày nay đã công nhận : Với sự tập luyện khí công, nhịp tim sẽ điều hòa để bộ máy tâm sinh lý được cân bằng ồn định. Chỉ trong căn bằng ổn định, sự hoạt động nghỉ ngơi mới trọn vẹn.

    Khí công gồm hai phần : Tĩnh luyện và Động luyện.

    Khí công tĩnh luyện có thể tập ở hai tư thế : Ngồi hoặc nằm.

    Ở tư thế ngồi, ta ngồi xếp bằng hoặc cài chéo hai chân vào nhau, hai bàn tay úp xuống đùi, cánh tay ép vào lườn, xương sống thẳng để khí huyết dễ luân lưu, mắt nhắm chú tâm vào tam linh là vùng giữa hai chân mày, đổi chiều với não, đó là vùng suy nghĩ của não bộ. Chú tâm vào phần này khi luỵên khí, lâu ngày ta sẽ làm chủ được tư tưởng của mình và có khả năng tập trung tư tưởng cao.

    Ở tư thế nằm, ta nằm ngửa, hai tay để xuôi theo thân, bàn tay úp, nhắm mắt, chú tâm vào vùng rốn. Chú tâm vào vùng này khi luyện khí, huyết sẽ dồn xuống bụng làm thần kinh bớt căng thẳng. Nhờ vậy, ta dễ đi vào giấc ngủ và có được giấc ngủ êm sâu.

    Tập khí ở hai tư thế này, mắt phải nhắm lại, môi khép kín, lưỡi co lên hàm trên để kích thích sự hoạt động của các tuyến nước miếng, là phương dược trong cơ thể con người, giúp chặn bớt các chứng sưng gan, tim lớn và ngăn chặn được các chứng loét bao tử, thực quản.

    Khí công động luyện : Nhu khí công quyền.

    Thí dụ : bài Nhu Khí công quyền với một lối thở hai thì của Việt Võ Đạo.

    Như tên gọi đây là bài tập kết hợp hơi thở với các động tác co duỗi của tay, di động của chân với sự làm mềm tối đa các cơ bắp khi vận động. Nếu dày công tập luyện sẽ có khả năng làm chủ tâm ý, biết giảm bớt căng thẳng, từ đó sẽ có sự sáng suốt, bền bỉ dẻo dai khi hoạt động, khi làm việc tay chân hoặc trí óc. Lúc luyện tập các bài nhu khí, phải chú tâm vào các động tác để cảm nhận được sự co duỗi của cơ bắp, môi khép, lưỡi để tự nhiên, hít thở bằng mũi, hơi thở ăn nhịp với động tác, chú ý làm mềm các cơ vùng mặt và cơ bàn tay để có sự nhẹ nhàng thư thái trong tâm khi vận động.





    Tập khí công là tập thở bằng bụng : Hít vào phình bụng lên, thở ra hóp bụng lại. Hít thở bằng mũi. Hơi dài ngắn tùy sức, nhưng phải êm nhẹ, thời gian vào ra của hơi thở bằng nhau. Đây là phương pháp khí công tu dưỡng nên ngoài các cơ bắp giúp vùng bụng phình lên, hóp lại, giúp tay chân chuyển động các cơ bắp khác, nhất là các cơ bắp vùng mặt và cơ bàn tay phải làm mềm tối đa.Để đáp ứng như cầu hoạt động nghỉ ngơi của con người, như đã trình bày, khí công gồm hai phần : Động luyện và tĩnh luyện. Dù động hay tĩnh đều có thể cương hoạt nhu luyện. Khí công cương luyện là hít thở kết hợp sự căng cứng toàn bộ hay từng phần cơ bắp. Và sự tập trung cao độ của thần kinh vào vùng cơ bắp căng cứng. Đó là dùng lực để vận khí và phương pháp này tạo sức mạnh về thần chất cho người tập luyện. Khí công nhu luyện là sự hít thở đi đôi với sự làm mềm các cơ bắp, tạo êm dịu cho hệ thần kinh. Các cơ bắp khi ở trạng thái mềm tối đa, cơ thể con người được nghỉ ngơi trọn vẹn và sinh lực được mau chống phục hồi. Khí công nhu luyện giúp người tập có một nhịp tim điều hòa, một hệ thần kinh ổn định, sự điềm tĩnh nhu hòa sẽ đến. Đó chính là sức mạnh tinh thần.

    Khi luyện khí phải biết kết hợp giữa động lẫn tĩnh, cả cương lẫn nhu. Tuy nhiên, nếp sống ngày nay đã khiến mọi người phải quá hoạt động, gây ra quá nhiều sự căng thẳng về thần kinh nên cách tập thích hợp nhất cho mọi người là dù động hay tĩnh nên nhu luyện nhiều hơn để tái lập căng bằng.

    Có người nhờ luyện khí đã có những khả năng phi thường. Đó là trường hợp ít có. Những người này phải căn cốt đặc biệt còn phải trải qua một thời gian dài dồn toàn bộ tâm sức để luyện tập với các phương pháp vượt khỏi sự chịu đựng thông thường của mọi người. Cũng có những khả năng phi thường tự nhiên xuất hiện ở một số người. Khả năng siêu nhiên chính là tiềm năng của con người, có thể do luyện tập, cũng có thể tự nhiên xuất hiện. Đây không phải là hiện tượng phổ biến.

    Có nhiều lối luyện khí :
    Hai thì : Nạp (hít vào), Xả (thở ra)
    Ba thì : Nạp, Vận (nín thở lúc khí đầy phổi, đẩy khí đi toàn châu thân), Xả.
    Bốn thì : Nạp, Vận, Xả, Bế (ngưng thở lúc đã thở hết khí trời ra).

    Các lối thở này, với sự điều chỉnh hơi thở ra vô, êm nhẹ, từ từ, lâu dài, giúp người tập có khả năng điều chỉnh được nhịp tim, chịu đựng được các tình trạng thiếu oxy hoặc tăng nồng độ cacbonic trong máu, từ đó bắt buộc hệ thần kinh phải tự điều chỉnh cho thích nghi, tạo sức đề kháng để cơ thể có thể chống lại mọi thay đổi đột ngột của môi trường.

    Thở hai thì là lối thở căn bản của mọi phương pháp luyện khí. Tập thở hai thì, người tập sẽ làm quen dần với trạng thái thiếu oxy và dư carbonic trong máu ở mức độ vừa phải không đột ngột.

    Khi tập thở, hơi thở ra vô dài ngắn, tùy theo sức chịu đựng của mỗi người. Kiên nhẫn luyện tập, hơi thở sẽ trở nên êm nhẹ, lâu dài, thong thả, nhịp thở ra vô sẽ đều nhau, nhịp tim được điều hòa, hoạt động của bộ máy tâm sinh lý sẽ cân bằng ổn định. Sự cân bằng này được biểu lộ qua tác phong điềm tĩnh nhu hòa, vô cầu.
    Khi đã có sự cân bằng này rồi, nếu muốn, ta có thể luyện qua lối thở ba thì, bốn thì.

    Chỉ trong hoạt động, ta phải nín thở lấy sức, còn bình thường, lối thở hai thì là lối thở tự nhiên của mọi người. Ai cũng hít thở, nhưng nếu không luyện khí, sự hít thở sẽ không hoàn chỉnh. Sự hít thở gọi là hoàn chỉnh khi cả lúc động và tĩnh hơi thở ra vô lúc nào cũng nhẹ êm, sâu dài, thong thả. Luyện khí ở tư thế như tĩnh, ta dễ chuyên chú vào khí để hoàn thiện, dễ làm chủ hơi thở của chính mình. Nhờ tập nhu khí ở tư thế tĩnh, ta sẽ dễ phát huy được động năng của các bào nhu khí, cương khí đối với bản thân khi luyện tập. Đó là sự kết hợp giữa động và tĩnh trong luyện khí. Nếu chuyên luyện nhu khí sự trẻ trung tươi mát, sự bền bỉ dẽo dai, sự hồn nhiên vô tư, sự hiền hòa từ tốn, sự bao dung độ lượng sẽ đến với ta. Đấy chính là cái đẹp bên ngoài của tinh thần Nhân Võ Đạo.

    Vận động với nhịp độ nhanh, cường độ mạnh, cần tăng cường hô hấp nên đôi khi phải thở ra bằng miệng mới kịp. Tuy nhiên, tốt nhất là nên hít thở bằng mũi .

    Có những lý do sau :

    - Mũi là bộ máy điều hòa không khí của cơ thể. Với những nếp gấp ở hốc mũi, không khí hít vào được tẩy bụi, hấp nóng, có khi lại được tiếp hơi ấm để đủ điều kiện cần thiết trước khi vào phổi. Hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng, mũi do hấp nóng không khí khi hít vào, nhiệt độ bị giảm dần, sẽ bị lạnh. Điều này có thể gây sổ mũi hoặc sưng cuống phổi. Nếu thở ra bằng mũi hơi thở sẽ hoàn toàn cấp nhiệt cho mũi và như thế lại giúp nó làm tròn vai trò điều hòa không khí hít vào.

    - Mũi có vai trò điều tiết lưu lượng không khí hít vào thở ra và làm giảm tốc quá trình hô hấp. Hít vào bằng miệng, lẽ tất nhiên là ta đưa nhanh chóng vào phổi một lượng lớn không khí và như thế dễ làm tổn thương nhiều phế nang tế nhị. Vả lại, nên hiểu rằng khi hít vào, phổi vừa hấp thụ cả không khí lẫn máu theo một tỉ lệ nhất định để giữ cân bằng cho môi trường bên trong. Thở bằng miệng thường làm thay đổi tỷ lệ đó và làm mất cân bằng cơ chế hô hấp vốn rất tinh tế. Thở bằng miệng chỉ áp dụng trong những trường hợp khẩn cấp do cơ thể đòi hỏi.

    - Những nếp gấp trong mũi được phủ đầy đầu dây thần kinh có mắc nối với nhiều cơ quan và các trọng tâm thần kinh. Gặp người bị ngất, cho họ ngửi ammoniac hoặc giấm chua, họ có thể tỉnh ngay. Cơ thể của con người cũng cần được kích thích bởi luồng không khí qua mũi.

    Trong cơ thể con người, mạch là những ống dẫn huyết từ tim chạy khắp châu thân và ngược lại. Theo Đông y, ngoài mạch máu ra còn có hệ thống kinh lạc. Kinh là những đường dây nối liền các huyệt trong châu thân theo một đường dọc và lạc là những đường nối liền từ kinh nọ sang kinh kia, chạy theo hàng ngang. Có hai kinh chính là Nhâm Kinh và Đốc Kinh. Nhâm Kinh là đường kinh nối liền từ chỗ hõm ở môi dưới chạy thẳng xuống, qua lằn chỉ ở dịch hoàn đến hậu môn. Đốc Kinh là đường kinh chạy từ đỉnh xương cùng đến đỉnh xương đầu trỏ ra trước mặt vượt qua rãnh dưới đầu mũi tới dưới răng hàm trên. Khi luyện khí, hai môi nên khép lại cho Nhâm Kinh và Đốc Kinh được nối liền với nhau, để khí dễ luân lưu. Ngoài ra, lưỡi co lên, chạm vòm họng để kích thích sự hoạt động của các tuyến nước bọt. Theo y học thì nước miếng là phương thần dược trong cơ thể con người có thể trị các chứng sưng gan : Tim lớn, làm thần kinh mát dịu, nhất là những chứng lở loét bao tử, thực quản. Chúng ta cũng thường thấy rằng một cái dầm xướng cá chích vào chân răng, lưỡi miệng, chỉ trong hai, ba tiếng đồng hồ không nghe đau nhức nữa. Nếu da thịt bị như thế, ít nhất hai ba hôm mới hết, có khi lại trở thành mụn nữa.

    Tập khí công là tập thở bằng bụng dưới (hít vào, phình bụng - thở ra, hóp bụng) để kích thích vùng đan điền. Đông Y quan niện đó là nơi tích tụ sinh lực của con người và khoa học ngày nay coi đó là vùng trọng tâm của cơ thể. Khi kích thích đúng mức, sinh lực sẽ được phát huy. Nói cách khác, khi trọng tâm con người, do tập luyện trở về vị trí đan điền, tâm sinh lý được cân bằng. Trong trạng thái cân bằng, sinh lực sẽ được phát huy toàn vẹn. Nếu đã nắm vững hệ thống kinh mạch, ta có thể dùng tư tưởng để dẫn khí.

    Tuy nhiên, dùng ý dẫn khí sẽ sinh tâm lý nóng vội vì muốn mau chóng thành công, như vậy dễ đi đến tình trạng thái quá, dễ gây căng thẳng cho hệ thần kinh, hệ tim mạch bị loạn nhịp. Sinh lý bị xáo trộn do luyện khí, người xưa gọi là “tẩu hỏa nhập mà”. Cách tập an toàn nhất cho tất cả mọi người là tập với lòng thanh thản, vô cầu, không dùng ý dẫn khí, chỉ thư giãn tối đa, tùy cơ thể tập, chú tâm vào từng vùng nào đó. Thí dụ : Tập khí ở tư thế tĩnh tọa, chú tâm vào vùng giữa hai chân mày, ở tư thế nằm, chú tâm vào vùng rốn. Khi thở đúng mức, khai thông được hai kinh Nhâm, Đốc, luồng khí sẽ chu lưu khắp cơ thể theo hệ thống kinh lạc. Khi hít thở, dưỡng khí qua phế nang được máu hấp thụ, theo động mạch đi đến các cơ quan. Khí di chuyển theo đường kinh lạc là một thứ khí khác; người xưa gọi là : Chân khí, Tiên thiên khí, Khí thái hư… Hấp thụ được luồng khí này, con người sẽ phát triển được các phẩm chất thanh cao, hướng thượng. Người tập có khả năng điều khí tốt, khai thông được Nhâm, Đốc Kinh, thì các bài nhu khí, cương khí sẽ giúp thúc đẩy dẫn khí ra tứ chi. Khai thông kinh lạc là bước đầu của lĩnh vực khí công.

    Tập khí công phải biết phối hợp giữa động với tĩnh, và đó là nguyên lý Cương Nhu Phối Triển của Vovinam- Việt Võ Đạo

    V.S LÊ SÁNG

    Ngày nay, trong những bộ phim dã sử võ hiệp, ta có thể thấy các nhân vật trong phim bay lượn như chim hoặc nhảy từ dưới đất lên nóc nhà cao. Ai cũng biết đấy gọi là khinh công và thực hiện được trên phim ảnh nhờ kỹ xảo điện ảnh, vậy còn ngoài đời thì sao?

    Tương truyền, khinh công do các đạo sỹ núi Võ Đang tạo ra. Khởi thủy, các đạo sỹ Võ Đang tu luyện theo thuyết "Trường sinh bất lão" của Đạo Giáo, họ ăn chay trường, tập khí công, luyện linh đan để mong muốn giúp con người hòa nhập với thiên nhiên kéo dài tuổi thọ. Thậm chí theo họ, có thể bay như chim, bơi lặn như cá, chính vì vậy người Trung Quốc mới có câu "Võ Đang Nội Gia". Hình ảnh người đạo sỹ da dẻ hồng hào, tay cầm phất trần, chân di chuyển không chấm đất trở thành đại diện cho những cao nhân đắc đạo.

    Khinh công, hiểu một cách nôm na là sự kết hợp giữa động tác cơ thể với khí công nhwàm giảm tối đa trọng lượng cơ thể so với trọng lượng thực để thoát khỏi hoặc làm giảm ảnh hưởng của lực hút Trái Đất đối với cơ thể, giúp người ta có thể nhảy cao hơn, chạy nhanh hơn, xa hơn,...

    Khinh công bao gồm nhiều môn như: khinh thân hay còn gọi là phi thân (nhảy cao), thần hành (chạy nhanh), bích hổ du tường (thằn lằn leo tường) và thủy thượng phiêu (di chuyển trên mặt nước)

    Đối với khinh thân, đây là môn khinh công được phim ảnh, sách báo nói đến nhiều nhất. Một cuốn sách dạy cách khinh công như sau: "Đeo lên người và chân những túi đựng chì, đào một cái hố sâu khoảng 50cm, rồi tập nhảy từ dưới hố lên. Cứ vậy đào hố sâu dần xuống, khoảng 10 năm sau bỏ những túi chì ra bạn có thể nhảy cao 5m". Thực ra đây chỉ là bài luyện tập sức bật của chân, nó chỉ có thể giúp bạn tăng tốc độ và sức mạnh của đòn đá đồng thời nhảy cao thêm đượ một hút hứ không thể bay cao như sách nói.

    Tuy vậy khinh thân vẫn tồn tại nhưng ở một số dạng khác nhau.

    Trong cuốn "Hành trình về Phương Đông" do một số giáo sư tiến sỹ Viện Hàn Lâm Anh ghi lại chuyến đi của mình đến Tây Tạng, họ có kể một câu chuyện về các nhà sư ngồi thiền trước bàn thờ, đột nhiên các nhà sư từ từ bay lên và cứ thế ngồi lơ lửng ở độ cao 1m cách mặt đất.

    Hoặc trong mục "Chuyện lạ đó đây" trên tivi, có nói về một phụ nữ Singapore đã biểu diễn khả năng khinh thân của mình bằng cách đứng lên một tờ giấy bản đặt trên một cái khung gỗ mà giấy không rách. Nhưng nếu đặt một quả dưa khoảng 3kg lên trên hoặc chị ta không vận khí thì tờ giấy lập tức rách ngay.

    Nhưng dù sao dẫn chứng này vẫn còn mang màu sắc tôn giáo. Trong võ thuật, khinh thân được thể hiện ở một dạng khác. Các võ sỹ Wushu hoặc Vovinam có thể tung mình lên cao rồi rơi cả người xuống đất một cách nhẹ nhàng không chấn thương đau đớn gì cả. Mặc dù sự góp mặt nhiều của khí không không nhiều, nhưng đó cũng là khinh thân. Có những võ sư Taekwondo biểu diễn màn khinh thân mượn lực bằng cách tung mình lên không đá vỡ tám tấm ván do tám người dàn hàng ngang cầm trên tay, mỗi khi chân đá vỡ một tấm cũng là lúc vị võ sư mượn lực phản hồi để giữ người mình trên không và lấy đà đá tấm kế tiếp.

    Thần hành - tương truyền một ngày có thể đi hàng trăm dặm chân không chạm đất giống như nhân vật Đới Tung trong truyện Thủy Hử vậy. Trong cuốn "Thiếu Lâm bảy mươi hai tuyệt kỹ thất truyền" có dạy cách luyện thần hành như sau: "Trải cát dày khoảng 10cm trên đoạn đường dài 30m. Phủ lên trên một lớp giấy bản. Buộc chì thật nặng vào chân, lấy đà rồi chạy thật nhanh qua đoạn đường ấy. Cứ tập đi tập lại khoảng 10 năm, khi thấy chạy qua mà không rách giấy là được...". Hẳn bạn đọc sẽ phải bật cười vì cách luyện tập ngô nghê như vậy. Theo như truyện kể lại, người luyện được phép thần hành phải tinh thông khinh thân và khí công, như thế mới giúp cơ thể lâu xuống sức. Đáng tiếc vào thời điểm này không có dẫn chứng minh họa nào cho thuật này, tuy nhiên so với người bình thường, những vận động viên marathon một ngày có thể chạy được hàng chục thậm chí hàng trăm cây số cũng đáng được coi là thần hành rồi.

    Bích hổ du tường, môn khinh công thuộc dạng leo trèo. Trong các phim nói về Ninja, ta có thể thấy những nhân vật Ninja đeo vào tay và chân các móc sắc nhọn để bám tường hoặc bám thân cây leo lên. Đây là kỹ năng sử dụng tay chân và lợi dụng lực tì để giữ vững trọng tâm cũng như thăng bằng của cơ thể mà tạo thế bám mà leo lên cao. Hẳn không ít người đã được nghe chuyện về những chiến sỹ đặc công có thể lợi dụng điểm tiếp giáp của hai bức tường mà tạo thành góc 90 độ mà leo lên tận nóc nhà.

    Bên cạnh đó trong cuộc sống cũng có nhiều kỹ thuật tương tự. Tại những vùng trồng và làm đường thốt nốt, các em bé người Kinh hoặc Khơme muốn lấy được thốt nốt phải leo lên ngọn cây cao hơn chục mét. Vậy mà chỉ cần hai tay vòng qua thân cây, hai chân đạp vào thân cây lấy thế, trên người lỉnh kỉnh những ống bương để đựng nước thốt nốt, không cần dụng cụ hỗ trợ, các em leo vun vút lên tận ngọn cây trơn láng. Hay những anh chàng thích leo tường nhà chọc trời.

    Có lẽ môn bích hổ du tường bí quyết chính là ở sự khéo léo của con người và nó cũng là môn khinh công tương đối dễ tập nhất.

    Cuối cùng, thủy thượng phiêu, môn khinh công giúp người ta đi lại trên mặt nước. Về lý thuyết, người thực hiện phải vận khí công giảm tối đa trọng lượng cơ thể, sau đó buộc vào chân một vật nhẹ, nổi như miếng xốp, mảnh ván hoặc một đoạn ống tre... để có thể đi trên mặt nước. Tuy nhiên thuật này phải tốn nhiều chân khí nên không thể thực hiện thường xuyên. Trên một tờ tạp chí võ thuật đã lâu, có đăng một bài và ảnh mình hoạ về một võ sư Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8. Ông đã biểu diễn tại Đà Lạt tuyệt kỹ thủy thượng phiêu của mình. Ông buộc hai bó cỏ vào hai chân và vượt qua hồ trước sự chứng kiến của nhiều người.

    Có một câu chuyện nữa xảy ra trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp do một cụ già kể lại. Hồi đó, tổ giao liên của cụ nhận lệnh chuyển thư qua sông để báo tin địch càn và xin tiếp viện. Nước sông chảy quá xiết không thể bơi qua, thuyền tuần tiễn của địch đi lại trên mặt sông nên không thể thả thuyền được. Anh Trọng, người gốc Bình Định mới gia nhập tổ giao liên quyết định một mình vượt sông. Anh lấy bốn đoạn lồ ô buộc vào hai chân, để lại tất cả vũ khí, quần áo, chỉ mặc đúng cái quần lót, ngậm thư vào miệng và lao ra sông. Thật kỳ lạ, người anh như chạy trên mặt nước, tạo thành một đường xiên xuôi theo dòng chảy sang bờ bên kia. Rõ ràng bọn lính trên canô đã nhìn thấy và chỉ cho nhau, nhưng không một viên đạn nào bắn theo, có thể bọn chúng tưởng nhìn thấy... ma. Sau đó những trận chiến ác liệt xảy ra và ông cụ già không gặp lại người đội viên của mình nữa.

    Vậy đó, hy vọng sau bài này, bạn đọc sẽ có một cái nhìn cụ thể hơn về tuyệt kỹ khinh công, tuy rằng hầu hết vẫn còn mang tính lý thuyết và sách vở nhưng mong một ngày nào đó, tuyệt kỹ khinh công sẽ hiện diện cụ thể để nó không chỉ tồn tại trong giai thoại hoặc trong huyền thoại.

    Khinh công: Sắc màu huyền thoại của khinh công và thực tế

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Tinh-hoa-Võ-thuật  |  Read More»

    Ngày nay, trong những bộ phim dã sử võ hiệp, ta có thể thấy các nhân vật trong phim bay lượn như chim hoặc nhảy từ dưới đất lên nóc nhà cao. Ai cũng biết đấy gọi là khinh công và thực hiện được trên phim ảnh nhờ kỹ xảo điện ảnh, vậy còn ngoài đời thì sao?

    Tương truyền, khinh công do các đạo sỹ núi Võ Đang tạo ra. Khởi thủy, các đạo sỹ Võ Đang tu luyện theo thuyết "Trường sinh bất lão" của Đạo Giáo, họ ăn chay trường, tập khí công, luyện linh đan để mong muốn giúp con người hòa nhập với thiên nhiên kéo dài tuổi thọ. Thậm chí theo họ, có thể bay như chim, bơi lặn như cá, chính vì vậy người Trung Quốc mới có câu "Võ Đang Nội Gia". Hình ảnh người đạo sỹ da dẻ hồng hào, tay cầm phất trần, chân di chuyển không chấm đất trở thành đại diện cho những cao nhân đắc đạo.

    Khinh công, hiểu một cách nôm na là sự kết hợp giữa động tác cơ thể với khí công nhwàm giảm tối đa trọng lượng cơ thể so với trọng lượng thực để thoát khỏi hoặc làm giảm ảnh hưởng của lực hút Trái Đất đối với cơ thể, giúp người ta có thể nhảy cao hơn, chạy nhanh hơn, xa hơn,...

    Khinh công bao gồm nhiều môn như: khinh thân hay còn gọi là phi thân (nhảy cao), thần hành (chạy nhanh), bích hổ du tường (thằn lằn leo tường) và thủy thượng phiêu (di chuyển trên mặt nước)

    Đối với khinh thân, đây là môn khinh công được phim ảnh, sách báo nói đến nhiều nhất. Một cuốn sách dạy cách khinh công như sau: "Đeo lên người và chân những túi đựng chì, đào một cái hố sâu khoảng 50cm, rồi tập nhảy từ dưới hố lên. Cứ vậy đào hố sâu dần xuống, khoảng 10 năm sau bỏ những túi chì ra bạn có thể nhảy cao 5m". Thực ra đây chỉ là bài luyện tập sức bật của chân, nó chỉ có thể giúp bạn tăng tốc độ và sức mạnh của đòn đá đồng thời nhảy cao thêm đượ một hút hứ không thể bay cao như sách nói.

    Tuy vậy khinh thân vẫn tồn tại nhưng ở một số dạng khác nhau.

    Trong cuốn "Hành trình về Phương Đông" do một số giáo sư tiến sỹ Viện Hàn Lâm Anh ghi lại chuyến đi của mình đến Tây Tạng, họ có kể một câu chuyện về các nhà sư ngồi thiền trước bàn thờ, đột nhiên các nhà sư từ từ bay lên và cứ thế ngồi lơ lửng ở độ cao 1m cách mặt đất.

    Hoặc trong mục "Chuyện lạ đó đây" trên tivi, có nói về một phụ nữ Singapore đã biểu diễn khả năng khinh thân của mình bằng cách đứng lên một tờ giấy bản đặt trên một cái khung gỗ mà giấy không rách. Nhưng nếu đặt một quả dưa khoảng 3kg lên trên hoặc chị ta không vận khí thì tờ giấy lập tức rách ngay.

    Nhưng dù sao dẫn chứng này vẫn còn mang màu sắc tôn giáo. Trong võ thuật, khinh thân được thể hiện ở một dạng khác. Các võ sỹ Wushu hoặc Vovinam có thể tung mình lên cao rồi rơi cả người xuống đất một cách nhẹ nhàng không chấn thương đau đớn gì cả. Mặc dù sự góp mặt nhiều của khí không không nhiều, nhưng đó cũng là khinh thân. Có những võ sư Taekwondo biểu diễn màn khinh thân mượn lực bằng cách tung mình lên không đá vỡ tám tấm ván do tám người dàn hàng ngang cầm trên tay, mỗi khi chân đá vỡ một tấm cũng là lúc vị võ sư mượn lực phản hồi để giữ người mình trên không và lấy đà đá tấm kế tiếp.

    Thần hành - tương truyền một ngày có thể đi hàng trăm dặm chân không chạm đất giống như nhân vật Đới Tung trong truyện Thủy Hử vậy. Trong cuốn "Thiếu Lâm bảy mươi hai tuyệt kỹ thất truyền" có dạy cách luyện thần hành như sau: "Trải cát dày khoảng 10cm trên đoạn đường dài 30m. Phủ lên trên một lớp giấy bản. Buộc chì thật nặng vào chân, lấy đà rồi chạy thật nhanh qua đoạn đường ấy. Cứ tập đi tập lại khoảng 10 năm, khi thấy chạy qua mà không rách giấy là được...". Hẳn bạn đọc sẽ phải bật cười vì cách luyện tập ngô nghê như vậy. Theo như truyện kể lại, người luyện được phép thần hành phải tinh thông khinh thân và khí công, như thế mới giúp cơ thể lâu xuống sức. Đáng tiếc vào thời điểm này không có dẫn chứng minh họa nào cho thuật này, tuy nhiên so với người bình thường, những vận động viên marathon một ngày có thể chạy được hàng chục thậm chí hàng trăm cây số cũng đáng được coi là thần hành rồi.

    Bích hổ du tường, môn khinh công thuộc dạng leo trèo. Trong các phim nói về Ninja, ta có thể thấy những nhân vật Ninja đeo vào tay và chân các móc sắc nhọn để bám tường hoặc bám thân cây leo lên. Đây là kỹ năng sử dụng tay chân và lợi dụng lực tì để giữ vững trọng tâm cũng như thăng bằng của cơ thể mà tạo thế bám mà leo lên cao. Hẳn không ít người đã được nghe chuyện về những chiến sỹ đặc công có thể lợi dụng điểm tiếp giáp của hai bức tường mà tạo thành góc 90 độ mà leo lên tận nóc nhà.

    Bên cạnh đó trong cuộc sống cũng có nhiều kỹ thuật tương tự. Tại những vùng trồng và làm đường thốt nốt, các em bé người Kinh hoặc Khơme muốn lấy được thốt nốt phải leo lên ngọn cây cao hơn chục mét. Vậy mà chỉ cần hai tay vòng qua thân cây, hai chân đạp vào thân cây lấy thế, trên người lỉnh kỉnh những ống bương để đựng nước thốt nốt, không cần dụng cụ hỗ trợ, các em leo vun vút lên tận ngọn cây trơn láng. Hay những anh chàng thích leo tường nhà chọc trời.

    Có lẽ môn bích hổ du tường bí quyết chính là ở sự khéo léo của con người và nó cũng là môn khinh công tương đối dễ tập nhất.

    Cuối cùng, thủy thượng phiêu, môn khinh công giúp người ta đi lại trên mặt nước. Về lý thuyết, người thực hiện phải vận khí công giảm tối đa trọng lượng cơ thể, sau đó buộc vào chân một vật nhẹ, nổi như miếng xốp, mảnh ván hoặc một đoạn ống tre... để có thể đi trên mặt nước. Tuy nhiên thuật này phải tốn nhiều chân khí nên không thể thực hiện thường xuyên. Trên một tờ tạp chí võ thuật đã lâu, có đăng một bài và ảnh mình hoạ về một võ sư Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8. Ông đã biểu diễn tại Đà Lạt tuyệt kỹ thủy thượng phiêu của mình. Ông buộc hai bó cỏ vào hai chân và vượt qua hồ trước sự chứng kiến của nhiều người.

    Có một câu chuyện nữa xảy ra trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp do một cụ già kể lại. Hồi đó, tổ giao liên của cụ nhận lệnh chuyển thư qua sông để báo tin địch càn và xin tiếp viện. Nước sông chảy quá xiết không thể bơi qua, thuyền tuần tiễn của địch đi lại trên mặt sông nên không thể thả thuyền được. Anh Trọng, người gốc Bình Định mới gia nhập tổ giao liên quyết định một mình vượt sông. Anh lấy bốn đoạn lồ ô buộc vào hai chân, để lại tất cả vũ khí, quần áo, chỉ mặc đúng cái quần lót, ngậm thư vào miệng và lao ra sông. Thật kỳ lạ, người anh như chạy trên mặt nước, tạo thành một đường xiên xuôi theo dòng chảy sang bờ bên kia. Rõ ràng bọn lính trên canô đã nhìn thấy và chỉ cho nhau, nhưng không một viên đạn nào bắn theo, có thể bọn chúng tưởng nhìn thấy... ma. Sau đó những trận chiến ác liệt xảy ra và ông cụ già không gặp lại người đội viên của mình nữa.

    Vậy đó, hy vọng sau bài này, bạn đọc sẽ có một cái nhìn cụ thể hơn về tuyệt kỹ khinh công, tuy rằng hầu hết vẫn còn mang tính lý thuyết và sách vở nhưng mong một ngày nào đó, tuyệt kỹ khinh công sẽ hiện diện cụ thể để nó không chỉ tồn tại trong giai thoại hoặc trong huyền thoại.

    Côn nhị khúc hay Nunchaku (còn được gọi là côn ly tâm, lưỡng tiết côn) là một binh khí được phát sinh từ đảo Okinawa (hay còn gọi là đảo Xung Thằng) - một đảo nằm ở phía Nam Nhật Bản và cũng là quê hương của môn Karate-Do.

    Đảo Okinawa đã luôn trải qua nhiều cuộc chiến đấu nội bộ giữa các bộ tộc bản địa. Năm 1429 vua Sho Hashi thống nhất các lãnh địa ở Okinawa và ban hành một đạo luật cấm đoán mọi việc mang vũ khí đối với tất cả mọi người, trừ quân cận vệ của nhà vua và các quan lại của triều đình nhằm loại trừ các mưu toan bạo động. Vậy là nhân dân Okinawa bị tước mất tất cả các loại vũ khí tự vệ và họ đã tìm cho mình một loại vũ khí mới là võ thuật “Kenbo’’ (tiền thân của Karate-Do sau này). Chưa hết, sang đầu thế kỷ thứ VII Okinawa lại bị Nhật Bản xâm lăng với một chính sách cai trị vô cùng khắc nghiệt, sưu cao thuế nặng. Từ đó đã có nhiều cuộc nổi dậy ở nhiều nơi để chống đối lại triều đình chuyên chế.

    Nhà cầm quyền ban một đạo luật tịch thu toàn bộ các loại vũ khí trong nhân dân. Một chiến dịch được mệnh danh là “săn lùng kiếm” đã được tiến hành trên lãnh thổ Okinawa. Người dân, thậm chí là sư sãi cũng có thể bị hành hình do việc tàng trữ vũ khí, dù đó là một lưỡi dao cạo râu! Tất cả những lò rèn ở các làng xóm đều bị đóng cửa, và các công dụng gia đình bằng kim loại đều bị tịch thu. Mỗi làng chỉ có độc nhất một con dao được xích lại ở đầu làng, do lính Nhật canh giữ.

    Côn nhị khúc được phát sinh từ thời gian này. Với cây kẹp lúa dùng trong nông nghiệp người dân đã cải tạo thành một binh khí tiện dụng và có thể cất giữ được trong người, có thể qua mắt được lính canh. Ngoài côn nhị khúc còn nhiều dụng cụ nông nghiệp khác cũng được người dân tập luyện & chuyển hóa như một binh khí để chiến đấu chống lại sự đàn áp của chính quyền phong kiến như: côn dùi (bo), liềm cắt lúa (kama), song quái (tonfa), kiếm ngắn (sai)….

    Mặt khác, lịch sử võ thuật thế giới cũng đã ghi nhận công lao của Lý Tiểu Long trong việc giới thiệu hình ảnh côn nhị khúc trên phim ảnh. Có lẽ từ đó, côn nhị khúc đã trở thành một binh khí tập luyện phổ biến của những người yêu mến võ thuật cho đến ngày nay.

    Vào khoảng tháng 8 năm 1985, môn sinh Lê Lý Thuận ở Tp.HCM đã nghiên cứu, sáng tạo và hệ thống các kỹ thuật côn nhị khúc thành chương trình đào tạo hoàn chỉnh, theo 3 bậc chuyên môn: sơ cấp, trung cấp & nâng cao. Trong những cố gắng hoàn thiện trên, nổi bật nhất là sự sáng tạo 04 kỹ thuật lăn cơ bản đã góp phần đưa côn nhị khúc từ một binh khí thông thường trở thành một môn nghệ thuật thể thao.

    Trong các võ phái cổ truyền Việt Nam, có một dụng cụ cũng xuất xứ từ chiếc kẹp lúa và cấu tạo giống hệt nunchaku, tuy vẫn thường thấy có hai thành một dài một ngắn được gọi là thanh mẹ thanh con. Vũ khí này được gọi tên là thiết lĩnh với lối đánh rất gọn, có nguồn gốc từ xa xưa và hiện nay nhiều võ phái xuất phát từ Bình Định vẫn sử dụng.

    Điều cần nói thêm ở đây rằng, dù rất có thể chiếc côn nhị khúc đầu tiên không là bản quyền của vùng Okinawa Nhật Bản, nhưng chính tính phổ biến của nó sau này theo sự bành trướng của môn phái Karatedo khắp thế giới, đã khiến cả thế giới chỉ biết đến một tên gọi thuần Nhật – nunchaku của vũ khí này, và côn nhị khúc nghiễm nhiên được thừa nhận nguyên ủy từ quần đảo O
    kinawa. Sự phổ biến hình ảnh của Lý Tiểu Long với côn nhị khúc trong tay, mà vũ khí này được họ Lý ưa chuộng và tập luyện nhờ sự chỉ dẫn của một đồng môn Triệt quyền đạo vốn xuất thân ban đầu từ Karate, cũng phần nào khuyếch trương và phổ dụng hóa loại vũ khí này.

    Nguồn gốc từ “NUNCHAKU”
    Theo võ sư Nguyễn văn Quang, huyền đai đệ tứ đẳng karate, nguyên giám đốc võ đường Champion karate, thì ngày xưa khi phát kiến ra môn Nunchaku (côn nhị khúc), cái tên đó là kết hợp của các chữ sau đây:
    N ( Nunchaku) : côn nhị khúc
    U ( Unrelengting ) :có nghĩa là cứng rắn vì muốn sử dụng vũ khí này chúng ta phải cương quyết
    N ( Nation ) : có nghĩa là quốc gia . Chúng ta phải đoàn kết lại thì mới đạt được sức mạnh to lớn như 2 đầu của côn nhị khúc được nối với nhau bằng sợi dây
    C ( care ) : có nghĩa là cẩn thận . chúng ta phải thật cẩn thận khi sử dụng vũ khí này
    H ( Holocaust ) : nghĩa là sự phá hủy . nói lên sức công phá mãnh liệt của món vũ khí này
    A (Adherance ) : có nghĩa là sự kết chặt . thể hiện sự kết nối chặt chẽ giữa 2 đầu côn với nhau, mang 1 triết lý con người phải gắn kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển
    K ( karatedo ) : môn võ đầu tiên đưa món vũ khí này vào chương trình giảng dạy và cũng là môn võ có cùng quê hương với món vũ khí này
    U ( uniformity ) : nghĩa là sự đồng nhất, muốn sử dụng món vũ khí này thì con người và nunchaku phải hòa hợp thành một

    Côn nhị khúc tại Việt Nam
    Vào khoảng tháng 8 năm 1985, môn sinh Lê Lý Thuận ở thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, sáng tạo và hệ thống hóa các kỹ thuật côn nhị khúc thành chương trình đào tạo hoàn chỉnh, theo 3 bậc chuyên môn: sơ cấp [1], trung cấp [2] & nâng cao. Trong những cố gắng hoàn thiện trên, nổi bật nhất là sự sáng tạo 04 kỹ thuật lăn cơ bản đã góp phần đưa côn nhị khúc từ một binh khí thông thường trở thành một môn thể thao nghệ thuật.

    Ngày 20 tháng 5 năm 2005, Bộ môn Côn nhị khúc của Trung tâm đào tạo Huấn luyện viên võ thuật Việt Nam, gọi tắt là Trung tâm MIC[1] đã thông qua “Luật thi đấu côn nhị khúc” do thầy Lê Rích Tô – giáo viên côn nhị khúc của Trung tâm MIC nghiên cứu xây dựng. Điểm lưu ý của luật này là đã thể thao hóa côn nhị khúc với cả hai dạng thức thi đấu quyền thuật côn nhị khúc và đối kháng côn nhị khúc. Theo luật này, quyền thuật côn nhị khúc là loại hình thi đấu hoàn toàn sáng tạo – riêng biệt của mỗi thí sinh, không có các bài quyền mẫu như hệ thống thi đấu của các môn võ thuật khác.

    Cấu tạo
    Côn nhị khúc sơ khai là hai thanh tre, gỗ có tiết diện hình tròn hoặc hình chữ nhật, dài bằng nhau và nối với nhau bằng một đoạn dây chắc chắn. Từ dụng cụ sơ khai ban đầu, côn nhị khúc ngày nay có kiểu dáng rất đa dạng với rất nhiều biến thể của hình dạng hai thanh côn: hình tròn, hình nửa tròn, hình lục giác, hình bát giác, hình vuông, hình chữ nhật nhưng thịnh hành nhất là thân côn được tạo các cạnh hình lục giác hoặc bát giác để gia tăng đặc tính sát thương cho vũ khí nhưng vẫn thuận tiện khi sử dụng, không quá sắc cạnh nhưng cũng không quá trơn nhẵn. Hai khúc này thường được làm với chu vi phần đuôi côn (nơi nối dây), nhỏ hơn một chút so với phần đầu côn (nơi cầm trong tay người tập) để khi sử dụng thuận tiện hơn do lực ly tâm không khiến đôi côn tuột văng ra khỏi tay người tập trong những chiêu thức loan côn, múa côn. Chiều dài của mỗi đoạn côn, tùy theo sở thích cá nhân và cấu tạo cơ thể người sử dụng, nhưng thường tối ưu là bằng độ dài cẳng tay người sử dụng tính từ cùi chỏ đến giữa lòng bàn tay (khoảng 25-35 cm). Đường kính thân côn phần đầu (to nhất) khoảng 2,5 đến 3,5 cm; phần đuôi nơi nối dây khoảng 2 đến 3cm.

    Chất liệu làm hai thanh côn cũng đa dạng hơn, kim loại (để không bị quá nặng thường làm bằng hai ống kim loại), tre, gỗ, nhưng thịnh hành nhất là côn làm bằng gỗ cứng. Đoạn dây nối hai thanh côn có thể làm bằng dây dù chắc hoặc làm bằng xích sắt mềm bằng cách đục lỗ thẳng xuyên tâm trên bề mặt của đuôi côn, luồn dây xuống cố định vào một hoặc hai lỗ xuyên ngang thân phía đầu côn. Theo kinh nghiệm của nhiều người đã từng sử dụng côn nhị khúc, việc luồn dây xuống qua hai lỗ khiến trọng tâm của côn vững vàng hơn và kiểm soát côn dễ hơn là chỉ luồn dây xuống một lỗ xuyên ngang. Khi kéo hai thanh côn thẳng ra, chiều dài đoạn dây còn lại sau khi đã nối côn tối ưu là bằng 1/2 cho đến dài nhấ
    t là bằng chu vi của cổ tay người tập. Dây quá ngắn thì đôi côn không linh động, dây quá dài thì tuy lực đánh mạnh hơn, linh hoạt hơn nhưng việc kiểm soát côn rất khó khăn.

    Tập luyện
    Biểu diễn côn nhị khúc

    Người sử dụng thường cầm sát tay vào thân côn phía đầu, hoặc cách đầu côn khoảng 1-2cm, đôi khi có thể cầm vào giữa thân côn. Các động tác tập luyện phong phú giúp cho người tập làm chủ đôi côn thành thạo. Do khi cầm một thanh côn và tấn công bằng thanh còn lại, sau khi chạm mục tiêu nhận phản lực thanh côn sẽ bật mạnh về sau, nên để không bị “phản tác dụng” khi sử dụng côn nhị khúc đòi hỏi phải khổ luyện. Khổ luyện là một vấn đề, nhưng mà luyện tập cho thân thể mình phản ứng nhanh nhạy, người và côn phải hoà hợp như một. Phải cảm nhận được sự chuyển động của không khí khi côn đánh vào mục tiêu.

    Lực đánh của côn nhị khúc rất mạnh ở phía đầu côn do được hỗ trợ bởi lực ly tâm và phản lực trong nhiều đòn thế mà người sử dụng cầm một thanh côn và đánh văng thanh còn lại vào các mục tiêu hiểm trên người đối phương như đầu, mặt, gáy, tay, chân. Tuy nhiên, ngoài những dạng thức dùng côn nhị khúc được tập luyện và sử dụng trong thực chiến rất đa dạng: có thể một tay cầm vào phía đầu một thanh côn, một tay cầm phía đuôi thanh còn lại, giữ thẳng 2 thân côn và tấn công bằng đầu thanh côn phía trên vào các yếu điểm như huyệt đạo, hoặc đỡ, gạt, đập; có thể cầm chập cả hai thanh côn và đánh, đâm, đỡ gạt; có thể hai tay cầm hai thanh côn và dùng đoạn dây ở giữa để xiết cổ, khóa tay, chặn chân đối phương v.v. Tuy nhiên, dù bằng bất cứ hình thức nào, để sử dụng thành thạo côn nhị khúc rất cần khổ luyện bằng các kỹ thuật loan (quay) côn, thu côn, và tập đánh côn trực tiếp lên các dụng cụ cứng như trụ cây, bao cát.

    Phân loại kỹ thuật côn nhị khúc
    Kỹ thuật sử dụng Côn nhị khúc được phân chia thành các nhóm nhỏ như sau:

    Kỹ thuật quay (loan): số 8, vòng tròn, anpha….
    Kỹ thuật quật: xéo, dọc, ngang.
    Kỹ thuật chuyền: có 8 động tác cơ bản & 32 biến thể: chuyền trước, sau, đổi tay, qua hông, qua cổ.
    Kỹ thuật lăn: có 4 động tác lăn cơ bản & vô số các bài tập phối hợp khác (Đây là nhóm kỹ thuật có xuất xứ đầu tiên tại Việt Nam).
    Nhóm các tư thế thủ, cận chiến (bật, ném,…) & kỹ thuật sử dụng 2, 3 côn nhị khúc cùng lúc hoặc luân phiên.
    Ngoài ra, trong các bài tập phối hợp & nâng cao còn có nhóm các kỹ thuật lia côn nhị khúc, tung côn nhị khúc lên không trung, kỹ thuật điều khiển côn nhị khúc bằng cổ tay, lăn hoặc chuyển hướng côn nhị khúc trên các ngón tay.

    Sau giai đoạn tập luyện cơ bản (bậc sơ cấp), người yêu thích côn nhị khúc sẽ tiếp tục học lên cao. Khác hẳn với các môn võ thuật hoặc binh khí khác, việc giảng dạy nâng cao này không tập trung vào việc huấn luyện các đòn thế mà chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn cho môn sinh các CÔNG THỨC sáng tạo đòn thế mới. Từ 1 vài đòn tiêu biểu, sau khi thấm nhuần CÔNG THỨC ấy, môn sinh có thể khai sáng & phối hợp ra vô số các đòn thế khác, mới lạ hơn, đẹp mắt hơn….. (Hiện nay, tại Bộ môn côn nhị khúc của Trung tâm Đào tạo HLV Võ thuật Việt Nam, & từ năm 1985 đến nay, trong hơn 2.000 người đã tập luyện, chưa có 1 môn sinh nào khẳng định “Đã tập luyện được tất cả các kỹ thuật côn nhị khúc theo phân loại như trên!”. Điều đó cho thấy, kỹ thuật sử dụng côn nhị khúc tại Việt Nam ngày nay đã phát triển thiên biến vạn hóa, cả về số lượng & độ khó của các đòn thế.

    Một số nguyên tắc khi sử dụng côn nhị khúc
    Nguyên tắc Nhất thể: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất khi sử dụng côn nhị khúc. Theo đó, côn và người sử dụng nó phải hòa nhập thành 1. Côn nhị khúc là sự (phương tiện) nối dài của cánh tay. Sự hợp nhất này giúp tăng cường khả năng kiểm soát và điều khiển côn theo ý muốn của người sử dụng.
    Nguyên tắc âm dương: côn nhị khúc là 1 binh khí thể hiện cả sự vận hành của nguyên tắc (triết lý, tư tưởng) âm dương khi sử dụng. Điều quan trọng là người sử dụng tìm ra sự giao hòa âm dương (thả lỏng & trương cơ) trong tất cả các chiêu thức mà mình đã tập luyện. (Nếu chưa phát hiện được điều này sẽ làm người tập rất mau mệt mỏi – vì phải trương cơ liên tục).
    Nguyên tắc cương quyết & dứt khoát: Trong mọi kỹ thuật của côn nhị khúc đều yêu cầu người sử dụng chúng phải thực hiện động tác ấy thật cương quyết và dứt khoát. Điều này làm tăng tính mạnh mẽ trong kỹ thuật & thần khí khi thực hiện các bài tập luyện về côn nhị khúc.
    Nguyên tắc Đẳng thế: Như trên đã nói, côn nhị khúc là sự nối dài của cánh tay, do đó, việc sử dụng đôi tay thuần thục không có nghĩa là trọng tâm cơ thể (vùng rốn) phải trồi sụt, lắc lư. Tương tự như bộ môn khiêu vũ, hông & vai người sử dụng côn nhị khúc phải thẳng, không được uốn éo, nhấp nhô. Vi phạm nguyên tắc này, bên cạnh việc vi phạm nguyên tắc “nhất thể”, nó còn làm cho người xem có cảm giác mệt mỏi, làm mất tính thẩm mỹ và nghệ thuật của côn nhị khúc.
    Ngoài ra, người sử dụng côn nhị khúc còn phải lưu ý đến một số nguyên tắc của vật lý học như lực ly tâm (cánh tay đòn), phản lực; điểm tập trung lực, sự hợp lực, sự triệt tiêu lực và tính liên hoàn, nguyên tắc khống chế côn nhị khúc, phương pháp xử lý khi va chạm côn nhị khúc trong tập luyện và thi đấu.

    SHARE.

    Côn nhị khúc - nguồn gốc và sức mạnh

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Thái-cực-quyền  |  Read More»

    Côn nhị khúc hay Nunchaku (còn được gọi là côn ly tâm, lưỡng tiết côn) là một binh khí được phát sinh từ đảo Okinawa (hay còn gọi là đảo Xung Thằng) - một đảo nằm ở phía Nam Nhật Bản và cũng là quê hương của môn Karate-Do.

    Đảo Okinawa đã luôn trải qua nhiều cuộc chiến đấu nội bộ giữa các bộ tộc bản địa. Năm 1429 vua Sho Hashi thống nhất các lãnh địa ở Okinawa và ban hành một đạo luật cấm đoán mọi việc mang vũ khí đối với tất cả mọi người, trừ quân cận vệ của nhà vua và các quan lại của triều đình nhằm loại trừ các mưu toan bạo động. Vậy là nhân dân Okinawa bị tước mất tất cả các loại vũ khí tự vệ và họ đã tìm cho mình một loại vũ khí mới là võ thuật “Kenbo’’ (tiền thân của Karate-Do sau này). Chưa hết, sang đầu thế kỷ thứ VII Okinawa lại bị Nhật Bản xâm lăng với một chính sách cai trị vô cùng khắc nghiệt, sưu cao thuế nặng. Từ đó đã có nhiều cuộc nổi dậy ở nhiều nơi để chống đối lại triều đình chuyên chế.

    Nhà cầm quyền ban một đạo luật tịch thu toàn bộ các loại vũ khí trong nhân dân. Một chiến dịch được mệnh danh là “săn lùng kiếm” đã được tiến hành trên lãnh thổ Okinawa. Người dân, thậm chí là sư sãi cũng có thể bị hành hình do việc tàng trữ vũ khí, dù đó là một lưỡi dao cạo râu! Tất cả những lò rèn ở các làng xóm đều bị đóng cửa, và các công dụng gia đình bằng kim loại đều bị tịch thu. Mỗi làng chỉ có độc nhất một con dao được xích lại ở đầu làng, do lính Nhật canh giữ.

    Côn nhị khúc được phát sinh từ thời gian này. Với cây kẹp lúa dùng trong nông nghiệp người dân đã cải tạo thành một binh khí tiện dụng và có thể cất giữ được trong người, có thể qua mắt được lính canh. Ngoài côn nhị khúc còn nhiều dụng cụ nông nghiệp khác cũng được người dân tập luyện & chuyển hóa như một binh khí để chiến đấu chống lại sự đàn áp của chính quyền phong kiến như: côn dùi (bo), liềm cắt lúa (kama), song quái (tonfa), kiếm ngắn (sai)….

    Mặt khác, lịch sử võ thuật thế giới cũng đã ghi nhận công lao của Lý Tiểu Long trong việc giới thiệu hình ảnh côn nhị khúc trên phim ảnh. Có lẽ từ đó, côn nhị khúc đã trở thành một binh khí tập luyện phổ biến của những người yêu mến võ thuật cho đến ngày nay.

    Vào khoảng tháng 8 năm 1985, môn sinh Lê Lý Thuận ở Tp.HCM đã nghiên cứu, sáng tạo và hệ thống các kỹ thuật côn nhị khúc thành chương trình đào tạo hoàn chỉnh, theo 3 bậc chuyên môn: sơ cấp, trung cấp & nâng cao. Trong những cố gắng hoàn thiện trên, nổi bật nhất là sự sáng tạo 04 kỹ thuật lăn cơ bản đã góp phần đưa côn nhị khúc từ một binh khí thông thường trở thành một môn nghệ thuật thể thao.

    Trong các võ phái cổ truyền Việt Nam, có một dụng cụ cũng xuất xứ từ chiếc kẹp lúa và cấu tạo giống hệt nunchaku, tuy vẫn thường thấy có hai thành một dài một ngắn được gọi là thanh mẹ thanh con. Vũ khí này được gọi tên là thiết lĩnh với lối đánh rất gọn, có nguồn gốc từ xa xưa và hiện nay nhiều võ phái xuất phát từ Bình Định vẫn sử dụng.

    Điều cần nói thêm ở đây rằng, dù rất có thể chiếc côn nhị khúc đầu tiên không là bản quyền của vùng Okinawa Nhật Bản, nhưng chính tính phổ biến của nó sau này theo sự bành trướng của môn phái Karatedo khắp thế giới, đã khiến cả thế giới chỉ biết đến một tên gọi thuần Nhật – nunchaku của vũ khí này, và côn nhị khúc nghiễm nhiên được thừa nhận nguyên ủy từ quần đảo O
    kinawa. Sự phổ biến hình ảnh của Lý Tiểu Long với côn nhị khúc trong tay, mà vũ khí này được họ Lý ưa chuộng và tập luyện nhờ sự chỉ dẫn của một đồng môn Triệt quyền đạo vốn xuất thân ban đầu từ Karate, cũng phần nào khuyếch trương và phổ dụng hóa loại vũ khí này.

    Nguồn gốc từ “NUNCHAKU”
    Theo võ sư Nguyễn văn Quang, huyền đai đệ tứ đẳng karate, nguyên giám đốc võ đường Champion karate, thì ngày xưa khi phát kiến ra môn Nunchaku (côn nhị khúc), cái tên đó là kết hợp của các chữ sau đây:
    N ( Nunchaku) : côn nhị khúc
    U ( Unrelengting ) :có nghĩa là cứng rắn vì muốn sử dụng vũ khí này chúng ta phải cương quyết
    N ( Nation ) : có nghĩa là quốc gia . Chúng ta phải đoàn kết lại thì mới đạt được sức mạnh to lớn như 2 đầu của côn nhị khúc được nối với nhau bằng sợi dây
    C ( care ) : có nghĩa là cẩn thận . chúng ta phải thật cẩn thận khi sử dụng vũ khí này
    H ( Holocaust ) : nghĩa là sự phá hủy . nói lên sức công phá mãnh liệt của món vũ khí này
    A (Adherance ) : có nghĩa là sự kết chặt . thể hiện sự kết nối chặt chẽ giữa 2 đầu côn với nhau, mang 1 triết lý con người phải gắn kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển
    K ( karatedo ) : môn võ đầu tiên đưa món vũ khí này vào chương trình giảng dạy và cũng là môn võ có cùng quê hương với món vũ khí này
    U ( uniformity ) : nghĩa là sự đồng nhất, muốn sử dụng món vũ khí này thì con người và nunchaku phải hòa hợp thành một

    Côn nhị khúc tại Việt Nam
    Vào khoảng tháng 8 năm 1985, môn sinh Lê Lý Thuận ở thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, sáng tạo và hệ thống hóa các kỹ thuật côn nhị khúc thành chương trình đào tạo hoàn chỉnh, theo 3 bậc chuyên môn: sơ cấp [1], trung cấp [2] & nâng cao. Trong những cố gắng hoàn thiện trên, nổi bật nhất là sự sáng tạo 04 kỹ thuật lăn cơ bản đã góp phần đưa côn nhị khúc từ một binh khí thông thường trở thành một môn thể thao nghệ thuật.

    Ngày 20 tháng 5 năm 2005, Bộ môn Côn nhị khúc của Trung tâm đào tạo Huấn luyện viên võ thuật Việt Nam, gọi tắt là Trung tâm MIC[1] đã thông qua “Luật thi đấu côn nhị khúc” do thầy Lê Rích Tô – giáo viên côn nhị khúc của Trung tâm MIC nghiên cứu xây dựng. Điểm lưu ý của luật này là đã thể thao hóa côn nhị khúc với cả hai dạng thức thi đấu quyền thuật côn nhị khúc và đối kháng côn nhị khúc. Theo luật này, quyền thuật côn nhị khúc là loại hình thi đấu hoàn toàn sáng tạo – riêng biệt của mỗi thí sinh, không có các bài quyền mẫu như hệ thống thi đấu của các môn võ thuật khác.

    Cấu tạo
    Côn nhị khúc sơ khai là hai thanh tre, gỗ có tiết diện hình tròn hoặc hình chữ nhật, dài bằng nhau và nối với nhau bằng một đoạn dây chắc chắn. Từ dụng cụ sơ khai ban đầu, côn nhị khúc ngày nay có kiểu dáng rất đa dạng với rất nhiều biến thể của hình dạng hai thanh côn: hình tròn, hình nửa tròn, hình lục giác, hình bát giác, hình vuông, hình chữ nhật nhưng thịnh hành nhất là thân côn được tạo các cạnh hình lục giác hoặc bát giác để gia tăng đặc tính sát thương cho vũ khí nhưng vẫn thuận tiện khi sử dụng, không quá sắc cạnh nhưng cũng không quá trơn nhẵn. Hai khúc này thường được làm với chu vi phần đuôi côn (nơi nối dây), nhỏ hơn một chút so với phần đầu côn (nơi cầm trong tay người tập) để khi sử dụng thuận tiện hơn do lực ly tâm không khiến đôi côn tuột văng ra khỏi tay người tập trong những chiêu thức loan côn, múa côn. Chiều dài của mỗi đoạn côn, tùy theo sở thích cá nhân và cấu tạo cơ thể người sử dụng, nhưng thường tối ưu là bằng độ dài cẳng tay người sử dụng tính từ cùi chỏ đến giữa lòng bàn tay (khoảng 25-35 cm). Đường kính thân côn phần đầu (to nhất) khoảng 2,5 đến 3,5 cm; phần đuôi nơi nối dây khoảng 2 đến 3cm.

    Chất liệu làm hai thanh côn cũng đa dạng hơn, kim loại (để không bị quá nặng thường làm bằng hai ống kim loại), tre, gỗ, nhưng thịnh hành nhất là côn làm bằng gỗ cứng. Đoạn dây nối hai thanh côn có thể làm bằng dây dù chắc hoặc làm bằng xích sắt mềm bằng cách đục lỗ thẳng xuyên tâm trên bề mặt của đuôi côn, luồn dây xuống cố định vào một hoặc hai lỗ xuyên ngang thân phía đầu côn. Theo kinh nghiệm của nhiều người đã từng sử dụng côn nhị khúc, việc luồn dây xuống qua hai lỗ khiến trọng tâm của côn vững vàng hơn và kiểm soát côn dễ hơn là chỉ luồn dây xuống một lỗ xuyên ngang. Khi kéo hai thanh côn thẳng ra, chiều dài đoạn dây còn lại sau khi đã nối côn tối ưu là bằng 1/2 cho đến dài nhấ
    t là bằng chu vi của cổ tay người tập. Dây quá ngắn thì đôi côn không linh động, dây quá dài thì tuy lực đánh mạnh hơn, linh hoạt hơn nhưng việc kiểm soát côn rất khó khăn.

    Tập luyện
    Biểu diễn côn nhị khúc

    Người sử dụng thường cầm sát tay vào thân côn phía đầu, hoặc cách đầu côn khoảng 1-2cm, đôi khi có thể cầm vào giữa thân côn. Các động tác tập luyện phong phú giúp cho người tập làm chủ đôi côn thành thạo. Do khi cầm một thanh côn và tấn công bằng thanh còn lại, sau khi chạm mục tiêu nhận phản lực thanh côn sẽ bật mạnh về sau, nên để không bị “phản tác dụng” khi sử dụng côn nhị khúc đòi hỏi phải khổ luyện. Khổ luyện là một vấn đề, nhưng mà luyện tập cho thân thể mình phản ứng nhanh nhạy, người và côn phải hoà hợp như một. Phải cảm nhận được sự chuyển động của không khí khi côn đánh vào mục tiêu.

    Lực đánh của côn nhị khúc rất mạnh ở phía đầu côn do được hỗ trợ bởi lực ly tâm và phản lực trong nhiều đòn thế mà người sử dụng cầm một thanh côn và đánh văng thanh còn lại vào các mục tiêu hiểm trên người đối phương như đầu, mặt, gáy, tay, chân. Tuy nhiên, ngoài những dạng thức dùng côn nhị khúc được tập luyện và sử dụng trong thực chiến rất đa dạng: có thể một tay cầm vào phía đầu một thanh côn, một tay cầm phía đuôi thanh còn lại, giữ thẳng 2 thân côn và tấn công bằng đầu thanh côn phía trên vào các yếu điểm như huyệt đạo, hoặc đỡ, gạt, đập; có thể cầm chập cả hai thanh côn và đánh, đâm, đỡ gạt; có thể hai tay cầm hai thanh côn và dùng đoạn dây ở giữa để xiết cổ, khóa tay, chặn chân đối phương v.v. Tuy nhiên, dù bằng bất cứ hình thức nào, để sử dụng thành thạo côn nhị khúc rất cần khổ luyện bằng các kỹ thuật loan (quay) côn, thu côn, và tập đánh côn trực tiếp lên các dụng cụ cứng như trụ cây, bao cát.

    Phân loại kỹ thuật côn nhị khúc
    Kỹ thuật sử dụng Côn nhị khúc được phân chia thành các nhóm nhỏ như sau:

    Kỹ thuật quay (loan): số 8, vòng tròn, anpha….
    Kỹ thuật quật: xéo, dọc, ngang.
    Kỹ thuật chuyền: có 8 động tác cơ bản & 32 biến thể: chuyền trước, sau, đổi tay, qua hông, qua cổ.
    Kỹ thuật lăn: có 4 động tác lăn cơ bản & vô số các bài tập phối hợp khác (Đây là nhóm kỹ thuật có xuất xứ đầu tiên tại Việt Nam).
    Nhóm các tư thế thủ, cận chiến (bật, ném,…) & kỹ thuật sử dụng 2, 3 côn nhị khúc cùng lúc hoặc luân phiên.
    Ngoài ra, trong các bài tập phối hợp & nâng cao còn có nhóm các kỹ thuật lia côn nhị khúc, tung côn nhị khúc lên không trung, kỹ thuật điều khiển côn nhị khúc bằng cổ tay, lăn hoặc chuyển hướng côn nhị khúc trên các ngón tay.

    Sau giai đoạn tập luyện cơ bản (bậc sơ cấp), người yêu thích côn nhị khúc sẽ tiếp tục học lên cao. Khác hẳn với các môn võ thuật hoặc binh khí khác, việc giảng dạy nâng cao này không tập trung vào việc huấn luyện các đòn thế mà chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn cho môn sinh các CÔNG THỨC sáng tạo đòn thế mới. Từ 1 vài đòn tiêu biểu, sau khi thấm nhuần CÔNG THỨC ấy, môn sinh có thể khai sáng & phối hợp ra vô số các đòn thế khác, mới lạ hơn, đẹp mắt hơn….. (Hiện nay, tại Bộ môn côn nhị khúc của Trung tâm Đào tạo HLV Võ thuật Việt Nam, & từ năm 1985 đến nay, trong hơn 2.000 người đã tập luyện, chưa có 1 môn sinh nào khẳng định “Đã tập luyện được tất cả các kỹ thuật côn nhị khúc theo phân loại như trên!”. Điều đó cho thấy, kỹ thuật sử dụng côn nhị khúc tại Việt Nam ngày nay đã phát triển thiên biến vạn hóa, cả về số lượng & độ khó của các đòn thế.

    Một số nguyên tắc khi sử dụng côn nhị khúc
    Nguyên tắc Nhất thể: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất khi sử dụng côn nhị khúc. Theo đó, côn và người sử dụng nó phải hòa nhập thành 1. Côn nhị khúc là sự (phương tiện) nối dài của cánh tay. Sự hợp nhất này giúp tăng cường khả năng kiểm soát và điều khiển côn theo ý muốn của người sử dụng.
    Nguyên tắc âm dương: côn nhị khúc là 1 binh khí thể hiện cả sự vận hành của nguyên tắc (triết lý, tư tưởng) âm dương khi sử dụng. Điều quan trọng là người sử dụng tìm ra sự giao hòa âm dương (thả lỏng & trương cơ) trong tất cả các chiêu thức mà mình đã tập luyện. (Nếu chưa phát hiện được điều này sẽ làm người tập rất mau mệt mỏi – vì phải trương cơ liên tục).
    Nguyên tắc cương quyết & dứt khoát: Trong mọi kỹ thuật của côn nhị khúc đều yêu cầu người sử dụng chúng phải thực hiện động tác ấy thật cương quyết và dứt khoát. Điều này làm tăng tính mạnh mẽ trong kỹ thuật & thần khí khi thực hiện các bài tập luyện về côn nhị khúc.
    Nguyên tắc Đẳng thế: Như trên đã nói, côn nhị khúc là sự nối dài của cánh tay, do đó, việc sử dụng đôi tay thuần thục không có nghĩa là trọng tâm cơ thể (vùng rốn) phải trồi sụt, lắc lư. Tương tự như bộ môn khiêu vũ, hông & vai người sử dụng côn nhị khúc phải thẳng, không được uốn éo, nhấp nhô. Vi phạm nguyên tắc này, bên cạnh việc vi phạm nguyên tắc “nhất thể”, nó còn làm cho người xem có cảm giác mệt mỏi, làm mất tính thẩm mỹ và nghệ thuật của côn nhị khúc.
    Ngoài ra, người sử dụng côn nhị khúc còn phải lưu ý đến một số nguyên tắc của vật lý học như lực ly tâm (cánh tay đòn), phản lực; điểm tập trung lực, sự hợp lực, sự triệt tiêu lực và tính liên hoàn, nguyên tắc khống chế côn nhị khúc, phương pháp xử lý khi va chạm côn nhị khúc trong tập luyện và thi đấu.

    SHARE.

    Vào thời đại phong kiến, nhiều ngành võ thuật chiến đấu thịnh hành trong giới Samurai ở Nhật, chẳng hạn Cung đạo, Kiếm đạo, thuật cưỡi ngựa, cách dùng giáo mác và những món binh khí khác. Những ngành võ thuật này không nhiều thì ít cũng đã quen thuộc đối với các nước Tây phương, được người Tây phương tập luyện và sử dụng rất tinh phục, tuy rằng phương pháp và hình thức không giống hẳn ở Nhật. Nhưng sự khéo léo đặc biệt đạt thắng lợi bằng cách khuất phục trước sức mạnh của địch thủ thì thật là môn võ đặc thù của Nhật Bản, không hề có một môn võ nào tương tự như thế ở Tây phương được biết đến, hay ít nhất được người ta tập luyện và sử dụng.

    Dù người ta có để ý khảo cứu các ngành võ thuật thời xưa ở Âu Châu và tìm một điểm tương đồng với môn Jujitsu Nhật Bản, cũng không thể nào tìm thấy. Có người nói rằng môn đánh vật có thể đem so sánh với môn Jujitsu, nhưng hai môn thật ra khác nhau một trời một vực ; môn đánh vật nhắm chiến thắng địch thủ bằng sức mạnh của chính mình trong khi Jujitsu chiến thắng bằng cách khuất phục trước sức mạnh của địch thủ. Thật vậy, chữ Jujitsu có nghĩa là Nhu thuật, dùng sự khéo léo, uyển chuyển, dịu dàng của cơ thể để chế ngự sức mạnh. Jujitsu là cái tên được biết nhiều nhất ở Nhật để nói đến môn võ ấy, tuy nhiên những tên khác như Yawura, Taijitsu, Hakuda, Kogusoku, Torite và bao nhiêu tên khác đôi khi cũng được dùng để chỉ những ngành võ thuật tương tự.

    KHÔNG PHẢI VÕ TRUNG HOA

    Mặc dù nguồn gốc đích thực của môn Jujistu không rõ ràng, và không có một ngày tháng nào nhất định được chứng minh là ngày đầu tiên xuất hiện của môn võ, nhưng chắc chắn đó là một môn võ thuần túy Nhật Bản và hoàn toàn không có chuyện xuất phát từ Trung Hoa như một số người đã tưởng. Biết bao nhiêu người, ngay cả một vài người thận trọng, cũng đã cho rằng một nhà sư Trung Hoa, tên là Trần Nguyên Tán, mang môn Kempo, môn “đá và đánh” tới Nhật Bản dạy cho ba chàng Hiệp sĩ lang thang tên là Fukuno, Isogai, và Miura. Những người này, sau khi chính mình nghiên cứu kỹ lưỡng, lập ra ba chi phái Jujitsu độc lập với nhau. Thật ra, cũng có nhà sư Trung Hoa nói trên trốn thoát những hỗn loạn xảy ra vào cuối triều Minh bên Trung Hoa đã đến Nhật khoảng năm 1659 (năm thứ hai đời Manji), năm triều đại này kết thúc. Trần Nguyên Tán nổi tiếng mấy năm ở tỉnh Owari nơi ông thường làm thơ với một nhà thơ người Nhật, rồi qua đời năm 1671 (năm thứ 11 đời Kanbun), cùng trong tỉnh đó. Mộ thạch của ông nằm trong nghĩa địa Kenchuj tại Nagoya. Không có gì chắc chắn là ông biết ít nhiều về môn Kempo và kích thích sự tiến bộ của môn Jujitsu Nhật Bản. Lại càng hoàn toàn không thể tin được rằng ông là người đầu tiên đem môn Jujitsu vào Nhật Bản, bởi vì môn Kempo của Trung Hoa, được người ta nói là do ông du nhập, hoàn toàn khác biệt với môn Jujitsu Nhật Bản và bởi vì một vài môn giống môn Jujitsu có thể tìm thấy ở Nhật trước thời Trần Nguyên Tán. Hơn nữa, có thể vì nền văn minh Trung Hoa lúc bấy giờ được ưa chuộng như nền văn minh Tây phương ngày nay, cho nên nguồn gốc của môn Jujitsu được gán cho Trung Hoa với mục đích dễ phổ biến trong quần chúng. Ta có thể thấy nhiều trường hợp tương tự trong những môn võ và những sáng tạo khác cũng bị gán cho cái nguồn gốc Trung Hoa, mặc dù chúng hoàn toàn của Nhật Bản trong sự phát sinh cùng phát triển.

    Các sách vở có liên quan đến lịch sử môn Jujitsu rất hiếm và không xác thực. Mặc dầu có nhiều bản thảo của các chi phái khác nhau của môn võ, chúng bị các võ sư dấu kín và chỉ cho các môn sinh có trình độ đặc biệt cao xem mà thôi với lời thề sẽ không bao giờ tiết lộ những điều ghi chép trong đó. Những thủ bản ấy không giá trị lắm như người ta thường tưởng, bởi vì chúng thường mâu thuẫn nhau và nhiều khi lố bịch nữa dù rằng khảo cứu chúng kỹ lưỡng đem lại rất nhiều thích thú và làm sáng tỏ phần nào lịch sử môn võ. Hiện giờ, người ta không thể kể hết các chi phái (Ryu) của môn Jujitsu, và chỉ có thể đề cập đến một ít chi phái được coi là siêu việt nhất. Trong số một trăm chi phái ra đời, phái cổ nhất là Taken Ouchi Riu, có người nói rằng do Takenou Hisamori, một người ở Sakushu, sáng lập năm 1532 (năm đầu triều đại Tenbun). Mặc dù con số này không đáng tin cậy lắm và mặc dù chi phái này dạy môn Kogusoku, hay là thuật dùng tay bắt lấy địch thủ, có đôi phần khác biệt với môn Jujitsu thuần chất, người ta cũng không thể nghi ngờ về điểm nó được thiết lập một thời gian trước khi Trần Nguyên Tán đến Nhật và nó có thể được xem như chi phái đầu tiên dạy một môn võ tương tự môn Jujitsu.

    Tiếp đến là một chi phái gọi là Kito-Ryu, do ông Fukuno Shichiro-Emon, quê quán ở Tamba, sáng lập vào khoảng giữa thế kỷ 17 (Kanyei). Liên quan mật thiết với chi phái này là chi phái Jikishin Ryu, sáng Tổ là ông Terada Kan Emon, quê ở Unshu, người đồng thời với Fukuno. Có nhiều mâu thuẫn về sự liên hệ giữa hai người này. Một vài bản thảo viết rằng Fukuno là sư phụ của Terada, trong khi những tài liệu khác bảo ngược lại. Mặc dù không thể quyết định về điểm mâu thuẫn này, chúng ta cũng có thể quả quyết rằng cả hai người, Fukuno và Terada, sống vào giữa thế kỷ 17, có liên hệ mật thiết với nhau, và đã lập ra hai chi phái Jujitsu khác biệt, mấy năm trước thời Trần Nguyên Tán. Có thể họ đã thấy và nghe nhà sư này, và nhờ đó biết ít nhiều về môn Kempo của Trung Hoa. Dù sao đi nữa, hai phái này vẫn được coi là những chi phái cổ nhất của môn Jujitsu chính thống. Chi phái Kiushin Ryu được thiết lập bởi InugamiNagakatsu, quê ở Omi. Mặc dù thời gian sáng lập của nó không mấy chắc chắn, nhưng có một vài lý do khiến ta tin rằng chi phái ấy lại là một nhánh của chi phái Kito Ryu nói trên. Inugami Gunpei, cháu của vị sáng Tổ, công phu trác tuyệt đến nỗi ông thường được xem là vị sáng Tổ đích thực của môn phái này. Chi phái Sekiguchi Ryu, do Sekiguchi Jushin thiết lập, và chi phái Shibukawa Ryu, do Shibukawa Bangoro, là hai chi phái nổi tiếng khác. Hai chi phái cũng có liên hệ với nhau vì vị sáng Tổ của hai phái sau thụ giáo người con của vị sáng Tổ hai phái trước. Đời thứ chín của chi phái này và đời thứ tám của chi phái kia hiện nay dạy Jujitsu tại Đông Kinh.

    Nagakatsu, quê ở Omi. Mặc dù thời gian sáng lập của nó không mấy chắc chắn, nhưng có một vài lý do khiến ta tin rằng chi phái ấy lại là một nhánh của chi phái Kito Ryu nói trên. Inugami Gunpei, cháu của vị sáng Tổ, công phu trác tuyệt đến nỗi ông thường được xem là vị sáng Tổ đích thực của môn phái này. Chi phái Sekiguchi Ryu, do Sekiguchi Jushin thiết lập, và chi phái Shibukawa Ryu, do Shibukawa Bangoro, là hai chi phái nổi tiếng khác. Hai chi phái cũng có liên hệ với nhau vì vị sáng Tổ của hai phái sau thụ giáo người con của vị sáng Tổ hai phái trước. Đời thứ chín của chi phái này và đời thứ tám của chi phái kia hiện nay dạy Jujitsu tại Đông Kinh.

    - Các đòn thế của môn Jujitsu nói chung thường rất hiểm ác, những đòn tấn công hoặc phản công quyết nhắm đến việc giết địch thủ trong nháy mắc, hoặc làm gãy tay, gãy chân, đui mù, á khẩu, tê liệt tàn phế cả cuộc đời. Một số các đòn của Jujitsu thật ra cũng bắt nguồn từ các môn quyền thuật Trung Hoa, Thiếu Lâm, Võ Đang và Thái CựcQuyền.

    - Jujitsu – Nhu thuật – gồm những loại đòn ném, vật, khóa chân, khóa tay, khóa cổ, siết họng và các đòn về quan tiết (các khớp xương).

    Tất cả những đòn này đều căn cứ trên hai nguyên lý sau đây:

    1. Nhượng bộ sức mạnh để thắng sức mạnh bằng cách lợi dụng đòn của đối phương.
    2. Tạo cho địch cái thế mất thăng bằng để quật ngã địch.

    ĐIỂM HUYỆT

    Trong môn Jujitsu còn có cả nghệ thuật điểm huyệt. Điểm huyệt tức là dùng những món binh khí tự nhiên trong thân người đã được tập luyện cho cứng rắn (đầu ngón tay, ngón tay quỉ, ngón chân v.v…) đánh mạnh, sâu, các điểm nhỏ li ti liên lạc với hệ thống thần kinh toàn thân, gây ra những chấn động nguy hại cho bộ phận trọng yếu nào đó trong tạng phủ.

    Môn điểm huyệt thật ra do người Trung Hoa tìm ra trước tiên. Quyển kỳ thư đầu tiên và cổ xưa cách đây hơn 4000 năm tên là “Hoàng đế nội kinh” đã có vẽ đồ hình và nói về các huyệt đạo trong thân thể con người. Tất cả có 108 huyệt đạo, chia làm ba loại : tử huyệt, ma huyệt và sanh huyệt. Tử huyệt phân phối nơi các điểm nhược trong thân người. Khi tử huyệt bị các ngón tay qua nhiều công phu tập luyện điểm trúng, con người có thể chết ngay tức khắc hoặc trong một thời gian nào đó.

    Người xưa còn tìm biết một huyệt mà điểm vào nạn nhân có thể bị á khẩu vì dương khí từ đốc mạch lên óc bị bế tắc, gọi là á huyệt. Những huyệt đạo quan trọng nhất có thể nguy hại đến tánh mạng con người phần lớn tập trung ở đầu, ngực và xương sống. Tuy nhiên ngay ở bàn tay và chân cũng có tử huyệt, nghĩa là huyệt có thể làm chết người khi bị điểm trúng, ví dụ các huyệt Dũng Tuyền giữa bàn chân, huyệt Lao Công ở lòng bàn tay.

    Ma huyệt là những huyệt khi điểm trúng sẽ làm cho tê bại, hoặc bất tỉnh nhân sự nhưng không chết. Những huyệt này ở nhiều nơi trong thân thể, đặc biệt là ở các đầu xương tay, chân, vai. Nhưng võ sư Jujitsu hoặc những võ sinh cao cấp đều tinh thục những cách cứu người bất tỉnh vì trúng đòn. Các nhà võ thuật xưa hễ có học điểm huyệt, tất có học những phương pháp dùng tay không hoặc dùng thuốc để cứu trị tức khắc.

    ĐÁNH VÀO CÁC QUAN TIẾT

    Quan tiết là các khớp xương. Những nơi có hai khớp xương nối vào nhau. Cũng như Thái Cực Quyền của Trung hoa và môn Aikido (Hiệp Khí Đạo) của Nhật bản, môn Jujitsu cũng chú trọng đến các loại đòn này. Trong thân thể con người, những chỗ “yếu” nhất là các ngón tay, cổ, hai bàn chân, các khớp xương cánh chỏ, vai và đầu gối. Đánh vào quan tiết tức là vặn, bẻ những khớp xương yếu nhất trong thân người. Vì vậy, một thiếu nữ yếu đuối cũng có thể chế ngự được một lực sĩ hay một tên lưu manh cường bạo, nếu thiếu nữ biết cách vặn một bàn tay, bẻ một ngón tay chẳng hạn. Môn Jujitsu nghiên cứu môn đánh vào các quan tiết một cách rất tinh vi. Sau có một võ sĩ vạch hẳn phương pháp vặn bẻ các khớp xương ra làm một môn phái, một kỹ thuật chiến đấu dành riêng cho kẻ yếu đuối học tập để tự vệ chống lại cường lực, gọi là Yamara.

    CẦM NÃ THỦ

    Một “ngón nghề” khác của phái Jujitsu là môn cầm nã thủ. Cầm là bắt, giữ. Nã là bấm, cấu, véo.

    Những chỗ nhược có thể bấm, cấu, véo được là bắp thịt con chuột ở cánh tay, chỗ lắc léo giữa cánh chỏ. Lưng bàn tay cũng có thể nã được một cách hiệu quả. Các võ sĩ muốn sử dụng môn cầm nã phải luyện các ngón tay cho thật sắt thép, bằng phương pháp gọi là phục hổ công : dùng năm đầu ngón tay và đầu ngón chân chịu đựng toàn thân, nằm úp trên mặt đất, hai cánh tay co lại, dãn ra theo thế hít đất, ngày nào cũng luyện như thế. Lâu ngày, các đầu ngón tay sẽ có đủ gân lực và cứng cáp để áp dụng môn cầm nã.

    HẬU THÂN CỦA JUJITSU

    Như trên đã nói, có biết bao chi phái Jujitsu lớn mạnh vào thời đại phong kiến, nhất là vào thời Iyemitsu, vị thứ ba và mạnh nhất trong các vị Tướng quân Tokugawa. Môn võ tiếp tục bành trướng trong các tỉnh. Cho đến hậu bán thế kỷ 19, nó bắt đầu suy yếu đôi chút với sự sụp đổ sắp đến của chế độ phong kiến. Mặc dù có lần môn võ đã được phục hồi và có ảnh hưởng sâu xa đối với tinh thần quốc gia của người Nhật, nó dần dần bị người đời xao lãng.

    Một người theo Tây học, ông Jigoro Kano, vốn xuất thân từ trường Đại học Đông Kinh đã đứng ra tiếp nối sự nghiệp của các vị tiền nhân. Ban đầu, ông theo học phái Tenjin Shiyo Ryu, sau đó, phái Kito Ryu. Sau khi đã trở nên bậc thầy trong các chi phái này, ông tìm tòi nghiên cứu, so sánh và học hỏi thêm mọi chi phái khác và cuối cùng sáng lập ra một chi phái mới gọi là Kano Ryu, hay là môn Judo Kodokan. Chữ Judo (Nhu đạo) thật ra không phải là một chữ mới. Nó đã được một trong các chi phái cổ dùng rồi. Chi phái Kano dùng danh từ này thay vì chữ Jujitsu bởi vì nó được học hỏi không chỉ như là một sự tập luyện thể xác, mà còn là một phương pháp rèn luyện đạo đức và trí tuệ. Vị sáng Tổ Jigono Kano vì muốn biến môn Jujitsu thành một môn thể dục có tính cách đại chúng và dân tộc nên đã gạt bỏ nhiều đòn nguy hiểm trong Jujitsu.

    Ngày nay môn Judo lan tràn khắp thế giới, không đâu không có võ đường, không xa xôi hẻo lánh nào không có những môn sinh tận tụy của môn phái.

    Tuy nhiên trên phương diện tự vệ và chiến đấu, môn Judo chưa hẳn thật sự có giá trị bằng môn Jujitsu, vì môn Jujitsu vẫn giữ nguyên toàn bộ sự hiệu quả của nó, còn môn Judo đã trở thành một môn thể thao biểu diễn, bị hạn chế bởi các qui luật chặt chẽ.

    Vì vậy mà trong quân đội cảnh sát các nước, người ta dạy Jujitsu chứ không hẳn là Judo. Lẽ tất nhiên, những ai muốn học võ để tự vệ và chiến đấu cần phải biết Jujitsu có cả vừa Judo, vừa Karate (Không thủ đạo), vừa Aikido (Hiệp khí đạo) và cả môn điểm huyệt nữa.

    Biết và thành thạo Jujitsu, bạn có thể áp dụng trong mọi trường hợp tự vệ nguy cấp, dù chiến đấu với một hay đông người, đồng thời Jujitsu còn là một môn thể dục đầy đủ hơn tất cả các môn võ khác, vì Jujitsu gồm đủ tinh hoa của tất cả các võ phái Đông phương vậy.

    Sau đây là câu chuyện được truyền tụng trong dân gian liên quan đến các vị võ sư Jujitsu ngày xưa.

    Trong tỉnh Unshu, có một gia tộc tên là Inouy là những vị võ sư cha truyền con nối của phái Jikishin và trong thời phong kiến họ thường nhận một số bổng lộc do một vị Hoàng thân trao tặng để thưởng công huấn luyện cho các chàng Samurai trẻ tuổi. Gặp thời người trưởng tộc không được cao cường lắm trong môn võ của mình, mặc dù ông được xem là vị võ sư vì cha truyền con nối như vậy. Cũng vào thời đó, có một vị triều thần mạnh mẽ vô cùng. Người ta nói rằng ông có thể dùng tay bóp nát một cây tre già. Một hôm kia, khi Inouye đến yết kiến vị Hoàng thân, vị này ra lệnh ông phải thử sức với vị triều thần. Vị triều thần từ đằng sau ôm ngực Inouye với tất cả sức lực của mình. Thương thay cho Inouye, vì không giỏi võ cho nên không chịu nổi sức lực vũ bão của đối thủ, tái mặt rồi chết giấc. Vị Hoàng thân tức giận vô cùng, tính bỏ đi, nghĩ rằng từ nay thôi cắt phần bổng lộc. Một người học trò của Inouye, tên là Tsuchiya, giỏi về Jujitsu hơn, thấy tình thế nguy hiểm cho vị thầy già của mình, níu áo vị Hoàng thân và thưa rằng : “Xin ngài nán lại một chút. Thầy tôi, ông Inouye, hôm nay không được khỏe trong người, nên tôi mong Ngài cho tôi được thay thế thầy tỷ thí với vị triều thần”.

    Vị Hoàng thân bằng lòng, ra lệnh cho hai người giao đấu. Vị triều thần lại ôm người môn sinh y như đã ôm ông thầy. Tsuchiya hỏi: “Sức lực của ông chỉ có thế?”. Sau câu hỏi đó, vị triều thần trả lời bằng cách ôm chặt hơn. Tsuchiya lặp lại câu hỏi. Vị triều thần nới lỏng một chút rồi lại ôm chặt hơn nữa. Trong chớp mắt, Tsuchiya cúi người xuống, nắm lấy cổ áo của địch thủ, quăng ông ta xuống đất, qua vai mình. Bởi thế, thay vì bị khiển trách, vị thầy, Inouye, được vị Hoàng thân nhiệt liệt khen thưởng về võ công của người môn sinh…

    Trong thời Cách mạng vừa qua, ở Đông Kinh có một vị võ sư Jujitsu đã đứng tuổi. Dù đã già, ông vẫn là một cao thủ trong môn võ của mình. Dân chúng lúc ấy thường đồn đại rằng mỗi tối, trên một con đường ngoài ngoại ô, một người đã quật ngã mọi kẻ qua đường. Công việc ấy thật có vẻ ác tâm, nhưng võ nghệ của người ấy rJuất cao. Tin đồn tới tai vị võ sư. Với ý định trừng phạt con người ác độc đó, dù hắn là ai cũng mặc, vị võ sư một đêm kia cải trang làm khách bộ hành đến tận nơi. Bất ngờ ông bị ôm từ đằng sau và thiếu chút nữa là bị quật ngã. Nhanh như chớp, ông rùn người xuống, thoát khỏi hai cánh tay kẻ thù, thúc cùi chỏ vào dạ dày hắn. Thấy kẻ thù ngã xuống chết. Ông lặng lẽ bỏ về nhà, không ai trông thấy. Sáng hôm sau, một người học trò đến gặp ông, đau buồn và hối hận kể lại chuyện sau đây:

    “Đêm đêm con thường quật ngã khách bộ hành ở ngoại ô để thử sức. Tối qua, con cũng đứng ở đó như thường lệ; thấy một ông già nghiêng ngả đi lại, con ôm sau lưng ông ta và cố sức quật ông ta xuống. Nhưng con bị ông ta thúc cùi chỏ vào bụng, lập tức ngã xuống. Sau đó một lúc, con tỉnh dậy, đi về nhà. Có lẽ con đã bị giết chết rồi nếu không mang một tấm gương soi trong người”.

    Không nói không rằng chính ông là kẻ đã đánh gục người môn sinh, vị võ sư già nghiêm nghị quở trách hành động tàn ác của anh ta và ra lệnh cho anh ta không bao giờ phạm phải một hành động ngu xuẩn như vậy nữa.

    Jujitsu- Môn võ tinh hoa này nguồn gốc ở đâu

    Posted at  tháng 11 15, 2019  |  in  Môn-Phái-Võ-Thuật  |  Read More»

    Vào thời đại phong kiến, nhiều ngành võ thuật chiến đấu thịnh hành trong giới Samurai ở Nhật, chẳng hạn Cung đạo, Kiếm đạo, thuật cưỡi ngựa, cách dùng giáo mác và những món binh khí khác. Những ngành võ thuật này không nhiều thì ít cũng đã quen thuộc đối với các nước Tây phương, được người Tây phương tập luyện và sử dụng rất tinh phục, tuy rằng phương pháp và hình thức không giống hẳn ở Nhật. Nhưng sự khéo léo đặc biệt đạt thắng lợi bằng cách khuất phục trước sức mạnh của địch thủ thì thật là môn võ đặc thù của Nhật Bản, không hề có một môn võ nào tương tự như thế ở Tây phương được biết đến, hay ít nhất được người ta tập luyện và sử dụng.

    Dù người ta có để ý khảo cứu các ngành võ thuật thời xưa ở Âu Châu và tìm một điểm tương đồng với môn Jujitsu Nhật Bản, cũng không thể nào tìm thấy. Có người nói rằng môn đánh vật có thể đem so sánh với môn Jujitsu, nhưng hai môn thật ra khác nhau một trời một vực ; môn đánh vật nhắm chiến thắng địch thủ bằng sức mạnh của chính mình trong khi Jujitsu chiến thắng bằng cách khuất phục trước sức mạnh của địch thủ. Thật vậy, chữ Jujitsu có nghĩa là Nhu thuật, dùng sự khéo léo, uyển chuyển, dịu dàng của cơ thể để chế ngự sức mạnh. Jujitsu là cái tên được biết nhiều nhất ở Nhật để nói đến môn võ ấy, tuy nhiên những tên khác như Yawura, Taijitsu, Hakuda, Kogusoku, Torite và bao nhiêu tên khác đôi khi cũng được dùng để chỉ những ngành võ thuật tương tự.

    KHÔNG PHẢI VÕ TRUNG HOA

    Mặc dù nguồn gốc đích thực của môn Jujistu không rõ ràng, và không có một ngày tháng nào nhất định được chứng minh là ngày đầu tiên xuất hiện của môn võ, nhưng chắc chắn đó là một môn võ thuần túy Nhật Bản và hoàn toàn không có chuyện xuất phát từ Trung Hoa như một số người đã tưởng. Biết bao nhiêu người, ngay cả một vài người thận trọng, cũng đã cho rằng một nhà sư Trung Hoa, tên là Trần Nguyên Tán, mang môn Kempo, môn “đá và đánh” tới Nhật Bản dạy cho ba chàng Hiệp sĩ lang thang tên là Fukuno, Isogai, và Miura. Những người này, sau khi chính mình nghiên cứu kỹ lưỡng, lập ra ba chi phái Jujitsu độc lập với nhau. Thật ra, cũng có nhà sư Trung Hoa nói trên trốn thoát những hỗn loạn xảy ra vào cuối triều Minh bên Trung Hoa đã đến Nhật khoảng năm 1659 (năm thứ hai đời Manji), năm triều đại này kết thúc. Trần Nguyên Tán nổi tiếng mấy năm ở tỉnh Owari nơi ông thường làm thơ với một nhà thơ người Nhật, rồi qua đời năm 1671 (năm thứ 11 đời Kanbun), cùng trong tỉnh đó. Mộ thạch của ông nằm trong nghĩa địa Kenchuj tại Nagoya. Không có gì chắc chắn là ông biết ít nhiều về môn Kempo và kích thích sự tiến bộ của môn Jujitsu Nhật Bản. Lại càng hoàn toàn không thể tin được rằng ông là người đầu tiên đem môn Jujitsu vào Nhật Bản, bởi vì môn Kempo của Trung Hoa, được người ta nói là do ông du nhập, hoàn toàn khác biệt với môn Jujitsu Nhật Bản và bởi vì một vài môn giống môn Jujitsu có thể tìm thấy ở Nhật trước thời Trần Nguyên Tán. Hơn nữa, có thể vì nền văn minh Trung Hoa lúc bấy giờ được ưa chuộng như nền văn minh Tây phương ngày nay, cho nên nguồn gốc của môn Jujitsu được gán cho Trung Hoa với mục đích dễ phổ biến trong quần chúng. Ta có thể thấy nhiều trường hợp tương tự trong những môn võ và những sáng tạo khác cũng bị gán cho cái nguồn gốc Trung Hoa, mặc dù chúng hoàn toàn của Nhật Bản trong sự phát sinh cùng phát triển.

    Các sách vở có liên quan đến lịch sử môn Jujitsu rất hiếm và không xác thực. Mặc dầu có nhiều bản thảo của các chi phái khác nhau của môn võ, chúng bị các võ sư dấu kín và chỉ cho các môn sinh có trình độ đặc biệt cao xem mà thôi với lời thề sẽ không bao giờ tiết lộ những điều ghi chép trong đó. Những thủ bản ấy không giá trị lắm như người ta thường tưởng, bởi vì chúng thường mâu thuẫn nhau và nhiều khi lố bịch nữa dù rằng khảo cứu chúng kỹ lưỡng đem lại rất nhiều thích thú và làm sáng tỏ phần nào lịch sử môn võ. Hiện giờ, người ta không thể kể hết các chi phái (Ryu) của môn Jujitsu, và chỉ có thể đề cập đến một ít chi phái được coi là siêu việt nhất. Trong số một trăm chi phái ra đời, phái cổ nhất là Taken Ouchi Riu, có người nói rằng do Takenou Hisamori, một người ở Sakushu, sáng lập năm 1532 (năm đầu triều đại Tenbun). Mặc dù con số này không đáng tin cậy lắm và mặc dù chi phái này dạy môn Kogusoku, hay là thuật dùng tay bắt lấy địch thủ, có đôi phần khác biệt với môn Jujitsu thuần chất, người ta cũng không thể nghi ngờ về điểm nó được thiết lập một thời gian trước khi Trần Nguyên Tán đến Nhật và nó có thể được xem như chi phái đầu tiên dạy một môn võ tương tự môn Jujitsu.

    Tiếp đến là một chi phái gọi là Kito-Ryu, do ông Fukuno Shichiro-Emon, quê quán ở Tamba, sáng lập vào khoảng giữa thế kỷ 17 (Kanyei). Liên quan mật thiết với chi phái này là chi phái Jikishin Ryu, sáng Tổ là ông Terada Kan Emon, quê ở Unshu, người đồng thời với Fukuno. Có nhiều mâu thuẫn về sự liên hệ giữa hai người này. Một vài bản thảo viết rằng Fukuno là sư phụ của Terada, trong khi những tài liệu khác bảo ngược lại. Mặc dù không thể quyết định về điểm mâu thuẫn này, chúng ta cũng có thể quả quyết rằng cả hai người, Fukuno và Terada, sống vào giữa thế kỷ 17, có liên hệ mật thiết với nhau, và đã lập ra hai chi phái Jujitsu khác biệt, mấy năm trước thời Trần Nguyên Tán. Có thể họ đã thấy và nghe nhà sư này, và nhờ đó biết ít nhiều về môn Kempo của Trung Hoa. Dù sao đi nữa, hai phái này vẫn được coi là những chi phái cổ nhất của môn Jujitsu chính thống. Chi phái Kiushin Ryu được thiết lập bởi InugamiNagakatsu, quê ở Omi. Mặc dù thời gian sáng lập của nó không mấy chắc chắn, nhưng có một vài lý do khiến ta tin rằng chi phái ấy lại là một nhánh của chi phái Kito Ryu nói trên. Inugami Gunpei, cháu của vị sáng Tổ, công phu trác tuyệt đến nỗi ông thường được xem là vị sáng Tổ đích thực của môn phái này. Chi phái Sekiguchi Ryu, do Sekiguchi Jushin thiết lập, và chi phái Shibukawa Ryu, do Shibukawa Bangoro, là hai chi phái nổi tiếng khác. Hai chi phái cũng có liên hệ với nhau vì vị sáng Tổ của hai phái sau thụ giáo người con của vị sáng Tổ hai phái trước. Đời thứ chín của chi phái này và đời thứ tám của chi phái kia hiện nay dạy Jujitsu tại Đông Kinh.

    Nagakatsu, quê ở Omi. Mặc dù thời gian sáng lập của nó không mấy chắc chắn, nhưng có một vài lý do khiến ta tin rằng chi phái ấy lại là một nhánh của chi phái Kito Ryu nói trên. Inugami Gunpei, cháu của vị sáng Tổ, công phu trác tuyệt đến nỗi ông thường được xem là vị sáng Tổ đích thực của môn phái này. Chi phái Sekiguchi Ryu, do Sekiguchi Jushin thiết lập, và chi phái Shibukawa Ryu, do Shibukawa Bangoro, là hai chi phái nổi tiếng khác. Hai chi phái cũng có liên hệ với nhau vì vị sáng Tổ của hai phái sau thụ giáo người con của vị sáng Tổ hai phái trước. Đời thứ chín của chi phái này và đời thứ tám của chi phái kia hiện nay dạy Jujitsu tại Đông Kinh.

    - Các đòn thế của môn Jujitsu nói chung thường rất hiểm ác, những đòn tấn công hoặc phản công quyết nhắm đến việc giết địch thủ trong nháy mắc, hoặc làm gãy tay, gãy chân, đui mù, á khẩu, tê liệt tàn phế cả cuộc đời. Một số các đòn của Jujitsu thật ra cũng bắt nguồn từ các môn quyền thuật Trung Hoa, Thiếu Lâm, Võ Đang và Thái CựcQuyền.

    - Jujitsu – Nhu thuật – gồm những loại đòn ném, vật, khóa chân, khóa tay, khóa cổ, siết họng và các đòn về quan tiết (các khớp xương).

    Tất cả những đòn này đều căn cứ trên hai nguyên lý sau đây:

    1. Nhượng bộ sức mạnh để thắng sức mạnh bằng cách lợi dụng đòn của đối phương.
    2. Tạo cho địch cái thế mất thăng bằng để quật ngã địch.

    ĐIỂM HUYỆT

    Trong môn Jujitsu còn có cả nghệ thuật điểm huyệt. Điểm huyệt tức là dùng những món binh khí tự nhiên trong thân người đã được tập luyện cho cứng rắn (đầu ngón tay, ngón tay quỉ, ngón chân v.v…) đánh mạnh, sâu, các điểm nhỏ li ti liên lạc với hệ thống thần kinh toàn thân, gây ra những chấn động nguy hại cho bộ phận trọng yếu nào đó trong tạng phủ.

    Môn điểm huyệt thật ra do người Trung Hoa tìm ra trước tiên. Quyển kỳ thư đầu tiên và cổ xưa cách đây hơn 4000 năm tên là “Hoàng đế nội kinh” đã có vẽ đồ hình và nói về các huyệt đạo trong thân thể con người. Tất cả có 108 huyệt đạo, chia làm ba loại : tử huyệt, ma huyệt và sanh huyệt. Tử huyệt phân phối nơi các điểm nhược trong thân người. Khi tử huyệt bị các ngón tay qua nhiều công phu tập luyện điểm trúng, con người có thể chết ngay tức khắc hoặc trong một thời gian nào đó.

    Người xưa còn tìm biết một huyệt mà điểm vào nạn nhân có thể bị á khẩu vì dương khí từ đốc mạch lên óc bị bế tắc, gọi là á huyệt. Những huyệt đạo quan trọng nhất có thể nguy hại đến tánh mạng con người phần lớn tập trung ở đầu, ngực và xương sống. Tuy nhiên ngay ở bàn tay và chân cũng có tử huyệt, nghĩa là huyệt có thể làm chết người khi bị điểm trúng, ví dụ các huyệt Dũng Tuyền giữa bàn chân, huyệt Lao Công ở lòng bàn tay.

    Ma huyệt là những huyệt khi điểm trúng sẽ làm cho tê bại, hoặc bất tỉnh nhân sự nhưng không chết. Những huyệt này ở nhiều nơi trong thân thể, đặc biệt là ở các đầu xương tay, chân, vai. Nhưng võ sư Jujitsu hoặc những võ sinh cao cấp đều tinh thục những cách cứu người bất tỉnh vì trúng đòn. Các nhà võ thuật xưa hễ có học điểm huyệt, tất có học những phương pháp dùng tay không hoặc dùng thuốc để cứu trị tức khắc.

    ĐÁNH VÀO CÁC QUAN TIẾT

    Quan tiết là các khớp xương. Những nơi có hai khớp xương nối vào nhau. Cũng như Thái Cực Quyền của Trung hoa và môn Aikido (Hiệp Khí Đạo) của Nhật bản, môn Jujitsu cũng chú trọng đến các loại đòn này. Trong thân thể con người, những chỗ “yếu” nhất là các ngón tay, cổ, hai bàn chân, các khớp xương cánh chỏ, vai và đầu gối. Đánh vào quan tiết tức là vặn, bẻ những khớp xương yếu nhất trong thân người. Vì vậy, một thiếu nữ yếu đuối cũng có thể chế ngự được một lực sĩ hay một tên lưu manh cường bạo, nếu thiếu nữ biết cách vặn một bàn tay, bẻ một ngón tay chẳng hạn. Môn Jujitsu nghiên cứu môn đánh vào các quan tiết một cách rất tinh vi. Sau có một võ sĩ vạch hẳn phương pháp vặn bẻ các khớp xương ra làm một môn phái, một kỹ thuật chiến đấu dành riêng cho kẻ yếu đuối học tập để tự vệ chống lại cường lực, gọi là Yamara.

    CẦM NÃ THỦ

    Một “ngón nghề” khác của phái Jujitsu là môn cầm nã thủ. Cầm là bắt, giữ. Nã là bấm, cấu, véo.

    Những chỗ nhược có thể bấm, cấu, véo được là bắp thịt con chuột ở cánh tay, chỗ lắc léo giữa cánh chỏ. Lưng bàn tay cũng có thể nã được một cách hiệu quả. Các võ sĩ muốn sử dụng môn cầm nã phải luyện các ngón tay cho thật sắt thép, bằng phương pháp gọi là phục hổ công : dùng năm đầu ngón tay và đầu ngón chân chịu đựng toàn thân, nằm úp trên mặt đất, hai cánh tay co lại, dãn ra theo thế hít đất, ngày nào cũng luyện như thế. Lâu ngày, các đầu ngón tay sẽ có đủ gân lực và cứng cáp để áp dụng môn cầm nã.

    HẬU THÂN CỦA JUJITSU

    Như trên đã nói, có biết bao chi phái Jujitsu lớn mạnh vào thời đại phong kiến, nhất là vào thời Iyemitsu, vị thứ ba và mạnh nhất trong các vị Tướng quân Tokugawa. Môn võ tiếp tục bành trướng trong các tỉnh. Cho đến hậu bán thế kỷ 19, nó bắt đầu suy yếu đôi chút với sự sụp đổ sắp đến của chế độ phong kiến. Mặc dù có lần môn võ đã được phục hồi và có ảnh hưởng sâu xa đối với tinh thần quốc gia của người Nhật, nó dần dần bị người đời xao lãng.

    Một người theo Tây học, ông Jigoro Kano, vốn xuất thân từ trường Đại học Đông Kinh đã đứng ra tiếp nối sự nghiệp của các vị tiền nhân. Ban đầu, ông theo học phái Tenjin Shiyo Ryu, sau đó, phái Kito Ryu. Sau khi đã trở nên bậc thầy trong các chi phái này, ông tìm tòi nghiên cứu, so sánh và học hỏi thêm mọi chi phái khác và cuối cùng sáng lập ra một chi phái mới gọi là Kano Ryu, hay là môn Judo Kodokan. Chữ Judo (Nhu đạo) thật ra không phải là một chữ mới. Nó đã được một trong các chi phái cổ dùng rồi. Chi phái Kano dùng danh từ này thay vì chữ Jujitsu bởi vì nó được học hỏi không chỉ như là một sự tập luyện thể xác, mà còn là một phương pháp rèn luyện đạo đức và trí tuệ. Vị sáng Tổ Jigono Kano vì muốn biến môn Jujitsu thành một môn thể dục có tính cách đại chúng và dân tộc nên đã gạt bỏ nhiều đòn nguy hiểm trong Jujitsu.

    Ngày nay môn Judo lan tràn khắp thế giới, không đâu không có võ đường, không xa xôi hẻo lánh nào không có những môn sinh tận tụy của môn phái.

    Tuy nhiên trên phương diện tự vệ và chiến đấu, môn Judo chưa hẳn thật sự có giá trị bằng môn Jujitsu, vì môn Jujitsu vẫn giữ nguyên toàn bộ sự hiệu quả của nó, còn môn Judo đã trở thành một môn thể thao biểu diễn, bị hạn chế bởi các qui luật chặt chẽ.

    Vì vậy mà trong quân đội cảnh sát các nước, người ta dạy Jujitsu chứ không hẳn là Judo. Lẽ tất nhiên, những ai muốn học võ để tự vệ và chiến đấu cần phải biết Jujitsu có cả vừa Judo, vừa Karate (Không thủ đạo), vừa Aikido (Hiệp khí đạo) và cả môn điểm huyệt nữa.

    Biết và thành thạo Jujitsu, bạn có thể áp dụng trong mọi trường hợp tự vệ nguy cấp, dù chiến đấu với một hay đông người, đồng thời Jujitsu còn là một môn thể dục đầy đủ hơn tất cả các môn võ khác, vì Jujitsu gồm đủ tinh hoa của tất cả các võ phái Đông phương vậy.

    Sau đây là câu chuyện được truyền tụng trong dân gian liên quan đến các vị võ sư Jujitsu ngày xưa.

    Trong tỉnh Unshu, có một gia tộc tên là Inouy là những vị võ sư cha truyền con nối của phái Jikishin và trong thời phong kiến họ thường nhận một số bổng lộc do một vị Hoàng thân trao tặng để thưởng công huấn luyện cho các chàng Samurai trẻ tuổi. Gặp thời người trưởng tộc không được cao cường lắm trong môn võ của mình, mặc dù ông được xem là vị võ sư vì cha truyền con nối như vậy. Cũng vào thời đó, có một vị triều thần mạnh mẽ vô cùng. Người ta nói rằng ông có thể dùng tay bóp nát một cây tre già. Một hôm kia, khi Inouye đến yết kiến vị Hoàng thân, vị này ra lệnh ông phải thử sức với vị triều thần. Vị triều thần từ đằng sau ôm ngực Inouye với tất cả sức lực của mình. Thương thay cho Inouye, vì không giỏi võ cho nên không chịu nổi sức lực vũ bão của đối thủ, tái mặt rồi chết giấc. Vị Hoàng thân tức giận vô cùng, tính bỏ đi, nghĩ rằng từ nay thôi cắt phần bổng lộc. Một người học trò của Inouye, tên là Tsuchiya, giỏi về Jujitsu hơn, thấy tình thế nguy hiểm cho vị thầy già của mình, níu áo vị Hoàng thân và thưa rằng : “Xin ngài nán lại một chút. Thầy tôi, ông Inouye, hôm nay không được khỏe trong người, nên tôi mong Ngài cho tôi được thay thế thầy tỷ thí với vị triều thần”.

    Vị Hoàng thân bằng lòng, ra lệnh cho hai người giao đấu. Vị triều thần lại ôm người môn sinh y như đã ôm ông thầy. Tsuchiya hỏi: “Sức lực của ông chỉ có thế?”. Sau câu hỏi đó, vị triều thần trả lời bằng cách ôm chặt hơn. Tsuchiya lặp lại câu hỏi. Vị triều thần nới lỏng một chút rồi lại ôm chặt hơn nữa. Trong chớp mắt, Tsuchiya cúi người xuống, nắm lấy cổ áo của địch thủ, quăng ông ta xuống đất, qua vai mình. Bởi thế, thay vì bị khiển trách, vị thầy, Inouye, được vị Hoàng thân nhiệt liệt khen thưởng về võ công của người môn sinh…

    Trong thời Cách mạng vừa qua, ở Đông Kinh có một vị võ sư Jujitsu đã đứng tuổi. Dù đã già, ông vẫn là một cao thủ trong môn võ của mình. Dân chúng lúc ấy thường đồn đại rằng mỗi tối, trên một con đường ngoài ngoại ô, một người đã quật ngã mọi kẻ qua đường. Công việc ấy thật có vẻ ác tâm, nhưng võ nghệ của người ấy rJuất cao. Tin đồn tới tai vị võ sư. Với ý định trừng phạt con người ác độc đó, dù hắn là ai cũng mặc, vị võ sư một đêm kia cải trang làm khách bộ hành đến tận nơi. Bất ngờ ông bị ôm từ đằng sau và thiếu chút nữa là bị quật ngã. Nhanh như chớp, ông rùn người xuống, thoát khỏi hai cánh tay kẻ thù, thúc cùi chỏ vào dạ dày hắn. Thấy kẻ thù ngã xuống chết. Ông lặng lẽ bỏ về nhà, không ai trông thấy. Sáng hôm sau, một người học trò đến gặp ông, đau buồn và hối hận kể lại chuyện sau đây:

    “Đêm đêm con thường quật ngã khách bộ hành ở ngoại ô để thử sức. Tối qua, con cũng đứng ở đó như thường lệ; thấy một ông già nghiêng ngả đi lại, con ôm sau lưng ông ta và cố sức quật ông ta xuống. Nhưng con bị ông ta thúc cùi chỏ vào bụng, lập tức ngã xuống. Sau đó một lúc, con tỉnh dậy, đi về nhà. Có lẽ con đã bị giết chết rồi nếu không mang một tấm gương soi trong người”.

    Không nói không rằng chính ông là kẻ đã đánh gục người môn sinh, vị võ sư già nghiêm nghị quở trách hành động tàn ác của anh ta và ra lệnh cho anh ta không bao giờ phạm phải một hành động ngu xuẩn như vậy nữa.

    About-Privacy Policy-Contact us
    Copyright © 2013 Võ thuật Cổ Truyền - Võ Cổ Truyền Việt Nam - tin tức liên đoàn Võ thuật cổ truyền. Distributed By Blogger Themes | Blogger Template by Trung Đức
    Proudly Powered by Võ Cổ truyền Việt Nam Phát triển xây dựng nội sung Bánh ngọt Việt Nam Bánh kem Hương vị Việt #banhngotvn
    back to top