• Featured

    Chia sẻ thông tin kiến thức, phương pháp tập luyện, chế độ dinh dưỡng cần thiết võ cổ truyền

  • Featured

    Don't miss these 10 Things if you are going for Picnic.

  • Articles

    iPhone 6 Will Look Like

  • Articles

    Solar Powered UAVs To Replace Satellites

  • Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình...

    Tiếng gọi thiêng liêng mãi vọng xa
    Hùng Vương dấy nghiệp dựng sơn hà

    Trống đồng giục chí trai anh tuấn
    Chim Lạc khơi lòng gái vị tha

    Lịch sử
    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình…




    Tác giả giới thiệu
    Võ sư Ngô Xuân Bính xuất thân trong gia đình có truyền thống về võ, ông học võ ngay từ thân phụ và các võ sư nổi tiếng trong vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đã lĩnh hội được truyền thống võ thuật dân tộc lâu đời, muốn thống nhất, đồng nhất các kỹ thuật võ Việt ông đã tiếp thu được để cùng vun vén về cội nguồn, hy vọng quy tụ các kỹ thuật của bầu đoàn võ của vùng sông Lam, sông Mã thành một phái võ riêng cho Việt Nam. Ông là một học trò giỏi của làng võ Việt Nam, nên khi ông là chưởng môn phái đã đặt tên cho môn võ mới là phái võ Nhất Nam. Với ý nghĩa đây là một đứa con của làng võ Việt nam, một phần tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

    Theo những gì ông cho biết (tham khảo sách Nhất Nam căn bản tập 1 và 2), đây là một môn phái có quy mô và tổ chức cao, với một hệ thống các môn công khá đồ sộ, toàn diện được đúc kết, sáng tạo dựa trên những nguyên lý đơn giản mà hợp lý, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý và cơ chế vận động của cơ bắp con người để tạo dựng lên những phương pháp luyện tập, những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo, có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương… Ngày 19 tháng 5 năm 2009 Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch đã chính thức ra văn bản công nhận danh sách Ban Vận Động Thành Lập Liên Đoàn Võ Thuật Nhất Nam Việt Nam gồm 21 vị.

    Đặc điểm
    Võ Nhất Nam xuất phát trước hết từ đặc điểm của người Việt là tầm vóc nhỏ bé, mà trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết chí cao do đó khó có thể đương lực ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng mạnh, võ sinh ta không thể tập theo lối cương cường, mà tập trung vào luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu, cụ thể là tập nhiều về tránh né sao cho thật thuần thục để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương mà dứt điểm. Nói như các võ sư võ Héc là: “học đạt cái tinh để chế cái nhiều, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng…” (trích sách Nhất Nam căn bản tập 1, nhà xuất bản TDTT Hà nội năm 1988) tất cả đều phải đạt độ quyền biến, tới mức thần quyền.




    Phương châm của võ Nhất Nam là né tránh, đánh nhanh, điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm, có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp cực kỳ mau lẹ để luồn tránh được đòn của đối phương, còn về tấn pháp tập trung vào các thế tấn thật cơ động, biến ảo cao. Để đánh điểm huyệt đối phương và chữa chạy cho mình hữu hiệu nhất, võ Nhất Nam nghiên cứu kỹ hệ thống các huyệt trên cơ thể người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ và những con thú sẵn có ở địa phương.


    Các võ sinh Nhất Nam được tập tinh thông thập bát ban võ nghệ, tức là ngoài quyền cước, võ sinh còn biết sử dụng thành thạo 17 loại vũ khí nữa. Quyền của Nhất Nam có 32 bài cơ bản, lại thêm 42 bài bổ trợ. Xuất phát của quyền theo quan niệm: “Biến tạo của trời đất có tất cả, từ cao đến thấp, chim muông, hoa lá, vạn vật, côn trùng… theo chúng kiến tạo, thêm cái hay để bảo tồn một giống hay nhiều giống. Trên đến chí cương, dưới đến chí âm, khắc nhu khắc cương, đấy là đạo của quyền”. Điều đó có nghĩa là: Nhất Nam với mọi vật phỏng theo muôn vật, nghiền ngẫm để rút ra cái hay, cái đẹp, cái cứng, cái dẻo, cái biến hóa của muôn vật mà chế thành quyền. Bài quyền một chuỗi động tác, có thế công, thế thủ nhưng không chỉ là thế, là dũng mà phải là cái biến, cái khoáng đạt, tùy lúc. Nhất Nam bên cạnh những bài quyền chiến đấu, còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và những bài quyền nhập định nhằm tu dưỡng nhân cánh con người. Trong quyền, Nhất Nam tập đá nhiều, nhưng những đòn yểm trợ bằng tay vẫn được chủ yếu sử dụng và đạt hiệu quả cao, trong đó nổi bật lên 2 thế: tay xà và tay trảo. Tay xà là một thế mô phỏng động tác quăng, quật, luồn, cuộn của các loài trăn vốn rất phổ biến ở vùng Thanh-Nghệ, nó có độ nẩy, độ xiết, độ mở và độ uốn lượn rất linh hoạt. Tay trảo là thế đánh của tay chĩa ngang ngón cái như cựa gà chọi, còn các ngón kia khép lại chĩa thẳng thành mũi xỉa vào các huyệt của đối phương, thể hiện lối võ lấy yếu thắng mạnh, lấy nhẹ đánh nặng. Đặc biệt các bài Ma quyền, Ảo quyền, Hoa quyền đã kết tinh những kỳ bí của võ Nhất Nam.

    Về võ binh khí, Nhất Nam coi binh khí là phương tiện “nối” cho tay thêm dài, thêm sắc, thêm cứng, thêm dẻo và linh hoạt, nên đã từ thế thức trong các bài quyền mà sáng tạo ra những bài võ binh khí như Ma kiếm, Hoa kiếm, Vũ Chân kiếm… Nhất Nam ưa sử dụng loại gậy tre đặc hoặc gỗ cứng, nặng các cỡ khác nhau, các bài Lôi côn, Thiết côn, Vân Vũ côn gồm nhiều thế đánh khác nhau, kết hợp nhuần nhuyễn giữ công và thủ. Hiện nay, về vũ khí có 9 bài côn, 9 bài kiếm, 7 bài rìu, 3 bài chạc ba, 5 bài thương, 1 bài song nguyệt, 2 bài đoản thiên mộc, 3 bài câu liêm cán ngắn (đánh kèm với lá mộc), 1 bài đánh bằng dây lưng, đặc biệt có cả bài đánh bằng dải lụa được gọi là Nhung thuật.

    Binh khí của Nhất Nam cũng rất đặc sắc. Côn có tới 4 cỡ với độ dài bằng cánh tay, cao ngang mày, cao 1 đầu 1 gang tay và cao một đầu một với tay. Mộc bằng gỗ ken mây, bọc nhiều lớp da sống. Hai bên thân mộc còn lắp thêm 2 cái để khi đánh có thể xòe ra thành một lớn hoặc có thể gấp lại để che hai phía của thân mộc. Cây chạc ba như cây chạc ba đâm cá, có thể vừa đâm vừa ngoặc. Câu câu liêm là biến tướng của cây rựa đi rừng. Kiếm có sống và lưỡi, cong từ đoạn 2/3 ra mũi. Song nguyệt như cái liềm lưỡi sắt, hai đầu nhọn hoắt, một cặp nguyệt như bốn con dao vừa đâm vừa chém. Bài nhung thuật đánh bằng dải lụa dài 1-3 mét, đầu buộc vật nặng, cứng dùng để điểm, trói đối phương và quấn, giật vũ khí đối phương, có thể dấu kín nên dễ đánh bất ngờ.

    Võ Nhất Nam xưa có 12 đẳng ứng với 12 vạch, nhưng nay thất truyền chỉ còn 9 đẳng ở môn công thuộc đủ các bài quyền thuật, binh khí, ám khí, xoa bóp, châm cứu, dưỡng sinh. Trang phục của võ sinh Nhất Nam theo lối võ cổ truyền: đầu chít khăn, mình trần, đóng khố. Các tài liệu tham khảo được phổ biến rộng rãi của võ Nhất nam hiện nay là hai cuốn Nhất nam căn bản do đích thân võ sư Ngô Xuân Bính biên soạn và trình bày.

    Nguyên tắc
    Học lấy tinh, không cần nhiều
    Hiểu cần nhiều, nhưng luyên ít
    Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
    Giác đầu thành tay, thành chân
    Cần chí hơi lý ở đầu
    Phương pháp
    Dậy chí trước môn công
    Dậy ý trước tay chân
    Dậy chế công, lấy công làm gốc
    Dậy chế thủ, lấy thủ làm gốc
    Biết chế chống công, biết công được chế
    Yếu pháp
    Là những yếu quyết căn bản giúp người luyện tập nắm vững và có cơ sở lý luận trong việc học tập các đòn thế, chiêu thức, cách di chuyển, tấn công phản công, phòng thủ… Giống như người đi xa phải chuẩn bị tư trang, người luyện võ muốn đạt được công phu, đều phải hiểu và nắm được những yếu quyết căn môn cơ bản.

    Yếu pháp của môn phái võ Nhất Nam, dựa trên những nguyên lý đơn giản và hợp lý. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý, cơ chế vận động của cơ bắp cơ chế vận hành của khí huyết để đưa ra các phương thức rèn luyện. Những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo; có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương, cũng như khả năng huy động một cách hợp lý sức mạnh của bản thân và các bộ phận của cơ thể dùng khi công hoặc thủ. Nhằm giúp người tập nhanh chóng thu được những kết quả mong muốn như: bản lĩnh vững vàng, trí cảm sáng suốt, khả năng phản xạ nhạy bén, cử động của tay chân linh hoạt, chính xác.

    Các yếu pháp căn bản của phái Nhất Nam được chia ra làm 5 phần: Thân pháp, Thủ pháp, Công pháp, Hoá pháp, Giải pháp.

    Bộ tay
    Sự khéo léo, tính biến ứng và khả năng thực hiện những động tác phức tạp ở các góc độ khác nhau, là ưu điểm tiêu biểu của đôi tay con người. Dựa vào những nhận xét thông minh và đúng đắn đó, các võ sư nghiên cứu môn công và các phương pháp luyện tập đôi tay đêu cố gắng tận dụng khả năng lớn lao của nó.

    Môn phái Nhất Nam tách bộ tay ra 5 kiểu: Tay quyền, Tay trảo, Tay đao, Tay xà, Tay chỏ.

    Bộ chân
    Khả năng vươn dài, vươn cao, trượt thấp, nhảy xa, bật cao, di chuyển, thực hiện dễ dàng các động tác nhanh mạnh là ưu thế chủ yếu của đôi chân con người. Người tập võ, luyện thành những đòn thế căn bản của bộ chân sẽ có được công phu trụ tấn vững vàng, di chuyển linh hoạt, đòn đánh kín, lực đánh mạnh và những khả năng gạt, đỡ, ngoắc, khóa, du ép đối phương một các hợp lý, có hiệu quả.

    Môn phái Nhất Nam chia bộ chân ra làm 5 kiểu sau: Thiết cước, Lôi cước, Đao cước (cước đao ), Kim chỉ cước, Chuỳ lôi cước.

    Quyền
    Quyền là thuật vận động, hài hoà giữa sức mạnh, sức bật, sức bền, độ dẻo, tính nhịp điệu trong một tổng thể khăng khít, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên mà tính năng của nó có thể thu âm, thu dương, khắc cương, khắc nhu, là nếp nghĩ, là tinh thần, là phần hành động lộ hiện cho tư tưởng hành hiệp của người học võ. Kỹ thuật của Quyền rất đa dạng: khi ứng đấu các võ sĩ phải xử lý đồng bộ nhiều động tác của tay, chân, của đầu, của thân, của mông… khi chậm, khi nhanh, khi mạnh, khi nhẹ… khi đánh xa, khi đánh gần, khi đánh cao, khi đánh thấp, khi đánh đòn đơn, khi đánh đa đòn… khi đánh trực diện, khi đánh từ hai phía… khi chập chờn dồn dứ, khi ồ ạt liên hoàn… Mặt khác trong qúa trình luyện quyền, người học võ phải thường xuyên di chuyển bằng các thức; bước chuyển, nhảy, lăn, lộn, chạy… để phù hợp với tình huống tấn công hoặc phòng thủ.

    Võ cổ truyền – Nhất Nam Võ Phái

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình...

    Tiếng gọi thiêng liêng mãi vọng xa
    Hùng Vương dấy nghiệp dựng sơn hà

    Trống đồng giục chí trai anh tuấn
    Chim Lạc khơi lòng gái vị tha

    Lịch sử
    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình…




    Tác giả giới thiệu
    Võ sư Ngô Xuân Bính xuất thân trong gia đình có truyền thống về võ, ông học võ ngay từ thân phụ và các võ sư nổi tiếng trong vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đã lĩnh hội được truyền thống võ thuật dân tộc lâu đời, muốn thống nhất, đồng nhất các kỹ thuật võ Việt ông đã tiếp thu được để cùng vun vén về cội nguồn, hy vọng quy tụ các kỹ thuật của bầu đoàn võ của vùng sông Lam, sông Mã thành một phái võ riêng cho Việt Nam. Ông là một học trò giỏi của làng võ Việt Nam, nên khi ông là chưởng môn phái đã đặt tên cho môn võ mới là phái võ Nhất Nam. Với ý nghĩa đây là một đứa con của làng võ Việt nam, một phần tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

    Theo những gì ông cho biết (tham khảo sách Nhất Nam căn bản tập 1 và 2), đây là một môn phái có quy mô và tổ chức cao, với một hệ thống các môn công khá đồ sộ, toàn diện được đúc kết, sáng tạo dựa trên những nguyên lý đơn giản mà hợp lý, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý và cơ chế vận động của cơ bắp con người để tạo dựng lên những phương pháp luyện tập, những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo, có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương… Ngày 19 tháng 5 năm 2009 Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch đã chính thức ra văn bản công nhận danh sách Ban Vận Động Thành Lập Liên Đoàn Võ Thuật Nhất Nam Việt Nam gồm 21 vị.

    Đặc điểm
    Võ Nhất Nam xuất phát trước hết từ đặc điểm của người Việt là tầm vóc nhỏ bé, mà trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết chí cao do đó khó có thể đương lực ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng mạnh, võ sinh ta không thể tập theo lối cương cường, mà tập trung vào luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu, cụ thể là tập nhiều về tránh né sao cho thật thuần thục để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương mà dứt điểm. Nói như các võ sư võ Héc là: “học đạt cái tinh để chế cái nhiều, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng…” (trích sách Nhất Nam căn bản tập 1, nhà xuất bản TDTT Hà nội năm 1988) tất cả đều phải đạt độ quyền biến, tới mức thần quyền.




    Phương châm của võ Nhất Nam là né tránh, đánh nhanh, điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm, có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp cực kỳ mau lẹ để luồn tránh được đòn của đối phương, còn về tấn pháp tập trung vào các thế tấn thật cơ động, biến ảo cao. Để đánh điểm huyệt đối phương và chữa chạy cho mình hữu hiệu nhất, võ Nhất Nam nghiên cứu kỹ hệ thống các huyệt trên cơ thể người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ và những con thú sẵn có ở địa phương.


    Các võ sinh Nhất Nam được tập tinh thông thập bát ban võ nghệ, tức là ngoài quyền cước, võ sinh còn biết sử dụng thành thạo 17 loại vũ khí nữa. Quyền của Nhất Nam có 32 bài cơ bản, lại thêm 42 bài bổ trợ. Xuất phát của quyền theo quan niệm: “Biến tạo của trời đất có tất cả, từ cao đến thấp, chim muông, hoa lá, vạn vật, côn trùng… theo chúng kiến tạo, thêm cái hay để bảo tồn một giống hay nhiều giống. Trên đến chí cương, dưới đến chí âm, khắc nhu khắc cương, đấy là đạo của quyền”. Điều đó có nghĩa là: Nhất Nam với mọi vật phỏng theo muôn vật, nghiền ngẫm để rút ra cái hay, cái đẹp, cái cứng, cái dẻo, cái biến hóa của muôn vật mà chế thành quyền. Bài quyền một chuỗi động tác, có thế công, thế thủ nhưng không chỉ là thế, là dũng mà phải là cái biến, cái khoáng đạt, tùy lúc. Nhất Nam bên cạnh những bài quyền chiến đấu, còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và những bài quyền nhập định nhằm tu dưỡng nhân cánh con người. Trong quyền, Nhất Nam tập đá nhiều, nhưng những đòn yểm trợ bằng tay vẫn được chủ yếu sử dụng và đạt hiệu quả cao, trong đó nổi bật lên 2 thế: tay xà và tay trảo. Tay xà là một thế mô phỏng động tác quăng, quật, luồn, cuộn của các loài trăn vốn rất phổ biến ở vùng Thanh-Nghệ, nó có độ nẩy, độ xiết, độ mở và độ uốn lượn rất linh hoạt. Tay trảo là thế đánh của tay chĩa ngang ngón cái như cựa gà chọi, còn các ngón kia khép lại chĩa thẳng thành mũi xỉa vào các huyệt của đối phương, thể hiện lối võ lấy yếu thắng mạnh, lấy nhẹ đánh nặng. Đặc biệt các bài Ma quyền, Ảo quyền, Hoa quyền đã kết tinh những kỳ bí của võ Nhất Nam.

    Về võ binh khí, Nhất Nam coi binh khí là phương tiện “nối” cho tay thêm dài, thêm sắc, thêm cứng, thêm dẻo và linh hoạt, nên đã từ thế thức trong các bài quyền mà sáng tạo ra những bài võ binh khí như Ma kiếm, Hoa kiếm, Vũ Chân kiếm… Nhất Nam ưa sử dụng loại gậy tre đặc hoặc gỗ cứng, nặng các cỡ khác nhau, các bài Lôi côn, Thiết côn, Vân Vũ côn gồm nhiều thế đánh khác nhau, kết hợp nhuần nhuyễn giữ công và thủ. Hiện nay, về vũ khí có 9 bài côn, 9 bài kiếm, 7 bài rìu, 3 bài chạc ba, 5 bài thương, 1 bài song nguyệt, 2 bài đoản thiên mộc, 3 bài câu liêm cán ngắn (đánh kèm với lá mộc), 1 bài đánh bằng dây lưng, đặc biệt có cả bài đánh bằng dải lụa được gọi là Nhung thuật.

    Binh khí của Nhất Nam cũng rất đặc sắc. Côn có tới 4 cỡ với độ dài bằng cánh tay, cao ngang mày, cao 1 đầu 1 gang tay và cao một đầu một với tay. Mộc bằng gỗ ken mây, bọc nhiều lớp da sống. Hai bên thân mộc còn lắp thêm 2 cái để khi đánh có thể xòe ra thành một lớn hoặc có thể gấp lại để che hai phía của thân mộc. Cây chạc ba như cây chạc ba đâm cá, có thể vừa đâm vừa ngoặc. Câu câu liêm là biến tướng của cây rựa đi rừng. Kiếm có sống và lưỡi, cong từ đoạn 2/3 ra mũi. Song nguyệt như cái liềm lưỡi sắt, hai đầu nhọn hoắt, một cặp nguyệt như bốn con dao vừa đâm vừa chém. Bài nhung thuật đánh bằng dải lụa dài 1-3 mét, đầu buộc vật nặng, cứng dùng để điểm, trói đối phương và quấn, giật vũ khí đối phương, có thể dấu kín nên dễ đánh bất ngờ.

    Võ Nhất Nam xưa có 12 đẳng ứng với 12 vạch, nhưng nay thất truyền chỉ còn 9 đẳng ở môn công thuộc đủ các bài quyền thuật, binh khí, ám khí, xoa bóp, châm cứu, dưỡng sinh. Trang phục của võ sinh Nhất Nam theo lối võ cổ truyền: đầu chít khăn, mình trần, đóng khố. Các tài liệu tham khảo được phổ biến rộng rãi của võ Nhất nam hiện nay là hai cuốn Nhất nam căn bản do đích thân võ sư Ngô Xuân Bính biên soạn và trình bày.

    Nguyên tắc
    Học lấy tinh, không cần nhiều
    Hiểu cần nhiều, nhưng luyên ít
    Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
    Giác đầu thành tay, thành chân
    Cần chí hơi lý ở đầu
    Phương pháp
    Dậy chí trước môn công
    Dậy ý trước tay chân
    Dậy chế công, lấy công làm gốc
    Dậy chế thủ, lấy thủ làm gốc
    Biết chế chống công, biết công được chế
    Yếu pháp
    Là những yếu quyết căn bản giúp người luyện tập nắm vững và có cơ sở lý luận trong việc học tập các đòn thế, chiêu thức, cách di chuyển, tấn công phản công, phòng thủ… Giống như người đi xa phải chuẩn bị tư trang, người luyện võ muốn đạt được công phu, đều phải hiểu và nắm được những yếu quyết căn môn cơ bản.

    Yếu pháp của môn phái võ Nhất Nam, dựa trên những nguyên lý đơn giản và hợp lý. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý, cơ chế vận động của cơ bắp cơ chế vận hành của khí huyết để đưa ra các phương thức rèn luyện. Những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo; có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương, cũng như khả năng huy động một cách hợp lý sức mạnh của bản thân và các bộ phận của cơ thể dùng khi công hoặc thủ. Nhằm giúp người tập nhanh chóng thu được những kết quả mong muốn như: bản lĩnh vững vàng, trí cảm sáng suốt, khả năng phản xạ nhạy bén, cử động của tay chân linh hoạt, chính xác.

    Các yếu pháp căn bản của phái Nhất Nam được chia ra làm 5 phần: Thân pháp, Thủ pháp, Công pháp, Hoá pháp, Giải pháp.

    Bộ tay
    Sự khéo léo, tính biến ứng và khả năng thực hiện những động tác phức tạp ở các góc độ khác nhau, là ưu điểm tiêu biểu của đôi tay con người. Dựa vào những nhận xét thông minh và đúng đắn đó, các võ sư nghiên cứu môn công và các phương pháp luyện tập đôi tay đêu cố gắng tận dụng khả năng lớn lao của nó.

    Môn phái Nhất Nam tách bộ tay ra 5 kiểu: Tay quyền, Tay trảo, Tay đao, Tay xà, Tay chỏ.

    Bộ chân
    Khả năng vươn dài, vươn cao, trượt thấp, nhảy xa, bật cao, di chuyển, thực hiện dễ dàng các động tác nhanh mạnh là ưu thế chủ yếu của đôi chân con người. Người tập võ, luyện thành những đòn thế căn bản của bộ chân sẽ có được công phu trụ tấn vững vàng, di chuyển linh hoạt, đòn đánh kín, lực đánh mạnh và những khả năng gạt, đỡ, ngoắc, khóa, du ép đối phương một các hợp lý, có hiệu quả.

    Môn phái Nhất Nam chia bộ chân ra làm 5 kiểu sau: Thiết cước, Lôi cước, Đao cước (cước đao ), Kim chỉ cước, Chuỳ lôi cước.

    Quyền
    Quyền là thuật vận động, hài hoà giữa sức mạnh, sức bật, sức bền, độ dẻo, tính nhịp điệu trong một tổng thể khăng khít, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên mà tính năng của nó có thể thu âm, thu dương, khắc cương, khắc nhu, là nếp nghĩ, là tinh thần, là phần hành động lộ hiện cho tư tưởng hành hiệp của người học võ. Kỹ thuật của Quyền rất đa dạng: khi ứng đấu các võ sĩ phải xử lý đồng bộ nhiều động tác của tay, chân, của đầu, của thân, của mông… khi chậm, khi nhanh, khi mạnh, khi nhẹ… khi đánh xa, khi đánh gần, khi đánh cao, khi đánh thấp, khi đánh đòn đơn, khi đánh đa đòn… khi đánh trực diện, khi đánh từ hai phía… khi chập chờn dồn dứ, khi ồ ạt liên hoàn… Mặt khác trong qúa trình luyện quyền, người học võ phải thường xuyên di chuyển bằng các thức; bước chuyển, nhảy, lăn, lộn, chạy… để phù hợp với tình huống tấn công hoặc phòng thủ.

    Âm Dương có ảnh hưởng đến nhiều phương diện văn hóa truyền thống phương Đông, trong đó có võ cổ truyền.


    Võ cổ truyền là môn văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: “đằng sau võ học là triết học”. Âm dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất, phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.


    Đặc tính là tính chất đặc biệt. Tính chất đặc biệt ở đây thuộc lĩnh vực Võ thuật cổ truyền. Võ thuật cổ truyền Việt Nam có nhiều đặc tính, ngạn ngữ võ học có câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn”; có nghĩa là hai tay lấy Ngũ hành làm gốc, hai chân lấy Bát quái làm rễ.
    Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
    Bát quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.


    Theo Kinh Dịch thì Vô cực sinh Thái cực; Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh Bát quái; Bát quái sinh vô lượng, biến hoá không cùng.

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam là mạch chảy xuyên suốt 4.896 năm theo dòng lịch sử của dân tộc Việt Nam, là môn võ học văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: "Đằng sau võ học là triết học". Các bộ môn võ học Phương Đông đều dựa trên nền tảng của nguyên lý triết học: Âm Dương - Ngũ Hành. Học thuyết này có ảnh hưởng lớn đến nhiều phương diện của văn hóa truyền thống Phương Đông, trong đó Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng không ngoại trừ.

    Sách và tài liệu viết về Võ thuật cổ truyền Việt Nam hiện nay không nhiều, nhất là tài liệu bằng tiếng Anh phổ biến ra nước ngoài rất hạn chế, gần như chưa có tác phẩm nào, mà mới chỉ có một số bài tiểu luận của một vài Võ sư tâm huyết phổ biến qua các trang mạng trong khả năng khiêm tốn của mình. Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu rộng cho nền võ học cổ truyền Việt Nam. Ngay cả câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn” là nền tảng của Võ thuật cổ truyền Việt Nam, từ trước đến nay cũng có đề cập nhưng chưa nghe phân tích tận tường để ứng dụng đúng nghĩa.

    NGŨ HÀNH VI BẢN
    Học thuyết Ngũ hành lấy năm loại vật chất cơ bản theo các nhà hiền triết cổ đại quy nạp vũ trụ, vạn vật vào Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Giữa chúng còn có một quy luật tương sinh, tương khắc tuần hoàn không dứt. "Tương sinh" mang ý là cùng sinh ra nhau, giúp nhau lớn mạnh, tức là Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. "Tương khắc" là mang ý chế ước lẫn nhau, kìm hãm nhau, tức Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ.

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền Phương Đông thể hiện sự quan hệ với Ngũ Hành lớn nhất theo tư tưởng chỉ đạo là "Ngũ hành sinh khắc chế biến hóa", kết hợp với thế quyền, kết hợp với cơ thể con người, lấy "nội, ngoại Ngũ hành"của thân thể con người làm chủ.

    Quan hệ của Ngũ hành với Võ thuật cổ truyền lấy hình dạng, tính năng, phương vị của Ngũ hành làm cơ sở chuẩn, đem các thức quyền phối hợp thành tổ hợp, lấy Ngũ hành làm hệ thống, làm nguyên tố cơ bản cấu thành các loại quyền thức, chiêu, thức trong võ thuật. Ngũ hành lại phân bố năm phương vị: phương Nam: Hỏa, phương Bắc: Thủy, phương Đông: Mộc, phương Tây: Kim, trung ương là Thổ; cũng như năm phương vị của người: trước, sau, phải, trái, và ở giữa. Võ thuật cổ truyền cũng đem bộ tiến, thoái, tả, hữu, định ở trung tâm làm Ngũ hành.

    Các võ phái Võ thuật cổ truyền ứng dụng Ngũ hành vào các phần căn bản như:
    1. Bộ Thuỷ: Các đầu ngón tay (Thủ chỉ), ứng với màu đen (hắc, ô)
    2. Bộ Mộc: Cạnh bàn tay (Cương đao), ứng với màu xanh (thanh)
    3. Bộ Hoả: Cùi chỏ (Phượng dực), ứng với màu đỏ (hồng, xích, hoả)
    4. Bộ Thổ: Ức bàn tay (Hùng chưởng), ứng với màu vàng (hoàng, huỳnh)
    5. Bộ Kim: Nắm tay (Thôi sơn), ứng với màu trắng (bạch)

    BÁT QUÁI VI CĂN
    Võ thuật cổ truyền lấy đôi chân lập vị theo hình tượng tiêu biểu và di chuyển theo các hướng của Bát quái đồ. Vị trí của bộ tấn Võ Tây Sơn Bình Định trong đồ hình Bát quái (lấy Trung bình tấn làm trung tâm) như sau:

    1. Càn tam liên Tây Bắc Hùng long;
    2. Khảm trung mãn chính Bắc Thanh xà;
    3. Cấn phúc uyển Đông Bắc Hội phụng;
    4. Chấn ngưỡng vu chính Đông Kim kê;
    5. Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn;
    6. Ly trung hư chánh Nam Bạch hạc;
    7. Khôn lục đoạn Tây Nam Hồng hổ;
    8. Đoài thượng khuyết chính Tây Hắc hầu;
    9. Lưỡng nghi tâm Trung bình lập thế.
    Cung Càn: Long tấn, cung Khảm: Xà tấn, cung Cấn: Phụng tấn, cung Chấn: Kim kê tấn, cung Tốn: Nhạn tấn, cung Ly: Hạc tấn, cung Khôn: Hổ tấn, cung Đoài: Hầu tấn, Trung bình tấn lập thế ở giữa (hình minh họa 1).

    Theo phương vị các cung, bài Bát quái câu liêm thân pháp, môn phái Võ Đang (Nam Anh, Võ Đang chân truyền, NXB Đất Việt, 1973), di chuyển theo Bát quái đồ: Từ trung bình tấn (trung tâm chính vị) chân trái bước lên cung Cấn rồi kéo nhanh về cung Khôn; chân phải bước tới cung Càn đoạn kéo nhanh về cung Tốn; tiếp đến chân trái từ cung Khôn bước lên cung Chấn, chân phải từ cung Tốn xoay lưng đạp cung Khảm và chân trái từ cung Chấn bước ngang qua cung Đoài, xoay lưng lại chân phải lui về cung Ly... Trong di chuyển yêu cầu bàn chân tiếp sát và miết mạnh xuống mặt sàn (hình minh họa 2)

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền thường gọi “tấn” là “ngựa”. Mỗi môn phái có cách đứng tấn khác nhau, tuy không khác nhau xa lắm nhưng có đôi chỗ khác biệt. Tên gọi tấn cũng không đồng nhất. Tên gọi các bộ tấn của Ban chuyên môn Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam qua nghiên cứu tương đối gần so với các võ đường và môn phái trong nước hiện nay.
    Sự khác biệt là điều tất yếu, tuy nhiên không phải tất cả những điều cổ nhân nói là đúng. “Tận tín thư bất như vô thư” (Tin hoàn toàn vào sách nhược bằng không có sách còn hơn). Vì vậy, có nhiều bộ tấn khi xem lại không phù hợp với tên gọi. Bộ tấn dùng minh hoạ trong “Lưỡng túc Bát quái vi căn” là của môn Võ Tây Sơn ngày trước tại Bình Định, minh hoạ không hẳn là mô hình chuẩn cho tất cả các môn phái hoặc thống nhất như Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam đã làm. Ngay cả tài liệu “Căn bản công” đã in thành sách của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, khi có điều kiện cũng cần hội thảo chuyên môn, thẩm định lại tính kỹ thuật và khoa học thực tế một cách nghiêm túc.

    Trên cơ sở lý luận “Lưỡng túc Bát quái vi căn” dùng giải thích căn bản bước chân theo đồ hình Bát quái, không quan trọng tên gọi thế tấn. Người tập có thể linh hoạt thay đổi các thế tấn phù hợp với môn phái, võ đường của mình, không nhất thiết phải theo thế tấn minh hoạ, mà chỉ theo bước chân cơ bản trên nền hình Bát quái.

    Người xưa nói: “Mở đóng hư thực tức là quyền kinh”, “một mở một đóng quyền kinh hết vậy”, “một mở một đóng, có biến có thường, hư thực kiêm tới chợt ẩn chợt hiện”, “một động một tĩnh là hết chỗ ảo diệu của quyền thuật”. Cái gọi là động tĩnh, hư thực… đều căn cứ vào học thuyết âm dương trong kinh Dịch mà ra và chỉ là cách nói cụ thể hóa, hình tượng hóa trong quyền thuật mà thôi. Về sau những người diễn tập lại lấy đó tôn lên làm tiêu chuẩn, tự mình thể nghiệm cái triết lý này trong việc diễn luyện của bản thân.

    Bất kể loại quyền thuật nào cũng nhấn mạnh việc làm khỏe thân mình là ý nghĩa trọng yếu thứ nhất, đó là phải duy trì cho được sự cân bằng âm dương trong cơ thể. Vì vậy dù là quyền “ngoại gia” hay quyền “nội gia” đều nhấn mạnh “Khí trầm đan điền”, hoặc “trong luyện tinh – khí – thần, ngoài luyện tấn pháp, bộ pháp, thân pháp, thủ cước pháp” hay “trong luyện hơi thở, ngoài luyện gân cốt”. Như thế âm bằng dương thuận, tinh thần ổn định. Âm dương điều hòa, tinh thần khoẻ mạnh, thân thể tráng kiện, thì bệnh nào mà sinh?

    Học thuyết âm dương không phải chỉ có quan hệ mật thiết với lý luận quyền thuật và việc rèn luyện võ thuật mà trong kỹ thuật đối kháng của võ thuật cũng không có chỗ nào không ngầm mang triết lý âm dương. Trong chiến đấu, bất luận là phòng thủ hay tiến công, cũng không rời xa sự biến hóa của âm dương. Trong “Quyền Kinh” có nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không” (Luyện quyền chẳng luyện nghệ, có đến tuổi già cũng phí công). Quyền là đạo vận động, là phương thuốc khỏe thân; thuật là phép đoạt người, là sự ảo diệu để thắng người”. Tuy nhiên sự ảo diệu từ đâu tới, thuật từ đâu mà được? Chính là từ âm dương biến hóa với nhau. Con đường cầu tài năng võ thuật tất theo con đường của âm dương, chính là nguồn gốc nảy sinh của diệu quyết.

    Sở dĩ âm cực dương sinh, dương cực âm sinh là vì trong âm có dương tiềm phục, trong dương có âm tiềm phục chưa hiện rõ ra. Khi âm đến hồi cực thịnh thì mầm dương mới đủ sức hiện lên, nghĩa là trong thái âm có cái mầm thiếu dương hiện lên và bắt đầu tăng trưởng, cũng như trong thái dương có mầm thiếu âm hiện lên và bắt đầu tăng trưởng. Và bởi cái lẽ âm dương tiềm phục ấy mà trên đời chẳng bao giờ có hiện tượng cô dương hay cô âm.

    Võ cổ truyền thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, kết hợp cương nhu, hư thực, công thủ, phản biến, mạnh yếu, nội ngoại, thể chất tinh thần…Luyện tập võ cổ truyền không chỉ là phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh, vận động thể chất giản đơn mà còn là hiện tượng văn hóa thần kỳ rèn luyện tinh thần cùng ý chí. Từ tư thế phòng thủ (âm), khi bị tấn công, tức khắc những chiêu thức chống trả được tung ra (dương), trong quá trình đáp trả, bị phản công thì những chiêu thức né, tránh, hóa giải lại trở về phòng thủ (âm) đồng thời biến thế phản đòn tích cực (dương). Cứ như thế thủ công, phản biến liên hoàn như một vòng tròn xoay chuyển. Có thể hiểu nguyên tắc võ thuật là trong công có thủ, trong thủ có công như âm trong dương và dương trong âm vậy.


    Theo: Vs: Trương Văn Bảo

    Võ Cổ Truyền – Ý nghĩ biểu của biểu tượng Âm Dương

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Âm Dương có ảnh hưởng đến nhiều phương diện văn hóa truyền thống phương Đông, trong đó có võ cổ truyền.


    Võ cổ truyền là môn văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: “đằng sau võ học là triết học”. Âm dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất, phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.


    Đặc tính là tính chất đặc biệt. Tính chất đặc biệt ở đây thuộc lĩnh vực Võ thuật cổ truyền. Võ thuật cổ truyền Việt Nam có nhiều đặc tính, ngạn ngữ võ học có câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn”; có nghĩa là hai tay lấy Ngũ hành làm gốc, hai chân lấy Bát quái làm rễ.
    Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
    Bát quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.


    Theo Kinh Dịch thì Vô cực sinh Thái cực; Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh Bát quái; Bát quái sinh vô lượng, biến hoá không cùng.

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam là mạch chảy xuyên suốt 4.896 năm theo dòng lịch sử của dân tộc Việt Nam, là môn võ học văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: "Đằng sau võ học là triết học". Các bộ môn võ học Phương Đông đều dựa trên nền tảng của nguyên lý triết học: Âm Dương - Ngũ Hành. Học thuyết này có ảnh hưởng lớn đến nhiều phương diện của văn hóa truyền thống Phương Đông, trong đó Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng không ngoại trừ.

    Sách và tài liệu viết về Võ thuật cổ truyền Việt Nam hiện nay không nhiều, nhất là tài liệu bằng tiếng Anh phổ biến ra nước ngoài rất hạn chế, gần như chưa có tác phẩm nào, mà mới chỉ có một số bài tiểu luận của một vài Võ sư tâm huyết phổ biến qua các trang mạng trong khả năng khiêm tốn của mình. Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu rộng cho nền võ học cổ truyền Việt Nam. Ngay cả câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn” là nền tảng của Võ thuật cổ truyền Việt Nam, từ trước đến nay cũng có đề cập nhưng chưa nghe phân tích tận tường để ứng dụng đúng nghĩa.

    NGŨ HÀNH VI BẢN
    Học thuyết Ngũ hành lấy năm loại vật chất cơ bản theo các nhà hiền triết cổ đại quy nạp vũ trụ, vạn vật vào Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Giữa chúng còn có một quy luật tương sinh, tương khắc tuần hoàn không dứt. "Tương sinh" mang ý là cùng sinh ra nhau, giúp nhau lớn mạnh, tức là Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. "Tương khắc" là mang ý chế ước lẫn nhau, kìm hãm nhau, tức Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ.

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền Phương Đông thể hiện sự quan hệ với Ngũ Hành lớn nhất theo tư tưởng chỉ đạo là "Ngũ hành sinh khắc chế biến hóa", kết hợp với thế quyền, kết hợp với cơ thể con người, lấy "nội, ngoại Ngũ hành"của thân thể con người làm chủ.

    Quan hệ của Ngũ hành với Võ thuật cổ truyền lấy hình dạng, tính năng, phương vị của Ngũ hành làm cơ sở chuẩn, đem các thức quyền phối hợp thành tổ hợp, lấy Ngũ hành làm hệ thống, làm nguyên tố cơ bản cấu thành các loại quyền thức, chiêu, thức trong võ thuật. Ngũ hành lại phân bố năm phương vị: phương Nam: Hỏa, phương Bắc: Thủy, phương Đông: Mộc, phương Tây: Kim, trung ương là Thổ; cũng như năm phương vị của người: trước, sau, phải, trái, và ở giữa. Võ thuật cổ truyền cũng đem bộ tiến, thoái, tả, hữu, định ở trung tâm làm Ngũ hành.

    Các võ phái Võ thuật cổ truyền ứng dụng Ngũ hành vào các phần căn bản như:
    1. Bộ Thuỷ: Các đầu ngón tay (Thủ chỉ), ứng với màu đen (hắc, ô)
    2. Bộ Mộc: Cạnh bàn tay (Cương đao), ứng với màu xanh (thanh)
    3. Bộ Hoả: Cùi chỏ (Phượng dực), ứng với màu đỏ (hồng, xích, hoả)
    4. Bộ Thổ: Ức bàn tay (Hùng chưởng), ứng với màu vàng (hoàng, huỳnh)
    5. Bộ Kim: Nắm tay (Thôi sơn), ứng với màu trắng (bạch)

    BÁT QUÁI VI CĂN
    Võ thuật cổ truyền lấy đôi chân lập vị theo hình tượng tiêu biểu và di chuyển theo các hướng của Bát quái đồ. Vị trí của bộ tấn Võ Tây Sơn Bình Định trong đồ hình Bát quái (lấy Trung bình tấn làm trung tâm) như sau:

    1. Càn tam liên Tây Bắc Hùng long;
    2. Khảm trung mãn chính Bắc Thanh xà;
    3. Cấn phúc uyển Đông Bắc Hội phụng;
    4. Chấn ngưỡng vu chính Đông Kim kê;
    5. Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn;
    6. Ly trung hư chánh Nam Bạch hạc;
    7. Khôn lục đoạn Tây Nam Hồng hổ;
    8. Đoài thượng khuyết chính Tây Hắc hầu;
    9. Lưỡng nghi tâm Trung bình lập thế.
    Cung Càn: Long tấn, cung Khảm: Xà tấn, cung Cấn: Phụng tấn, cung Chấn: Kim kê tấn, cung Tốn: Nhạn tấn, cung Ly: Hạc tấn, cung Khôn: Hổ tấn, cung Đoài: Hầu tấn, Trung bình tấn lập thế ở giữa (hình minh họa 1).

    Theo phương vị các cung, bài Bát quái câu liêm thân pháp, môn phái Võ Đang (Nam Anh, Võ Đang chân truyền, NXB Đất Việt, 1973), di chuyển theo Bát quái đồ: Từ trung bình tấn (trung tâm chính vị) chân trái bước lên cung Cấn rồi kéo nhanh về cung Khôn; chân phải bước tới cung Càn đoạn kéo nhanh về cung Tốn; tiếp đến chân trái từ cung Khôn bước lên cung Chấn, chân phải từ cung Tốn xoay lưng đạp cung Khảm và chân trái từ cung Chấn bước ngang qua cung Đoài, xoay lưng lại chân phải lui về cung Ly... Trong di chuyển yêu cầu bàn chân tiếp sát và miết mạnh xuống mặt sàn (hình minh họa 2)

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền thường gọi “tấn” là “ngựa”. Mỗi môn phái có cách đứng tấn khác nhau, tuy không khác nhau xa lắm nhưng có đôi chỗ khác biệt. Tên gọi tấn cũng không đồng nhất. Tên gọi các bộ tấn của Ban chuyên môn Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam qua nghiên cứu tương đối gần so với các võ đường và môn phái trong nước hiện nay.
    Sự khác biệt là điều tất yếu, tuy nhiên không phải tất cả những điều cổ nhân nói là đúng. “Tận tín thư bất như vô thư” (Tin hoàn toàn vào sách nhược bằng không có sách còn hơn). Vì vậy, có nhiều bộ tấn khi xem lại không phù hợp với tên gọi. Bộ tấn dùng minh hoạ trong “Lưỡng túc Bát quái vi căn” là của môn Võ Tây Sơn ngày trước tại Bình Định, minh hoạ không hẳn là mô hình chuẩn cho tất cả các môn phái hoặc thống nhất như Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam đã làm. Ngay cả tài liệu “Căn bản công” đã in thành sách của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, khi có điều kiện cũng cần hội thảo chuyên môn, thẩm định lại tính kỹ thuật và khoa học thực tế một cách nghiêm túc.

    Trên cơ sở lý luận “Lưỡng túc Bát quái vi căn” dùng giải thích căn bản bước chân theo đồ hình Bát quái, không quan trọng tên gọi thế tấn. Người tập có thể linh hoạt thay đổi các thế tấn phù hợp với môn phái, võ đường của mình, không nhất thiết phải theo thế tấn minh hoạ, mà chỉ theo bước chân cơ bản trên nền hình Bát quái.

    Người xưa nói: “Mở đóng hư thực tức là quyền kinh”, “một mở một đóng quyền kinh hết vậy”, “một mở một đóng, có biến có thường, hư thực kiêm tới chợt ẩn chợt hiện”, “một động một tĩnh là hết chỗ ảo diệu của quyền thuật”. Cái gọi là động tĩnh, hư thực… đều căn cứ vào học thuyết âm dương trong kinh Dịch mà ra và chỉ là cách nói cụ thể hóa, hình tượng hóa trong quyền thuật mà thôi. Về sau những người diễn tập lại lấy đó tôn lên làm tiêu chuẩn, tự mình thể nghiệm cái triết lý này trong việc diễn luyện của bản thân.

    Bất kể loại quyền thuật nào cũng nhấn mạnh việc làm khỏe thân mình là ý nghĩa trọng yếu thứ nhất, đó là phải duy trì cho được sự cân bằng âm dương trong cơ thể. Vì vậy dù là quyền “ngoại gia” hay quyền “nội gia” đều nhấn mạnh “Khí trầm đan điền”, hoặc “trong luyện tinh – khí – thần, ngoài luyện tấn pháp, bộ pháp, thân pháp, thủ cước pháp” hay “trong luyện hơi thở, ngoài luyện gân cốt”. Như thế âm bằng dương thuận, tinh thần ổn định. Âm dương điều hòa, tinh thần khoẻ mạnh, thân thể tráng kiện, thì bệnh nào mà sinh?

    Học thuyết âm dương không phải chỉ có quan hệ mật thiết với lý luận quyền thuật và việc rèn luyện võ thuật mà trong kỹ thuật đối kháng của võ thuật cũng không có chỗ nào không ngầm mang triết lý âm dương. Trong chiến đấu, bất luận là phòng thủ hay tiến công, cũng không rời xa sự biến hóa của âm dương. Trong “Quyền Kinh” có nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không” (Luyện quyền chẳng luyện nghệ, có đến tuổi già cũng phí công). Quyền là đạo vận động, là phương thuốc khỏe thân; thuật là phép đoạt người, là sự ảo diệu để thắng người”. Tuy nhiên sự ảo diệu từ đâu tới, thuật từ đâu mà được? Chính là từ âm dương biến hóa với nhau. Con đường cầu tài năng võ thuật tất theo con đường của âm dương, chính là nguồn gốc nảy sinh của diệu quyết.

    Sở dĩ âm cực dương sinh, dương cực âm sinh là vì trong âm có dương tiềm phục, trong dương có âm tiềm phục chưa hiện rõ ra. Khi âm đến hồi cực thịnh thì mầm dương mới đủ sức hiện lên, nghĩa là trong thái âm có cái mầm thiếu dương hiện lên và bắt đầu tăng trưởng, cũng như trong thái dương có mầm thiếu âm hiện lên và bắt đầu tăng trưởng. Và bởi cái lẽ âm dương tiềm phục ấy mà trên đời chẳng bao giờ có hiện tượng cô dương hay cô âm.

    Võ cổ truyền thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, kết hợp cương nhu, hư thực, công thủ, phản biến, mạnh yếu, nội ngoại, thể chất tinh thần…Luyện tập võ cổ truyền không chỉ là phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh, vận động thể chất giản đơn mà còn là hiện tượng văn hóa thần kỳ rèn luyện tinh thần cùng ý chí. Từ tư thế phòng thủ (âm), khi bị tấn công, tức khắc những chiêu thức chống trả được tung ra (dương), trong quá trình đáp trả, bị phản công thì những chiêu thức né, tránh, hóa giải lại trở về phòng thủ (âm) đồng thời biến thế phản đòn tích cực (dương). Cứ như thế thủ công, phản biến liên hoàn như một vòng tròn xoay chuyển. Có thể hiểu nguyên tắc võ thuật là trong công có thủ, trong thủ có công như âm trong dương và dương trong âm vậy.


    Theo: Vs: Trương Văn Bảo

    võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."

    Võ thuật cổ truyền việt nam là một môn võ rất đa dạng và phong phú, không phân biệt nguồn gốc xuất xứ miễn là có quá trình phát triển lâu dài ở Việt Nam có cùng một lý tưởng nghiên cứu, bảo lưu truyền bá có sáng tạo và thống nhất ý chí trên cơ sở dạy và học theo triết lý lấy việc rèn luyện đạo đức, tác phong làm chuẩn mực, làm thước đo, từng bước đưa võ thuật đến nghệ thuật và hướng tới là 1 môn thể thao phổ cập vĩnh hằng, mang đậm đà bản sắc dân tộc có lòng vị tha, có ý chí quyết thắng, biết yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sẵn sàng tiếp thu cái mới, phù hợp với khoa học và tiến bộ của nhân loại.

    vocotruyen small Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam



    Từ ngày có Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam (1991), bộ môn võ thuật cổ truyền đã củng cố và soạn thảo qui chế hoạt động chuyên môn, xây dựng một hệ thống đai, đẳng, cấp, tuyển chọn được 10 bài võ thống nhất trong cả nước và đã ứng dụng có hiệu quả trong việc quản lý, ổn định và định hướng thống nhất giáo trình huấn luyện.


    Ban ngành chuyên môn biên soạn và bổ sung Luật thi đấu đối kháng, Luật thi quyền ngày càng hoàn chỉnh, đã thực sự là thước đo tương đối chính xác cho các cuộc thi đấu ở địa phương cũng như toàn quốc. Hàng năm Liên đoàn Võ Thuật cổ truyền Việt Nam đều tổ chức các kỳ Hội nghị chuyên môn để thống nhất các nội dung quan trọng, để bổ sung điều chỉnh các kế hoạch tổng kết thực tiễn, xây dựng định hướng vi mô và vĩ mô, cùng với việc tổ chức các lớp trọng tài + giám khảo, các lớp sơ cấp cứu, trặc đả bấm huyệt đảm bảo hệ thống thi đấu 2 giải trong 1 năm (giải trẻ + giải vô địch) có hiệu quả cao và an toàn.


    Các cấp của LĐVTCT/VN đã thực hiện giáo trình huấn luyện theo qui chế chuyên môn của Liên đoàn, tổ chức các kỳ thi thăng cấp đai theo đúng hệ thống, đào tạo được những HLV, võ sư có năng lực, có đạo đức, phục vụ cho việc phát triển võ học cổ truyền Việt Nam.



    Liên đoàn LĐVTCT/VN đã cử HLV tham gia giảng dạy võ cổ truyền ở nước ngoài, cử các vận động viên tham dự Đại hội Thể thao các dân tộc Quốc tế và Thế giới.



    Đặc biệt trong năm 2002, bộ môn võ thuật cổ ttruyền được thi đấu chính thức ở các Đại hội TDTT toàn quốc, điều này đã khẳng định được sự phát triển vững chắc của bộ môn, và được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp.



    Tại TP.Hồ Chí Minh hiện có hơn 50 võ phái, 150 võ sư, chuẩn võ sư, 300 HLV các cấp, 50 trọng tài + giám khảo. Khoảng 15.000 môn sinh, đang tập luyện thường xuyên tại trên 100 điểm tập và CLB trong toàn thành phố. Ngoài những hoạt động của các Chi hội địa phương, Hội VTCT Thành phố đã tuyển chọn 12 bài võ đưa vào chương trình huấn luyện thống nhất và tổ chức các hoạt động thường xuyên.



    HỘI VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TP. HỒ CHÍ MINH

    Võ thuật cổ truyền: Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."

    Võ thuật cổ truyền việt nam là một môn võ rất đa dạng và phong phú, không phân biệt nguồn gốc xuất xứ miễn là có quá trình phát triển lâu dài ở Việt Nam có cùng một lý tưởng nghiên cứu, bảo lưu truyền bá có sáng tạo và thống nhất ý chí trên cơ sở dạy và học theo triết lý lấy việc rèn luyện đạo đức, tác phong làm chuẩn mực, làm thước đo, từng bước đưa võ thuật đến nghệ thuật và hướng tới là 1 môn thể thao phổ cập vĩnh hằng, mang đậm đà bản sắc dân tộc có lòng vị tha, có ý chí quyết thắng, biết yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sẵn sàng tiếp thu cái mới, phù hợp với khoa học và tiến bộ của nhân loại.

    vocotruyen small Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam



    Từ ngày có Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam (1991), bộ môn võ thuật cổ truyền đã củng cố và soạn thảo qui chế hoạt động chuyên môn, xây dựng một hệ thống đai, đẳng, cấp, tuyển chọn được 10 bài võ thống nhất trong cả nước và đã ứng dụng có hiệu quả trong việc quản lý, ổn định và định hướng thống nhất giáo trình huấn luyện.


    Ban ngành chuyên môn biên soạn và bổ sung Luật thi đấu đối kháng, Luật thi quyền ngày càng hoàn chỉnh, đã thực sự là thước đo tương đối chính xác cho các cuộc thi đấu ở địa phương cũng như toàn quốc. Hàng năm Liên đoàn Võ Thuật cổ truyền Việt Nam đều tổ chức các kỳ Hội nghị chuyên môn để thống nhất các nội dung quan trọng, để bổ sung điều chỉnh các kế hoạch tổng kết thực tiễn, xây dựng định hướng vi mô và vĩ mô, cùng với việc tổ chức các lớp trọng tài + giám khảo, các lớp sơ cấp cứu, trặc đả bấm huyệt đảm bảo hệ thống thi đấu 2 giải trong 1 năm (giải trẻ + giải vô địch) có hiệu quả cao và an toàn.


    Các cấp của LĐVTCT/VN đã thực hiện giáo trình huấn luyện theo qui chế chuyên môn của Liên đoàn, tổ chức các kỳ thi thăng cấp đai theo đúng hệ thống, đào tạo được những HLV, võ sư có năng lực, có đạo đức, phục vụ cho việc phát triển võ học cổ truyền Việt Nam.



    Liên đoàn LĐVTCT/VN đã cử HLV tham gia giảng dạy võ cổ truyền ở nước ngoài, cử các vận động viên tham dự Đại hội Thể thao các dân tộc Quốc tế và Thế giới.



    Đặc biệt trong năm 2002, bộ môn võ thuật cổ ttruyền được thi đấu chính thức ở các Đại hội TDTT toàn quốc, điều này đã khẳng định được sự phát triển vững chắc của bộ môn, và được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp.



    Tại TP.Hồ Chí Minh hiện có hơn 50 võ phái, 150 võ sư, chuẩn võ sư, 300 HLV các cấp, 50 trọng tài + giám khảo. Khoảng 15.000 môn sinh, đang tập luyện thường xuyên tại trên 100 điểm tập và CLB trong toàn thành phố. Ngoài những hoạt động của các Chi hội địa phương, Hội VTCT Thành phố đã tuyển chọn 12 bài võ đưa vào chương trình huấn luyện thống nhất và tổ chức các hoạt động thường xuyên.



    HỘI VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TP. HỒ CHÍ MINH

    Ai về Bình Ðịnh quê tôi,
    Trước xem hát bội, nhì coi đi quyền.
    Cứ mỗi lần nói đến miền đất võ thì những câu ca dao trên chợt đến trong trí và một niềm xúc cảm dâng tràn...
    Bình Ðịnh là đâu mà phụ nữ cũng có thể đi quyền và đánh roi? Mời người Bình Ðịnh và nhất là người chưa biết Bình Ðịnh cùng về thăm một tỉnh miền trung với những áng văn thơ trác tuyệt và một vùng võ thuật kiêu hùng.

    Bình Ðịnh là một tỉnh ngày xưa tương đối trù phú, có diện tích chừng chín ngàn cây số vuông, thuộc miền trung Việt Nam, nằm dọc theo quốc lộ số 1; bắc giáp Quảng Ngãi, nam giáp Phú Yên, Phú Bổn, phía tây là vùng cao nguyên Kontum, Pleiku và mặt đông nhìn ra biển Nam Hải thuộc Thái Bình Dương.
    Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến miền Trung với nhiều rặng núi nhỏ đâm ngang ra biển. Trong đó Bình Ðịnh là một vùng núi non trùng điệp, địa thế hiểm trở, những rặng núi con của Trường Sơn thoai thoải về phía đông tạo địa thế Bình Ðịnh như một chiếc ngai vàng, tựa lưng vào núi, xoay mặt ra đầm Thị Nại. Theo truyền thuyết và phong thủy đây là vùng địa linh nhân kiệt. Thực hư chưa rõ đúng hay sai, nhưng sự thật vùng đất này đã sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt như Võ văn Dũng, Trần quang Diệu, Bùi thị Xuân, Mai xuân Thưởng, Tăng bạt Hổ... và nhất là Tây Sơn Tam Kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, trong đó Hồ Thơm - Nguyễn Huệ tức Quang Trung Hoàng Ðế, một đại anh hùng dân tộc, người đã chỉ huy toàn quân dân Việt đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh, đập tan mộng xâm lăng của đại cường quốc Mãn Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789.
    Nguyên đất Bình Ðịnh xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Năm 137 một thổ dân là Khu Liên chiếm đất này và tự xưng là Lâm Ấp Vương.
    Năm 982, vua Chiêm là Xá Lợi Ðà bị vua Lê Ðại Hành đánh bại ở Quảng Nam, chạy vào tiến chiếm đất này lập kinh đô Ðồ Bàn. Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh bại quân Chiêm, chiếm thành Ðồ Bàn đổi thành phủ Hoài Nhơn. Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn đổi Hoài Nhơn thành Qui Nhơn (1605). Ðến chúa Nguyễn Phúc Tấn đổi thành Qui Ninh (1651), nhưng sang chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên Qui Nhơn (1741).
    Năm 1771, ba vị anh hùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi nghĩa đánh chúa Nguyễn, năm năm sau (1776) Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Qui Nhơn làm kinh đô, sửa sang thành Ðồ Bàn làm Hoàng Ðế thành.
    Sau khi vua Quang Trung băng hà, lực lượng nhà Tây Sơn càng ngày càng yếu, trong khi đó, Nguyễn Ánh lại được người Pháp giúp đỡ. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm phủ Qui Nhơn và đổi tên thành phủ Bình Ðịnh. Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long, chỉnh đốn việc cai trị, đổi phủ Bình Ðịnh thành trấn Bình Ðịnh (1810).
    Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhà vua theo lối tổ chức của Thanh triều bên Trung Hoa, đổi trấn thành tỉnh, Bình Ðịnh trấn thành Bình Ðịnh tỉnh từ đấy (Xem bản đồ tỉnh Bình Ðịnh).
    Chúng ta hãy lắng nghe người học trò đa tình Bình Ðịnh ra Huế thi và rủ rê cô gái đất thần kinh:
    Mải vui Hương thủy Ngự Bình
    Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô.
    Chẳng lịch bằng kinh đô
    Bình Ðịnh không đồng khô cỏ cháy
    Năm dòng sông chảy,
    Sáu dãy non cao
    Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh.
    Những câu thơ của người học trò tự thuở xa xưa đã mô tả một vùng đất Bình Ðịnh hữu tình với những dòng sông, những dãy núi cao, tháp Chàm cổ, khiến chúng ta liên tưởng đến Hầm Hô, Ðồ Bàn, đầm Thị Nại. . . Ðầm này rất rộng do bán đảo Phương Mai bao bọc bên ngoài với hai cửa Cát Thử và Qui Nhơn. Từ xưa, thế kỷ 17 đã là cửa ngõ giao thương với các tỉnh trong nước cũng như nước ngoài và còn là một vị trí chiến lược, chiến thuật hiểm yếu. Bình Ðịnh là một tỉnh có đầy đủ nông lâm thủy sản . Ðặc sản có yến sào Qui Nhơn, trầm hương Bình Khê, nón ngựa Gò Găng, bột đậu xanh, bún Song thằng An Thái, nước mắm Gò Bồi, xoài tượng Phù Cát cùng nước dừa Bồng Sơn, Tam Quan ngọt ngào, tươi mát.
    Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
    Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
    Muốn ăn quít, ăn hồng,
    Theo cha mày mà về ngoài đó, (Thanh Nghệ)
    Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
    Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
    Thì theo tao, ở mãi trong này. (là Bình Ðịnh)
    Võ cổ truyền – Lịch sử Võ thuật Bình Định
    Đặc điểm
    1. Đặc điểm đầu tiên lớn nhất của võ thuật Bình Định là sự đa dạng. Đa dạng về những dòng võ ngay trên đất Bình Định và đa dạng về sự khác biệt trong kỹ thuật giữa các hệ phái mang tên Bình Định hoặc Tây Sơn trên toàn quốc.
    Tuy nhiên, sự đa dạng đó lại đặt trên cơ sở một số đặc điểm chung hầu hết các dòng võ ở Bình Định đều có. Chẳng hạn như một số bài bản được mặc nhiên coi là võ Bình Định như Ngọc trản ngân đài, Siêu Bát Quái, Roi Tấn Nhứt, Roi Ngũ Môn. Mặc dù đây chính là các bài bản của Võ Ta hay còn gọi là Võ Kinh, một môn võ của Đàng Trong và từng được dùng cho huấn luyện trong quân đội và thi võ cử trong thời nhà Nguyễn.
    Các câu vè có liên quan đến yếu quyết của võ thuật được lưu truyền ở Bình Định cũng là những câu vè của Võ Ta. Ví dụ: “Roi tiên quyền tiếp” (Xem Đấu Roi), “Song thủ ngũ hành vi bản. Lưỡng túc bát bộ vi căn”… Một câu vè khác nói lên sự thống nhất và liên đới giữa hai môn (Võ Kinh và võ thuật Bình Định) là “Roi Kinh quyền Bình Định”. Những kỹ thuật này không chỉ có riêng ở Võ Kinh và võ thuật Bình Định. Nó còn tồn tại ở các dòng võ ở các miền khác, chẳng hạn võ Tân Khánh Bà Trà ở Bình Dương – Đông Nam Bộ.
    Ngoài những kỹ thuật được coi là võ Ta nói trên, mỗi dòng võ đều chứa những đặc điểm riêng của mình. Đặc biệt nhất là những kỹ thuật thừa hưởng của nhà Tây Sơn. Ví dụ: Bài Hùng Kê quyền vốn được coi là của Nguyễn Lữ, bài quyền Yến Phi (thảo pháp Én bay) vốn được coi là của Nguyễn Huệ, các kỹ thuật về trống trận Tây Sơn… Mặc dù những kỹ thuật này không phổ biến bằng các kỹ thuật của Võ Ta, nhưng đây là điểm đặc sắc của riêng vùng đất Bình Định mà các vùng khác không hề có.
    Đặc biệt, trong thời gian gần đây có sự xuất hiện ra công chúng dòng võ chùa Long Phước. Theo trang web Võ Cổ Truyền, nhà sư Vạn Thanh (tên thật là Nguyễn Đông Hải) vốn là truyền nhân đời thứ 13 của môn phái Long Hổ Không hồng. Cũng theo trang web nói trên, kỹ thuật của môn võ này bao gồm trong “Phổ Đại Nam triều chi tướng thao” do tướng Tây Sơn Nguyễn Trung Như (Hư Linh Ẩn) truyền lại. Tập sách này gồm 2 bộ:
    “Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp” do Hư Minh, tổ của môn phái Long Hổ Không hồng ghi lại các bài bản từ thời nhà Lê trở về trước.
    “Tây Sơn danh tướng mộ hùng thao” do Nguyễn Trung Như ghi lại các bài bản võ thuật của thời Tây Sơn.
    Mức độ trung thực về mặt lịch sử của các tài liệu này rất cần được sự quan tâm nghiên cứu công phu của các nhà sử học.

    Vì có sự tương đồng về mặt văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, có một số dòng võ hoặc hệ phái tuyên bố có nguồn gốc từ Trung Quốc cũng lấy danh xưng võ Bình Định. Chẳng hạn như trường hợp của phái võ Bình Định gia tại Hà Nội, dòng Bình Định An Thái của võ sư Diệp Trường Phát. Việc công nhận hay công nhận danh xưng “Võ Bình Định” của các hệ phái này một thời từng là một đề tài tranh luận khá sôi nổi trong giới võ.
    Ngoài ra, ở vùng đất này cũng đã và đang có sự phổ biến của nhiều môn võ hiện đại trong và ngoài nước khác nhau. Đất Bình Định cũng đã từng rất nổi tiếng trong “làng đấm” (quyền Anh). Tuy nhiên, vì có sự rạch ròi trong ngôn ngữ sử dụng lẫn trong sự phân chia môn phái võ thuật hoặc bộ môn thể thao thi đấu nên chưa bao giờ các môn võ này được gọi với danh xưng “Võ Bình Định“.
    2. Về khía cạnh võ thuật, võ cổ truyền Bình Định thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu, giữa bên trong (tinh, khí, thần) với bên ngoài cơ thể (thủ, nhãn, chỉ và thân). Về võ lý, võ cổ truyền Bình Định vận dụng triệt để học thuyết âm – dương, lấy phép ngũ hành và phép bát quái làm nguyên lý cơ bản của “Song thủ ngũ hành vi bản”, “Lưỡng túc bát bộ vi căn” là cơ sở võ lý cho luyện tập bộ tay và bộ chân trong võ cổ truyền Bình Định: Tấn pháp trong bát quái và Thủ pháp trong Ngũ hành, có sự phối hợp cả hai phương diện ngoại công và nội công.
    3. Về khía cạnh đạo đức, ngoài những đức tính mà con người đề cao trong rèn luyện đạo đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đạo đức của người luyện õ còn thể hiện ở các mặt truyền thống: thượng võ, chống ngoại xâm; uống nước nhớ nguồn; trọng nhân nghĩa…
    4. Về nội dung, võ cổ truyền Bình Định vô cùng phong phú, đa dạng nhưng tựu trung có 4 nội dung cơ bản là: luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần. Quyền còn gọi là thảo bộ hay quyền tay không, bao gồm Cương quyền và Nhu quyền. Võ tay không chia thành 4 nhóm: Võ thể dục, võ tự vệ, võ tỷ thí và võ chiến đấu. Binh khí được dùng trong võ cổ truyền Bình Định bao gồm binh khí dài và binh khí ngắn. Loại binh khí rất cơ bản được lưu hành khá phổ biến ở Bình Định là côn (tiếng địa phương gọi là roi) (Xem Đấu Roi)với nhiều “phách roi” độc đáo chỉ có ở võ cổ truyền Bình Định: “Đâm so đũa”, “Đá văn roi”, “Phá vây”, “Roi đánh nghịch”… Nói về tận dụng vũ khí thô sơ chống giặc, Bình Định có “Bài kiếm 12″ nổi tiếng gồm 12 động tác được rút tỉa trong nhiều bài kiếm tiêu biểu của Bình Định để hình thành một cách ngắn gọn, dễ tập, dễ nhớ, được đưa vào luyện tập và thực hành chiến đấu đạt hiệu quả cao trong các lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở địa phương.
    Trong các bộ môn về quyền thuật, “Ngọc Trản” là bài quyền tiêu biểu của võ cổ truyền Bình Định, trải qua thời gian, nó vẫn sáng chói như một “chén ngọc” với những bí quyết võ công vô giá. Để thực hành được một cách nhuần nhuyễn, phải tính đến công sức luyện tập cả về thể chất và ý thức nhằm tạo được sự thống nhất thành một ý niệm duy nhất, như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó chính là bí quyết khổ luyện của lối quyền âm – dương trong Ngọc Trản công.
    Nguồn gốc

    Như đã trình bày, kỹ thuật phổ biến nhất trong võ thuật Bình Định là võ Ta, tức võ thuật của triều Nguyễn phổ biến ở Đàng Trong [cần dẫn nguồn]. Còn võ Ta thực sự được truyền vào và phổ biến ở vùng này từ thời nào lại là điều rất cần được nghiên cứu về mặt lịch sử.

    Sự ảnh hưởng của võ học thời Tây Sơn chỉ gói gọn trong một vài dòng võ và trong một vài bài bản riêng biệt không phổ biến, không nên xem võ thuật của Tây Sơn là nguồn gốc của tất cả các dòng phái võ thuật Bình Định.

    Mặc dù rất nhiều người học võ thuật Bình Định từng thọ giáo các danh sư có gốc từ Trung Quốc như Khách Bút, hoặc Tàu Sáu (Diệp Trường Phát). Tuy nhiên, những bài bản võ thuật phổ biến ở Bình Định không hề có trong các bài bản của võ thuật Trung Quốc kể cả danh từ lẫn kỹ thuật. Vì vậy, việc phát biểu của một số võ sư học võ Trung Quốc như “Võ Bình Định là võ Thiếu Lâm” hoặc “Võ Bình Định bắt nguồn từ võ Thiếu Lâm” (như ông Diệp Trường Phát đã từng phát biểu theo lời trích dẫn của Quách Trường Xuyên trong quyển “Võ Nhân Bình Định“) là không hề có cơ sở. [cần dẫn nguồn]
    Các dòng võ Bình Định

    Dòng họ Trương (xã Phù Mỹ, huyện Mỹ Hiệp): Ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường từ xứ Thanh Hà, Hải Dương vào khai sơn phá thạch ở vùng đất Tú Dương (thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, Bình Định) vào đầu thế kỷ 17 (khoảng năm 1605). Sau đó dồn đến định cư ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, Phù Mỹ, Bình Định cho đến ngày nay. Theo gia phả của dòng tộc để lại, dòng họ này có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ trong thời nhà Nguyễn và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ. Trong số đó có ông cử nhân võ Trương Trạch, thầy dạy của võ sư Trương Thanh Đăng, người sang lập ra võ đường Sa Long Cương ở Sài Gòn.

    Dòng họ Đinh (thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn): Ông Thủy tổ của dòng họ Đinh là Đinh Viết Hòe, sinh năm 1710 từ đất Ninh Bình phiêu bạt vào sinh cơ lập nghiệp tại ấp Thời Đôn (nay thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định) vào khoảng năm 1730 và lấy thêm vợ thứ (ông Hòe đã có vợ ở quê nhà) là bà Nguyễn Thị Quyền, sinh năm 1715 và sinh được 3 người con Đinh Văn Diệm, Đinh Văn Nhưng, Đinh Văn Triêm. Đinh Văn Nhưng (còn gọi là Ông Chảng) chính là thầy dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Hiện nay dòng họ này đã đổi sang họ Đào (sinh Đào tử Đinh) và tất cả các tài liệu, hiện vật đều bị tiêu huỷ sau khi phong trào Tây Sơn thất bại. Tài liệu duy nhất của dòng họ này truyền lại đến nay được biết là một tập tư liệu cổ do võ sư Phan Thọ cung cấp trong đó có ký tên Đào Thống.

    Dòng họ Trần (thôn Trường Định, xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn): là võ sư Trần Kim Hùng có nguồn gốc từ xứ Nghệ An, người dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Sau này, trong “Tây Sơn ngũ phụng thư” có Trần Thị Lan, bà Lan được ông nội là võ sư Trần Kim Hùng truyền dạy võ nghệ, bà có biệt tài về kiếm thuật và luyện thân lanh lẹ như chim én, nên tự hiệu là Ngọc Yến. Người chị của Trần Thị Lan là Trần Thị Huệ, vợ của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc.

    Roi Thuận Truyền(Xem Đấu roi) (thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn): “Roi Thuận Truyền” trước xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng đến đời ông Ba Ðề thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ Nhu là tên thật của Hồ Ngạnh, sinh năm 1891, mất năm 1976. Ông nguyên quán thôn Háo Ngãi, xã Bình An, huyện Tây Sơn, trú quán ở Thuận Truyền, xã Bình Thuận cùng huyện. Cha là ông Ðốc Năm, một võ quan của triều Nguyễn. Mẹ cũng là con nhà võ. Ngay từ lúc bé, ông đã được cha mẹ dạy võ gia truyền. Lớn lên, ông học roi của cao sư Ba Ðề, học nội công của ông Ðội Sẻ, tiếp đến học roi của ông Hồ Khiêm. Ðường roi kết hợp tinh hoa của nhiều thầy, lại thêm nội công nên cứng cáp và sâu hiểm vô cùng. Từ roi thế, roi đấu, roi chiến đến roi trận, ông đều tinh thông và độc đáo. Khoảng năm 1932, tiếng tăm ông đã vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú. Nghe danh, học trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết sớm, ông truyền nghề cho cháu nội là ông Hồ Sừng. Học trò lớp lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường Úc, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước được riêng dạy ngón võ bí truyền. Học trò lớp sau có Ðinh Văn Tuấn ở Qui Nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ vang cho làng võ Thuận Truyền. Hồ Ngạnh được gọi là “võ sư huyền thoại”.

    Quyền An Vinh (xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn): “Quyền An Vinh” có từ lâu, nhưng cũng chỉ biết từ đời ông Hương Mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa, cũng là bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi. Hương Mục Ngạc học quyền Bình Định (cô tổ của ông vốn là thầy dạy võ của nữ tướng Bùi Thị Xuân) rồi học thêm quyền Tàu của ông Khách Bút. Ông nổi tiếng nhờ tổng hợp được nhiều nguồn võ khác nhau, tạo nên tay quyền xuất sắc nhất trong làng võ thuật Bình Định đương thời. ông có ba người con: Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác đều tinh thông võ nghệ. Ông dạy nhiều học trò, có người nổi tiếng như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc về võ thuật mà còn gan dạ và có sức mạnh đáng kể, với tay không có thể vật ngã một con trâu đực đang sung sức. Bảy Lụt truyền nghề cho ông Phan Thọ. Sau này ông Phan Thọ còn học thêm võ trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp thu được cả tinh hoa quyền An Vinh từ mạch võ Hương Mục Ngạc lẫn võ chiến của Tây Sơn[cần dẫn nguồn].

    Quyền An Thái (xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn): An Thái vốn có những dòng võ truyền thống nổi tiếng nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng võ Bình định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái nói riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu. Người sáng lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát , sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người Tàu nhưng dòng dõi ba đời đều ở An thái, bà nội và mẹ ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia đình và bản thân Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi được 13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những cao sư Bắc phái Thiếu Lâm. Sau 15 năm ròng rã tầm sư học võ, ông Tàu Sáu lúc bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An Thái, mở trường dạy quyền Tàu, sở trường hai môn Hổ quyền và Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn đệ rất đông, không bao lâu phái quyền Tàu Thiếu Lâm của ông đã rải khắp miền đất võ và riêng ở An Thái, võ quyền truyền thống đã bị quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì thế sửa lại câu truyền tụng từ xưa ra “roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. [cần dẫn nguồn]

    Dân Bình Định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì xuất thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có người chỉ để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được cứng cáp thêm như Mười Mỹ. Sau này con của ông, võ sư Diệp Bảo Sanh viết quyển “Võ thuật Bình Định chân truyền” trong đó gọi ông là tổ sư của võ phái An Thái. Võ thuật phái An Thái được truyền vào Sài Gòn với tên gọi Bình Thái Đạo. Ngày nay môn phái này có chưởng môn là bà Diệp Lệ Bích (cháu nội của ông Diệp Trường Phát).
    Trường võ cử Bình Định

    Mặc dù sau khi dẹp được khởi nghĩa Tây Sơn, triều đình nhà Nguyễn đã có sự cấm đoán việc luyện võ cũng như việc sử dụng các loại binh khí sắc bén. Tuy nhiên, việc này chỉ diễn ra trong vòng vài chục năm. Sau đó để tận dụng nhân tài của miền đất võ trong việc chống Pháp, trường võ cử (thi Hương) Bình Định đã được mở lại.
    Trong tục ngữ ca dao

    Võ Bình định luôn luôn gắn liền với tên đất, tên người ở đây.Roi Kinh, Quyền Bình Định.Roi Thuận Truyền, Quyền An Vinh.Trai An Thái, Gái An Vinh.

    hoặcTiếng đồn An thái, Bình khêNhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo

    hoặcDư Ðành sức mạnh quá trâuVùng lên đánh ngã cả xâu triều đình

    Nổi tiếng nhất là câu ca dao sau:Ai về Bình định mà coiĐàn bà cũng biết múa roi, đi quyền

    Tuy nhiên, đôi lúc cũng có những cô gái học võ không chỉ để phòng thân mà muốn phát huy cái đẹp của võ truyền thống như trường hợp Thanh Tùng, hoặc còn đi xa hơn, thi thố với đời, trở thành cao thủ trong làng võ. Điển hình có bà Mân sống vào thời chúa Nguyễn, cô Quyền vào giữa thế kỷ 19 và sang đầu thế kỷ 20 lại có Tám Cảng.

    Bà Mân chưa phải là nhân vật lịch sử nhưng với tài võ nghệ, bà được dân Bình Định ca tụng qua bài vè Chú Lía dài 1434 câu thơ lục bát và được lưu truyền khắp các tỉnh miền Nam Trung phần.

    Theo bài vè, bà Mân ở gần vùng Truông Mây, nơi sào huyệt của một đảng cướp lớn do cha Hồ chú Nhẫn và sau có thêm chú Lía cầm đầu, nay thuộc xã Ân Đức huyện Hoài Ân. Một hôm hai tên Hồ, Nhẫn đem cả lực lượng hùng hậu đến bắt heo nhà bà, cả làng khiếp sợ không ai dám tiếp cứu:Lân la bốn chục theo ràyThẳng đường xuống xóm chật đầy đường quan

    Trong tay bà chỉ có cây roi ngắn nhưng với lòng can đảm và tự tin, bà xông ra cự địch với một đảng cướp mạnh khét tiếng trong vùng:Mụ Mân độ khoảng bốn haiLàu thông võ nghệ ít ai sánh bìThình lình chưa biết việc chiTiện tay mụ với tức thì đoản cônBước ra thấy rõ thiệt hơnMụ không thèm hỏi huơ côn đánh liền.

    Ai cũng tưởng phen này bà Mân bị nát thây vì hai tên Hồ, Nhẫn không những võ nghệ phi thường mà còn hung bạo chưa từng có. Nhưng không may cho chúng, thế võ của bà sâu hiểm vô cùng, áp đảo được ngay đối thủ:Cả ba vùng vẫy đua tranhMụ Mân quả thực liệt oanh ai tày

    Chỉ mới so tài ở hiệp đầu mà bọn cướp đã bị ngọn roi thần của bà cuốn người như bão táp, chúng phải đổi từ thế công sang thế thủ rồi tìm đường tháo lui:Phút thôi Hồ, Nhẫn cả haiĐuối tay kéo chạy như bay khác nào!

    Võ cổ truyền – Lịch sử Võ thuật Bình Định

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Ai về Bình Ðịnh quê tôi,
    Trước xem hát bội, nhì coi đi quyền.
    Cứ mỗi lần nói đến miền đất võ thì những câu ca dao trên chợt đến trong trí và một niềm xúc cảm dâng tràn...
    Bình Ðịnh là đâu mà phụ nữ cũng có thể đi quyền và đánh roi? Mời người Bình Ðịnh và nhất là người chưa biết Bình Ðịnh cùng về thăm một tỉnh miền trung với những áng văn thơ trác tuyệt và một vùng võ thuật kiêu hùng.

    Bình Ðịnh là một tỉnh ngày xưa tương đối trù phú, có diện tích chừng chín ngàn cây số vuông, thuộc miền trung Việt Nam, nằm dọc theo quốc lộ số 1; bắc giáp Quảng Ngãi, nam giáp Phú Yên, Phú Bổn, phía tây là vùng cao nguyên Kontum, Pleiku và mặt đông nhìn ra biển Nam Hải thuộc Thái Bình Dương.
    Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến miền Trung với nhiều rặng núi nhỏ đâm ngang ra biển. Trong đó Bình Ðịnh là một vùng núi non trùng điệp, địa thế hiểm trở, những rặng núi con của Trường Sơn thoai thoải về phía đông tạo địa thế Bình Ðịnh như một chiếc ngai vàng, tựa lưng vào núi, xoay mặt ra đầm Thị Nại. Theo truyền thuyết và phong thủy đây là vùng địa linh nhân kiệt. Thực hư chưa rõ đúng hay sai, nhưng sự thật vùng đất này đã sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt như Võ văn Dũng, Trần quang Diệu, Bùi thị Xuân, Mai xuân Thưởng, Tăng bạt Hổ... và nhất là Tây Sơn Tam Kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, trong đó Hồ Thơm - Nguyễn Huệ tức Quang Trung Hoàng Ðế, một đại anh hùng dân tộc, người đã chỉ huy toàn quân dân Việt đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh, đập tan mộng xâm lăng của đại cường quốc Mãn Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789.
    Nguyên đất Bình Ðịnh xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Năm 137 một thổ dân là Khu Liên chiếm đất này và tự xưng là Lâm Ấp Vương.
    Năm 982, vua Chiêm là Xá Lợi Ðà bị vua Lê Ðại Hành đánh bại ở Quảng Nam, chạy vào tiến chiếm đất này lập kinh đô Ðồ Bàn. Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh bại quân Chiêm, chiếm thành Ðồ Bàn đổi thành phủ Hoài Nhơn. Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn đổi Hoài Nhơn thành Qui Nhơn (1605). Ðến chúa Nguyễn Phúc Tấn đổi thành Qui Ninh (1651), nhưng sang chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên Qui Nhơn (1741).
    Năm 1771, ba vị anh hùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi nghĩa đánh chúa Nguyễn, năm năm sau (1776) Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Qui Nhơn làm kinh đô, sửa sang thành Ðồ Bàn làm Hoàng Ðế thành.
    Sau khi vua Quang Trung băng hà, lực lượng nhà Tây Sơn càng ngày càng yếu, trong khi đó, Nguyễn Ánh lại được người Pháp giúp đỡ. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm phủ Qui Nhơn và đổi tên thành phủ Bình Ðịnh. Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long, chỉnh đốn việc cai trị, đổi phủ Bình Ðịnh thành trấn Bình Ðịnh (1810).
    Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhà vua theo lối tổ chức của Thanh triều bên Trung Hoa, đổi trấn thành tỉnh, Bình Ðịnh trấn thành Bình Ðịnh tỉnh từ đấy (Xem bản đồ tỉnh Bình Ðịnh).
    Chúng ta hãy lắng nghe người học trò đa tình Bình Ðịnh ra Huế thi và rủ rê cô gái đất thần kinh:
    Mải vui Hương thủy Ngự Bình
    Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô.
    Chẳng lịch bằng kinh đô
    Bình Ðịnh không đồng khô cỏ cháy
    Năm dòng sông chảy,
    Sáu dãy non cao
    Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh.
    Những câu thơ của người học trò tự thuở xa xưa đã mô tả một vùng đất Bình Ðịnh hữu tình với những dòng sông, những dãy núi cao, tháp Chàm cổ, khiến chúng ta liên tưởng đến Hầm Hô, Ðồ Bàn, đầm Thị Nại. . . Ðầm này rất rộng do bán đảo Phương Mai bao bọc bên ngoài với hai cửa Cát Thử và Qui Nhơn. Từ xưa, thế kỷ 17 đã là cửa ngõ giao thương với các tỉnh trong nước cũng như nước ngoài và còn là một vị trí chiến lược, chiến thuật hiểm yếu. Bình Ðịnh là một tỉnh có đầy đủ nông lâm thủy sản . Ðặc sản có yến sào Qui Nhơn, trầm hương Bình Khê, nón ngựa Gò Găng, bột đậu xanh, bún Song thằng An Thái, nước mắm Gò Bồi, xoài tượng Phù Cát cùng nước dừa Bồng Sơn, Tam Quan ngọt ngào, tươi mát.
    Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
    Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
    Muốn ăn quít, ăn hồng,
    Theo cha mày mà về ngoài đó, (Thanh Nghệ)
    Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
    Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
    Thì theo tao, ở mãi trong này. (là Bình Ðịnh)
    Võ cổ truyền – Lịch sử Võ thuật Bình Định
    Đặc điểm
    1. Đặc điểm đầu tiên lớn nhất của võ thuật Bình Định là sự đa dạng. Đa dạng về những dòng võ ngay trên đất Bình Định và đa dạng về sự khác biệt trong kỹ thuật giữa các hệ phái mang tên Bình Định hoặc Tây Sơn trên toàn quốc.
    Tuy nhiên, sự đa dạng đó lại đặt trên cơ sở một số đặc điểm chung hầu hết các dòng võ ở Bình Định đều có. Chẳng hạn như một số bài bản được mặc nhiên coi là võ Bình Định như Ngọc trản ngân đài, Siêu Bát Quái, Roi Tấn Nhứt, Roi Ngũ Môn. Mặc dù đây chính là các bài bản của Võ Ta hay còn gọi là Võ Kinh, một môn võ của Đàng Trong và từng được dùng cho huấn luyện trong quân đội và thi võ cử trong thời nhà Nguyễn.
    Các câu vè có liên quan đến yếu quyết của võ thuật được lưu truyền ở Bình Định cũng là những câu vè của Võ Ta. Ví dụ: “Roi tiên quyền tiếp” (Xem Đấu Roi), “Song thủ ngũ hành vi bản. Lưỡng túc bát bộ vi căn”… Một câu vè khác nói lên sự thống nhất và liên đới giữa hai môn (Võ Kinh và võ thuật Bình Định) là “Roi Kinh quyền Bình Định”. Những kỹ thuật này không chỉ có riêng ở Võ Kinh và võ thuật Bình Định. Nó còn tồn tại ở các dòng võ ở các miền khác, chẳng hạn võ Tân Khánh Bà Trà ở Bình Dương – Đông Nam Bộ.
    Ngoài những kỹ thuật được coi là võ Ta nói trên, mỗi dòng võ đều chứa những đặc điểm riêng của mình. Đặc biệt nhất là những kỹ thuật thừa hưởng của nhà Tây Sơn. Ví dụ: Bài Hùng Kê quyền vốn được coi là của Nguyễn Lữ, bài quyền Yến Phi (thảo pháp Én bay) vốn được coi là của Nguyễn Huệ, các kỹ thuật về trống trận Tây Sơn… Mặc dù những kỹ thuật này không phổ biến bằng các kỹ thuật của Võ Ta, nhưng đây là điểm đặc sắc của riêng vùng đất Bình Định mà các vùng khác không hề có.
    Đặc biệt, trong thời gian gần đây có sự xuất hiện ra công chúng dòng võ chùa Long Phước. Theo trang web Võ Cổ Truyền, nhà sư Vạn Thanh (tên thật là Nguyễn Đông Hải) vốn là truyền nhân đời thứ 13 của môn phái Long Hổ Không hồng. Cũng theo trang web nói trên, kỹ thuật của môn võ này bao gồm trong “Phổ Đại Nam triều chi tướng thao” do tướng Tây Sơn Nguyễn Trung Như (Hư Linh Ẩn) truyền lại. Tập sách này gồm 2 bộ:
    “Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp” do Hư Minh, tổ của môn phái Long Hổ Không hồng ghi lại các bài bản từ thời nhà Lê trở về trước.
    “Tây Sơn danh tướng mộ hùng thao” do Nguyễn Trung Như ghi lại các bài bản võ thuật của thời Tây Sơn.
    Mức độ trung thực về mặt lịch sử của các tài liệu này rất cần được sự quan tâm nghiên cứu công phu của các nhà sử học.

    Vì có sự tương đồng về mặt văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, có một số dòng võ hoặc hệ phái tuyên bố có nguồn gốc từ Trung Quốc cũng lấy danh xưng võ Bình Định. Chẳng hạn như trường hợp của phái võ Bình Định gia tại Hà Nội, dòng Bình Định An Thái của võ sư Diệp Trường Phát. Việc công nhận hay công nhận danh xưng “Võ Bình Định” của các hệ phái này một thời từng là một đề tài tranh luận khá sôi nổi trong giới võ.
    Ngoài ra, ở vùng đất này cũng đã và đang có sự phổ biến của nhiều môn võ hiện đại trong và ngoài nước khác nhau. Đất Bình Định cũng đã từng rất nổi tiếng trong “làng đấm” (quyền Anh). Tuy nhiên, vì có sự rạch ròi trong ngôn ngữ sử dụng lẫn trong sự phân chia môn phái võ thuật hoặc bộ môn thể thao thi đấu nên chưa bao giờ các môn võ này được gọi với danh xưng “Võ Bình Định“.
    2. Về khía cạnh võ thuật, võ cổ truyền Bình Định thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu, giữa bên trong (tinh, khí, thần) với bên ngoài cơ thể (thủ, nhãn, chỉ và thân). Về võ lý, võ cổ truyền Bình Định vận dụng triệt để học thuyết âm – dương, lấy phép ngũ hành và phép bát quái làm nguyên lý cơ bản của “Song thủ ngũ hành vi bản”, “Lưỡng túc bát bộ vi căn” là cơ sở võ lý cho luyện tập bộ tay và bộ chân trong võ cổ truyền Bình Định: Tấn pháp trong bát quái và Thủ pháp trong Ngũ hành, có sự phối hợp cả hai phương diện ngoại công và nội công.
    3. Về khía cạnh đạo đức, ngoài những đức tính mà con người đề cao trong rèn luyện đạo đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đạo đức của người luyện õ còn thể hiện ở các mặt truyền thống: thượng võ, chống ngoại xâm; uống nước nhớ nguồn; trọng nhân nghĩa…
    4. Về nội dung, võ cổ truyền Bình Định vô cùng phong phú, đa dạng nhưng tựu trung có 4 nội dung cơ bản là: luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần. Quyền còn gọi là thảo bộ hay quyền tay không, bao gồm Cương quyền và Nhu quyền. Võ tay không chia thành 4 nhóm: Võ thể dục, võ tự vệ, võ tỷ thí và võ chiến đấu. Binh khí được dùng trong võ cổ truyền Bình Định bao gồm binh khí dài và binh khí ngắn. Loại binh khí rất cơ bản được lưu hành khá phổ biến ở Bình Định là côn (tiếng địa phương gọi là roi) (Xem Đấu Roi)với nhiều “phách roi” độc đáo chỉ có ở võ cổ truyền Bình Định: “Đâm so đũa”, “Đá văn roi”, “Phá vây”, “Roi đánh nghịch”… Nói về tận dụng vũ khí thô sơ chống giặc, Bình Định có “Bài kiếm 12″ nổi tiếng gồm 12 động tác được rút tỉa trong nhiều bài kiếm tiêu biểu của Bình Định để hình thành một cách ngắn gọn, dễ tập, dễ nhớ, được đưa vào luyện tập và thực hành chiến đấu đạt hiệu quả cao trong các lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở địa phương.
    Trong các bộ môn về quyền thuật, “Ngọc Trản” là bài quyền tiêu biểu của võ cổ truyền Bình Định, trải qua thời gian, nó vẫn sáng chói như một “chén ngọc” với những bí quyết võ công vô giá. Để thực hành được một cách nhuần nhuyễn, phải tính đến công sức luyện tập cả về thể chất và ý thức nhằm tạo được sự thống nhất thành một ý niệm duy nhất, như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó chính là bí quyết khổ luyện của lối quyền âm – dương trong Ngọc Trản công.
    Nguồn gốc

    Như đã trình bày, kỹ thuật phổ biến nhất trong võ thuật Bình Định là võ Ta, tức võ thuật của triều Nguyễn phổ biến ở Đàng Trong [cần dẫn nguồn]. Còn võ Ta thực sự được truyền vào và phổ biến ở vùng này từ thời nào lại là điều rất cần được nghiên cứu về mặt lịch sử.

    Sự ảnh hưởng của võ học thời Tây Sơn chỉ gói gọn trong một vài dòng võ và trong một vài bài bản riêng biệt không phổ biến, không nên xem võ thuật của Tây Sơn là nguồn gốc của tất cả các dòng phái võ thuật Bình Định.

    Mặc dù rất nhiều người học võ thuật Bình Định từng thọ giáo các danh sư có gốc từ Trung Quốc như Khách Bút, hoặc Tàu Sáu (Diệp Trường Phát). Tuy nhiên, những bài bản võ thuật phổ biến ở Bình Định không hề có trong các bài bản của võ thuật Trung Quốc kể cả danh từ lẫn kỹ thuật. Vì vậy, việc phát biểu của một số võ sư học võ Trung Quốc như “Võ Bình Định là võ Thiếu Lâm” hoặc “Võ Bình Định bắt nguồn từ võ Thiếu Lâm” (như ông Diệp Trường Phát đã từng phát biểu theo lời trích dẫn của Quách Trường Xuyên trong quyển “Võ Nhân Bình Định“) là không hề có cơ sở. [cần dẫn nguồn]
    Các dòng võ Bình Định

    Dòng họ Trương (xã Phù Mỹ, huyện Mỹ Hiệp): Ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường từ xứ Thanh Hà, Hải Dương vào khai sơn phá thạch ở vùng đất Tú Dương (thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, Bình Định) vào đầu thế kỷ 17 (khoảng năm 1605). Sau đó dồn đến định cư ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, Phù Mỹ, Bình Định cho đến ngày nay. Theo gia phả của dòng tộc để lại, dòng họ này có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ trong thời nhà Nguyễn và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ. Trong số đó có ông cử nhân võ Trương Trạch, thầy dạy của võ sư Trương Thanh Đăng, người sang lập ra võ đường Sa Long Cương ở Sài Gòn.

    Dòng họ Đinh (thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn): Ông Thủy tổ của dòng họ Đinh là Đinh Viết Hòe, sinh năm 1710 từ đất Ninh Bình phiêu bạt vào sinh cơ lập nghiệp tại ấp Thời Đôn (nay thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định) vào khoảng năm 1730 và lấy thêm vợ thứ (ông Hòe đã có vợ ở quê nhà) là bà Nguyễn Thị Quyền, sinh năm 1715 và sinh được 3 người con Đinh Văn Diệm, Đinh Văn Nhưng, Đinh Văn Triêm. Đinh Văn Nhưng (còn gọi là Ông Chảng) chính là thầy dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Hiện nay dòng họ này đã đổi sang họ Đào (sinh Đào tử Đinh) và tất cả các tài liệu, hiện vật đều bị tiêu huỷ sau khi phong trào Tây Sơn thất bại. Tài liệu duy nhất của dòng họ này truyền lại đến nay được biết là một tập tư liệu cổ do võ sư Phan Thọ cung cấp trong đó có ký tên Đào Thống.

    Dòng họ Trần (thôn Trường Định, xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn): là võ sư Trần Kim Hùng có nguồn gốc từ xứ Nghệ An, người dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Sau này, trong “Tây Sơn ngũ phụng thư” có Trần Thị Lan, bà Lan được ông nội là võ sư Trần Kim Hùng truyền dạy võ nghệ, bà có biệt tài về kiếm thuật và luyện thân lanh lẹ như chim én, nên tự hiệu là Ngọc Yến. Người chị của Trần Thị Lan là Trần Thị Huệ, vợ của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc.

    Roi Thuận Truyền(Xem Đấu roi) (thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn): “Roi Thuận Truyền” trước xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng đến đời ông Ba Ðề thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ Nhu là tên thật của Hồ Ngạnh, sinh năm 1891, mất năm 1976. Ông nguyên quán thôn Háo Ngãi, xã Bình An, huyện Tây Sơn, trú quán ở Thuận Truyền, xã Bình Thuận cùng huyện. Cha là ông Ðốc Năm, một võ quan của triều Nguyễn. Mẹ cũng là con nhà võ. Ngay từ lúc bé, ông đã được cha mẹ dạy võ gia truyền. Lớn lên, ông học roi của cao sư Ba Ðề, học nội công của ông Ðội Sẻ, tiếp đến học roi của ông Hồ Khiêm. Ðường roi kết hợp tinh hoa của nhiều thầy, lại thêm nội công nên cứng cáp và sâu hiểm vô cùng. Từ roi thế, roi đấu, roi chiến đến roi trận, ông đều tinh thông và độc đáo. Khoảng năm 1932, tiếng tăm ông đã vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú. Nghe danh, học trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết sớm, ông truyền nghề cho cháu nội là ông Hồ Sừng. Học trò lớp lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường Úc, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước được riêng dạy ngón võ bí truyền. Học trò lớp sau có Ðinh Văn Tuấn ở Qui Nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ vang cho làng võ Thuận Truyền. Hồ Ngạnh được gọi là “võ sư huyền thoại”.

    Quyền An Vinh (xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn): “Quyền An Vinh” có từ lâu, nhưng cũng chỉ biết từ đời ông Hương Mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa, cũng là bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi. Hương Mục Ngạc học quyền Bình Định (cô tổ của ông vốn là thầy dạy võ của nữ tướng Bùi Thị Xuân) rồi học thêm quyền Tàu của ông Khách Bút. Ông nổi tiếng nhờ tổng hợp được nhiều nguồn võ khác nhau, tạo nên tay quyền xuất sắc nhất trong làng võ thuật Bình Định đương thời. ông có ba người con: Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác đều tinh thông võ nghệ. Ông dạy nhiều học trò, có người nổi tiếng như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc về võ thuật mà còn gan dạ và có sức mạnh đáng kể, với tay không có thể vật ngã một con trâu đực đang sung sức. Bảy Lụt truyền nghề cho ông Phan Thọ. Sau này ông Phan Thọ còn học thêm võ trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp thu được cả tinh hoa quyền An Vinh từ mạch võ Hương Mục Ngạc lẫn võ chiến của Tây Sơn[cần dẫn nguồn].

    Quyền An Thái (xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn): An Thái vốn có những dòng võ truyền thống nổi tiếng nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng võ Bình định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái nói riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu. Người sáng lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát , sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người Tàu nhưng dòng dõi ba đời đều ở An thái, bà nội và mẹ ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia đình và bản thân Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi được 13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những cao sư Bắc phái Thiếu Lâm. Sau 15 năm ròng rã tầm sư học võ, ông Tàu Sáu lúc bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An Thái, mở trường dạy quyền Tàu, sở trường hai môn Hổ quyền và Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn đệ rất đông, không bao lâu phái quyền Tàu Thiếu Lâm của ông đã rải khắp miền đất võ và riêng ở An Thái, võ quyền truyền thống đã bị quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì thế sửa lại câu truyền tụng từ xưa ra “roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. [cần dẫn nguồn]

    Dân Bình Định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì xuất thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có người chỉ để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được cứng cáp thêm như Mười Mỹ. Sau này con của ông, võ sư Diệp Bảo Sanh viết quyển “Võ thuật Bình Định chân truyền” trong đó gọi ông là tổ sư của võ phái An Thái. Võ thuật phái An Thái được truyền vào Sài Gòn với tên gọi Bình Thái Đạo. Ngày nay môn phái này có chưởng môn là bà Diệp Lệ Bích (cháu nội của ông Diệp Trường Phát).
    Trường võ cử Bình Định

    Mặc dù sau khi dẹp được khởi nghĩa Tây Sơn, triều đình nhà Nguyễn đã có sự cấm đoán việc luyện võ cũng như việc sử dụng các loại binh khí sắc bén. Tuy nhiên, việc này chỉ diễn ra trong vòng vài chục năm. Sau đó để tận dụng nhân tài của miền đất võ trong việc chống Pháp, trường võ cử (thi Hương) Bình Định đã được mở lại.
    Trong tục ngữ ca dao

    Võ Bình định luôn luôn gắn liền với tên đất, tên người ở đây.Roi Kinh, Quyền Bình Định.Roi Thuận Truyền, Quyền An Vinh.Trai An Thái, Gái An Vinh.

    hoặcTiếng đồn An thái, Bình khêNhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo

    hoặcDư Ðành sức mạnh quá trâuVùng lên đánh ngã cả xâu triều đình

    Nổi tiếng nhất là câu ca dao sau:Ai về Bình định mà coiĐàn bà cũng biết múa roi, đi quyền

    Tuy nhiên, đôi lúc cũng có những cô gái học võ không chỉ để phòng thân mà muốn phát huy cái đẹp của võ truyền thống như trường hợp Thanh Tùng, hoặc còn đi xa hơn, thi thố với đời, trở thành cao thủ trong làng võ. Điển hình có bà Mân sống vào thời chúa Nguyễn, cô Quyền vào giữa thế kỷ 19 và sang đầu thế kỷ 20 lại có Tám Cảng.

    Bà Mân chưa phải là nhân vật lịch sử nhưng với tài võ nghệ, bà được dân Bình Định ca tụng qua bài vè Chú Lía dài 1434 câu thơ lục bát và được lưu truyền khắp các tỉnh miền Nam Trung phần.

    Theo bài vè, bà Mân ở gần vùng Truông Mây, nơi sào huyệt của một đảng cướp lớn do cha Hồ chú Nhẫn và sau có thêm chú Lía cầm đầu, nay thuộc xã Ân Đức huyện Hoài Ân. Một hôm hai tên Hồ, Nhẫn đem cả lực lượng hùng hậu đến bắt heo nhà bà, cả làng khiếp sợ không ai dám tiếp cứu:Lân la bốn chục theo ràyThẳng đường xuống xóm chật đầy đường quan

    Trong tay bà chỉ có cây roi ngắn nhưng với lòng can đảm và tự tin, bà xông ra cự địch với một đảng cướp mạnh khét tiếng trong vùng:Mụ Mân độ khoảng bốn haiLàu thông võ nghệ ít ai sánh bìThình lình chưa biết việc chiTiện tay mụ với tức thì đoản cônBước ra thấy rõ thiệt hơnMụ không thèm hỏi huơ côn đánh liền.

    Ai cũng tưởng phen này bà Mân bị nát thây vì hai tên Hồ, Nhẫn không những võ nghệ phi thường mà còn hung bạo chưa từng có. Nhưng không may cho chúng, thế võ của bà sâu hiểm vô cùng, áp đảo được ngay đối thủ:Cả ba vùng vẫy đua tranhMụ Mân quả thực liệt oanh ai tày

    Chỉ mới so tài ở hiệp đầu mà bọn cướp đã bị ngọn roi thần của bà cuốn người như bão táp, chúng phải đổi từ thế công sang thế thủ rồi tìm đường tháo lui:Phút thôi Hồ, Nhẫn cả haiĐuối tay kéo chạy như bay khác nào!

    Nhiều bạn vẫn thường nhịn đói trước khi tập thể dục, võ thuật hoặc thể thao vì những lý do hết sức đơn giản như là không có thời gian, ăn xong rồi lại làm biếng tập hoặc ăn xong sẽ khiến cảm giác buồn ngủ xuất hiện.v.v. Vô vàn lý do biện minh lý do không ăn trước khi tập được rất nhiều người tập từ trẻ đến người lớn tuổi đưa ra. Họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc ăn trước khi tập .

    Thực phẩm cần tránh
    Ngoài những dinh dưỡng bổ ích cho người tập luyện boxing, bạn cũng cần chú ý hạn chế những thực phẩm sau:
    Thức ăn chiên.
    Các loại thực phẩm có đường cao (sôcôla, kẹo, nước giải khát và bánh ngọt).
    Chất béo bão hòa.
    Đồ ăn nhanh.
    Thức ăn chế biến sẵn.
    Bạn không nên hạn chế mình hoàn toàn với một số loại thực phẩm nhất định. Nhưng hãy thận trọng hơn trong cách ăn của bạn. Đặc biệt nếu bạn nghiêm túc về các bài tập boxing. Rượu, bia cũng phải được tránh bằng mọi giá. Nếu bạn đang hướng tới mục tiêu trở thành một võ sĩ chuyên nghiệp. Hay luyện tập để đạt kết quả tốt nhất cho sức khỏe và ngoại hình.

    Dùng thức ăn trước khi tập luyện rất quan trọng, nó đem lại sự thoải mái và hiệu suất trong khi tập thể dục cho người tập. Dùng thức ăn trước khi tập thể dục sẽ giúp ngăn chặn các triệu chứng mất tập trung do đói trong quá trình tập và giữ cho bạn khỏi làm suy giảm năng lượng của bạn quá nhanh.

    Việc bạn quyết định sẽ ăn gì trước buổi tập thường phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu và sở thích, nhưng việc ăn gì nên được thiết kế theo cường độ và loại hình tập luyện bạn để phát huy tối đa hiệu quả. Và dưới đây là những sai lầm về vấn đề dùng thức ăn trước khi tập:

    Tập thể dục với dạ dày no

    Tập thể dục với dạ dày no không phải là lý tưởng. Khi bao tử đầy thức ăn, máu sẽ di chuyển tới các cơ quan tiêu hóa để trợ lực. Do đó nếu luyện tập khi đang no, máu sẽ chuyển từ các cơ quan tiêu hóa sang những cơ bắp đang luyện tập gây cản trở cho việc tiêu hóa. Ngoài ra, thực phẩm vẫn còn trong dạ dày của bạn trong quá trình tập luyện có thể gây ra đau bụng, buồn nôn, chuột rút.



    Lời khuyên cho bạn: Để chắc chắn rằng bạn có đủ năng lượng, giảm sự khó chịu trong dạ dày, bạn nên dùng một bữa ăn, bạn không cần dùng một bữa ăn đủ dinh dưỡng, bạn có thể ăn một chút đồ ăn nhẹ có nhiều protein và carbohydrate trước 30 phút đến 45 phút để tiêu hóa hết trước thức ăn trước khi bắt đầu tập luyện. Nếu bạn là người bận rộn, trước khi tập, bạn có thể ăn hoặc uống những loại thức ăn hoặc đồ uống lỏng, những loại này rất dễ tiêu hóa, khoảng từ 15 đến 30 phút. Mọi người đều có một chút khác nhau về vấn đề tiêu hóa, bạn nên thử nghiệm hoặc hỏi ý kiến bác sĩ để xác định được thời gian tốt nhất cho bạn.

    Dùng nhiều thức ăn nhiều chất béo và chất xơ

    Việc bạn dùng các thức ăn nhiều chất béo như những món chiên, xào.v.v. và dùng thức ăn nhiều chất xơ như: rau, giá, hẹ.. Các loại thực phẩm này sẽ làm chậm quá trình tiêu hóa, gây khó chịu, đầy hơi và còn trong dạ dày một thời gian dài. Bên cạnh đó, các chất này có thể gây ra chuột rút cho bạn.

    Lời khuyên cho bạn: Bạn có thể dùng một miếng bánh mì kết hợp với chút bơ đậu phộng sẽ giúp tiếp thêm sinh lực cho cơ thể, đặc biệt bạn sẽ không phải lo ngại về việc tăng cân. Dùng bánh mì sẽ cung cấp cho bạn nguồn năng lượng trong vòng một giờ tập luyện, nếu bạn muốn tập luyện nhiều thời gian hơn, bạn sẽ phải chọn một bữa ăn đủ protein hoặc bạn có thể kết hợp việc dùng bánh mì với dùng chuối. Một quả chuối có chứa các carbohydrate phức hợp, giúp kéo dài năng lượng cơ thể của bạn hơn.



    Dùng café

    Người châu Á nói chung và người Việt Nam ta nói riêng thường có thói quen dùng café trong các bữa ăn. Uống một ly café vào buổi sáng mỗi khi thức dậy để chuẩn bị cho một buổi tập thể dục sẽ giúp bạn cảm thấy tỉnh táo, thoái mái. Tuy nhiên, với các nghiên cứu của các nhà khoa học, việc dùng café cùng với bữa ăn trước khi tập thể dục là điều nên tránh. Chất caffeine có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng cho một số người. Những người rất nhạy cảm với những ảnh hưởng của nó có thể bị buồn nôn, run cơ và đau đầu. Caffeine là một chất lợi tiểu, và có thể dẫn đến mất nước, làm giảm hiệu suất tập luyện.

    Lời khuyên cho bạn: Thay vì dùng café, bạn có thể dùng một ít trái cây tươi như táo, dưa hấu, đào, nho, hoặc cam và một hộp sữa chua, xay nhuyễn tất cả nguyên liệu. Sinh tố sữa chua trái cây là bữa ăn nhẹ và mát mà bạn có thể uống khoảng 15 đến 30 phút trước khi tập thể dục. Sữa chua có chứa protein, trong khi trái cây sẽ cung cấp cho cơ thể bạn một nguồn năng lượng mới, khi cả hai kết hợp sẽ duy trì sự hưng phấn và ổn định lượng đường trong quá trình luyện tập của bạn.

    Bên cạnh việc dùng sinh tố trái cây, bạn có thể dùng nước tinh khiết. Uống nước trước khi tập là điều quan trọng nhất trong quá trình tập. Nước chiếm tới 70% trọng lượng của cơ thể. Phần lớn mọi người thường mắc sai lầm là chỉ uống nước sau khi tập thể thao mà quên rằng chúng ta cũng cần uống nước trước khi tập. Nửa lít nước trước khi tập là phù hợp. Quá trình đốt cháy năng lượng rất cần nước để tránh căng cơ, bong gân. Nếu có thể, bạn thêm chút nước chanh thì việc hấp thụ nước vào cơ thể sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta không nên uống những loại nước pha sẵn như soda hay nước ngọt, đặc biệt là bia rượu trước khi luyện tập.



    Về cơ bản, đây là những chú ý nho nhỏ cần biết trước khi luyện tập. Tất nhiên rằng chúng chỉ mang tính khái quát, còn tùy vào các loại hình thể thao, bạn sẽ có những cách ăn uống và các loại thức ăn khác nhau. Cấp độ luyện tập thể thao càng cao chế độ ăn uống càng phải mang đặc thù riêng cho phù hợp. Điều quan trọng nữa bạn phải cẩn thận lựa chọn những đồ ăn chất lượng đảm bảo, tươi ngon nhất để chuẩn bị cho một buổi tập đầy hiệu quả.

    Có thể bạn chưa biết

    Theo khuyến cáo của Học viện Y học Thể thao Mỹ dành cho mọi người trên thế giới, mọi người cần uống trên 500ml nước (2-3 ly) 1-2 giờ trước buổi tập; uống 200ml đến 300ml (1-2 ly) trước buổi tập 10 đến 20 phút. Trong khi tập, cứ 15-20 phút lại uống khoảng 150 ml đến 300ml ( 1-2 ly) để bù lại lượng mồ hôi bị mất. Nếu thời gian tập kéo dài hơn 90 phút, bạn nên uống 250 ml đến 300 ml (1-2 ly) bạn nên dùng nước có thêm đường và muối nhưng chứa không quá 30g đường trong 250ml) mỗi 10 – 15 phút. Sau buổi tập, nên cân lại, cứ sút nửa kg thì uống bù 2 ly nước; sụt 1kg thì uống 1250ml đến 1500ml (6-8 ly); sút 2 kg uống từ 2500ml đến 3000ml (12 đến 15 ly).

    Theo Khám phá võ thuật

    Tập luyện võ thuật có nên ăn bánh ngọt hay các đồ ăn nhanh không

    Posted at  tháng 7 29, 2019  |  in  Chia-sẻ  |  Read More»

    Nhiều bạn vẫn thường nhịn đói trước khi tập thể dục, võ thuật hoặc thể thao vì những lý do hết sức đơn giản như là không có thời gian, ăn xong rồi lại làm biếng tập hoặc ăn xong sẽ khiến cảm giác buồn ngủ xuất hiện.v.v. Vô vàn lý do biện minh lý do không ăn trước khi tập được rất nhiều người tập từ trẻ đến người lớn tuổi đưa ra. Họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc ăn trước khi tập .

    Thực phẩm cần tránh
    Ngoài những dinh dưỡng bổ ích cho người tập luyện boxing, bạn cũng cần chú ý hạn chế những thực phẩm sau:
    Thức ăn chiên.
    Các loại thực phẩm có đường cao (sôcôla, kẹo, nước giải khát và bánh ngọt).
    Chất béo bão hòa.
    Đồ ăn nhanh.
    Thức ăn chế biến sẵn.
    Bạn không nên hạn chế mình hoàn toàn với một số loại thực phẩm nhất định. Nhưng hãy thận trọng hơn trong cách ăn của bạn. Đặc biệt nếu bạn nghiêm túc về các bài tập boxing. Rượu, bia cũng phải được tránh bằng mọi giá. Nếu bạn đang hướng tới mục tiêu trở thành một võ sĩ chuyên nghiệp. Hay luyện tập để đạt kết quả tốt nhất cho sức khỏe và ngoại hình.

    Dùng thức ăn trước khi tập luyện rất quan trọng, nó đem lại sự thoải mái và hiệu suất trong khi tập thể dục cho người tập. Dùng thức ăn trước khi tập thể dục sẽ giúp ngăn chặn các triệu chứng mất tập trung do đói trong quá trình tập và giữ cho bạn khỏi làm suy giảm năng lượng của bạn quá nhanh.

    Việc bạn quyết định sẽ ăn gì trước buổi tập thường phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu và sở thích, nhưng việc ăn gì nên được thiết kế theo cường độ và loại hình tập luyện bạn để phát huy tối đa hiệu quả. Và dưới đây là những sai lầm về vấn đề dùng thức ăn trước khi tập:

    Tập thể dục với dạ dày no

    Tập thể dục với dạ dày no không phải là lý tưởng. Khi bao tử đầy thức ăn, máu sẽ di chuyển tới các cơ quan tiêu hóa để trợ lực. Do đó nếu luyện tập khi đang no, máu sẽ chuyển từ các cơ quan tiêu hóa sang những cơ bắp đang luyện tập gây cản trở cho việc tiêu hóa. Ngoài ra, thực phẩm vẫn còn trong dạ dày của bạn trong quá trình tập luyện có thể gây ra đau bụng, buồn nôn, chuột rút.



    Lời khuyên cho bạn: Để chắc chắn rằng bạn có đủ năng lượng, giảm sự khó chịu trong dạ dày, bạn nên dùng một bữa ăn, bạn không cần dùng một bữa ăn đủ dinh dưỡng, bạn có thể ăn một chút đồ ăn nhẹ có nhiều protein và carbohydrate trước 30 phút đến 45 phút để tiêu hóa hết trước thức ăn trước khi bắt đầu tập luyện. Nếu bạn là người bận rộn, trước khi tập, bạn có thể ăn hoặc uống những loại thức ăn hoặc đồ uống lỏng, những loại này rất dễ tiêu hóa, khoảng từ 15 đến 30 phút. Mọi người đều có một chút khác nhau về vấn đề tiêu hóa, bạn nên thử nghiệm hoặc hỏi ý kiến bác sĩ để xác định được thời gian tốt nhất cho bạn.

    Dùng nhiều thức ăn nhiều chất béo và chất xơ

    Việc bạn dùng các thức ăn nhiều chất béo như những món chiên, xào.v.v. và dùng thức ăn nhiều chất xơ như: rau, giá, hẹ.. Các loại thực phẩm này sẽ làm chậm quá trình tiêu hóa, gây khó chịu, đầy hơi và còn trong dạ dày một thời gian dài. Bên cạnh đó, các chất này có thể gây ra chuột rút cho bạn.

    Lời khuyên cho bạn: Bạn có thể dùng một miếng bánh mì kết hợp với chút bơ đậu phộng sẽ giúp tiếp thêm sinh lực cho cơ thể, đặc biệt bạn sẽ không phải lo ngại về việc tăng cân. Dùng bánh mì sẽ cung cấp cho bạn nguồn năng lượng trong vòng một giờ tập luyện, nếu bạn muốn tập luyện nhiều thời gian hơn, bạn sẽ phải chọn một bữa ăn đủ protein hoặc bạn có thể kết hợp việc dùng bánh mì với dùng chuối. Một quả chuối có chứa các carbohydrate phức hợp, giúp kéo dài năng lượng cơ thể của bạn hơn.



    Dùng café

    Người châu Á nói chung và người Việt Nam ta nói riêng thường có thói quen dùng café trong các bữa ăn. Uống một ly café vào buổi sáng mỗi khi thức dậy để chuẩn bị cho một buổi tập thể dục sẽ giúp bạn cảm thấy tỉnh táo, thoái mái. Tuy nhiên, với các nghiên cứu của các nhà khoa học, việc dùng café cùng với bữa ăn trước khi tập thể dục là điều nên tránh. Chất caffeine có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng cho một số người. Những người rất nhạy cảm với những ảnh hưởng của nó có thể bị buồn nôn, run cơ và đau đầu. Caffeine là một chất lợi tiểu, và có thể dẫn đến mất nước, làm giảm hiệu suất tập luyện.

    Lời khuyên cho bạn: Thay vì dùng café, bạn có thể dùng một ít trái cây tươi như táo, dưa hấu, đào, nho, hoặc cam và một hộp sữa chua, xay nhuyễn tất cả nguyên liệu. Sinh tố sữa chua trái cây là bữa ăn nhẹ và mát mà bạn có thể uống khoảng 15 đến 30 phút trước khi tập thể dục. Sữa chua có chứa protein, trong khi trái cây sẽ cung cấp cho cơ thể bạn một nguồn năng lượng mới, khi cả hai kết hợp sẽ duy trì sự hưng phấn và ổn định lượng đường trong quá trình luyện tập của bạn.

    Bên cạnh việc dùng sinh tố trái cây, bạn có thể dùng nước tinh khiết. Uống nước trước khi tập là điều quan trọng nhất trong quá trình tập. Nước chiếm tới 70% trọng lượng của cơ thể. Phần lớn mọi người thường mắc sai lầm là chỉ uống nước sau khi tập thể thao mà quên rằng chúng ta cũng cần uống nước trước khi tập. Nửa lít nước trước khi tập là phù hợp. Quá trình đốt cháy năng lượng rất cần nước để tránh căng cơ, bong gân. Nếu có thể, bạn thêm chút nước chanh thì việc hấp thụ nước vào cơ thể sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta không nên uống những loại nước pha sẵn như soda hay nước ngọt, đặc biệt là bia rượu trước khi luyện tập.



    Về cơ bản, đây là những chú ý nho nhỏ cần biết trước khi luyện tập. Tất nhiên rằng chúng chỉ mang tính khái quát, còn tùy vào các loại hình thể thao, bạn sẽ có những cách ăn uống và các loại thức ăn khác nhau. Cấp độ luyện tập thể thao càng cao chế độ ăn uống càng phải mang đặc thù riêng cho phù hợp. Điều quan trọng nữa bạn phải cẩn thận lựa chọn những đồ ăn chất lượng đảm bảo, tươi ngon nhất để chuẩn bị cho một buổi tập đầy hiệu quả.

    Có thể bạn chưa biết

    Theo khuyến cáo của Học viện Y học Thể thao Mỹ dành cho mọi người trên thế giới, mọi người cần uống trên 500ml nước (2-3 ly) 1-2 giờ trước buổi tập; uống 200ml đến 300ml (1-2 ly) trước buổi tập 10 đến 20 phút. Trong khi tập, cứ 15-20 phút lại uống khoảng 150 ml đến 300ml ( 1-2 ly) để bù lại lượng mồ hôi bị mất. Nếu thời gian tập kéo dài hơn 90 phút, bạn nên uống 250 ml đến 300 ml (1-2 ly) bạn nên dùng nước có thêm đường và muối nhưng chứa không quá 30g đường trong 250ml) mỗi 10 – 15 phút. Sau buổi tập, nên cân lại, cứ sút nửa kg thì uống bù 2 ly nước; sụt 1kg thì uống 1250ml đến 1500ml (6-8 ly); sút 2 kg uống từ 2500ml đến 3000ml (12 đến 15 ly).

    Theo Khám phá võ thuật

    Cội nguồn võ thuật

    Con người nguyên thủy từ thời Cổ Ðại, sinh sống dựa trên thu lượm, nhặt hái các thức ăn có sẳn ở thiên nhiên và săn bắt thú rừng là chủ yếu. Những động tác, cách thức rình rập, rượt đuổi đánh giết dần trở thành quen thuộc hàng ngày.
    Võ cổ truyền Việt Nam

    Tiếp đến là những trường hợp phải xữ trí trong quan hệ giữa người và vật trong săn bắn, giữa người và người để tự vệ, để chiến đấu gìn giử các vật thực do thành quả lao động, hoặc quyền sở hữu miếng đất, khoảnh rừng đang sinh sống. Tất cả các động tác, các cách thế đó, từ đơn giản đến phức tạp, đã là cội nguồn của các đòn thế, bài bản của các trường phái võ thuật trên thế giới.

    Qua quá trình gian khổ dựng nước và giử nước, từ thời khai nguyên dân tộc và kháng chiến chống quân xâm lược, giử yên bờ cõi, bảo vệ sự toàn vẹn lảnh thổ. Người dân Việt trưởng thành từ vùng đất châu thổ sông Hồng đã tự hình thành, phát triển và đúc kết được những kinh nghiệm quý báu về kỷ thuật chiến đấu cá nhân và những cách thức, sách lược trong vận dụng và huy động lực lượng quân sự vào cuộc chiến đấu tập thể "chiến tranh".
    Võ cổ truyền Việt Nam là di sản văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, ra đời, tồn tại và phát triển song hành cùng cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Võ cổ truyền Việt Nam không chỉ đơn thuần là những bài võ nhằm rèn luyện kỹ năng, thể chất của con người, nâng cao khả năng tự vệ, hướng tới sự hòa hợp về thể chất và tinh thần của con người mà thông qua việc tập luyện Võ cổ truyền Việt Nam còn khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tinh thần thượng võ và tính nhân văn của con người Việt Nam.

    Triết lý Võ thuật cổ truyền Việt Nam


    Văn hóa dân tộc Việt Nam, trong đó có Võ học và Võ đạo, sản sinh trên nền tảng giá trị lịch sử, phong tục tập quán, địa lý và tâm thức dân tộc. Võ học và Võ đạo Việt Nam hình thành lên triết lý sống “Nhân Văn và Thượng Võ”, là kim chỉ nam để dân tộc ta trường tồn và phát triển.

    Võ cổ truyền Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với truyền thống lao động cần cù, tính hiếu học và tinh thần thượng võ của dân tộc trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của Lịch sử, Võ cổ truyền Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức và cách thức khác nhau, được truyền bá và lưu giữ từ đời này qua đời khác trong mỗi gia đình, dòng tộc cũng như các võ đường, lò võ trên các vùng miền của đất nước. Cũng qua những thăng trầm của sự phát triển đó, Võ cổ truyền Việt Nam đã thấm sâu vào máu thịt, vào tư tưởng, vào hành động của mọi người, trở thành một mảng văn hóa tinh thần đầy tự hào của nhiều thế hệ người Việt Nam. Nhân dân ta đã dùng võ để rèn luyện thân thể, nâng cao khả năng tự vệ, tôi luyện ý chí sắt đá và ứng dụng trong các trò chơi, lễ hội để tăng cường sự giao lưu trong cộng đồng.


    Với chủ trương “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế”. Ngành Thể dục thể thao đã quan tâm sưu tầm, nghiên cứu phát triển các trò chơi vận động dân gian, các hoạt động thể thao dân tộc để trở thành các môn thể thao dân tộc trong đó hoạt động Võ cổ truyền Việt Nam được quan tâm ưu tiên phát triển hàng đầu.

    Cùng với tiến trình giao lưu, trao đổi, mở rộng các mỗi quan hệ hợp tác, phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học – kỹ thuật... với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, Võ cổ truyền Việt Nam cũng đã sớm hiện diện ở nhiều nước và vùng lãnh thổ, theo nhiều con đường, thời điểm và lý do khác nhau. Ngoài ra Võ cổ truyền Việt Nam còn “xuất ngoại” thông qua con đường ngoại giao, giao lưu văn hóa, trao đổi hàng hóa, thương phẩm, thăm viếng, du lịch giữa các nhà ngoại giao, nhà truyền giáo, thương nhân, du khách...của các nước với nước ta và nước ta với các nước từ nhiều thế kỷ trước, nhưng sâu rộng và nhanh mạnh hơn cả là kể từ khi người Việt sang học tập, công tác, định cư lâu dài ở nhiều châu lục, trong đó có khá đông các nhà nghiên cứu võ học, hoạt động võ thuật, các võ sư, huấn luyện viên và võ sĩ nổi tiếng qua các thế hệ.

    Đặc biệt, kể từ khi nước ta mở rộng hội nhập, quan hệ hợp tác và phát triển toàn diện với tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài yêu chuộng Võ cổ truyền Việt Nam có cơ hội đến nước ta nghiên cứu, thi đấu, biểu diễn, giao lưu và học tập võ cổ truyền, để rồi sau đó trở về nước mình hoặc đến một số quốc gia khác truyền bá, giảng dạy, phát triển theo tôn chỉ, mục đích riêng của từng môn phái và theo xu hướng “trăm hoa đua nở”.

    Nhà nước ta cũng đã thường xuyên cử các đoàn Võ cổ truyền Việt Nam sang các nước để thắt chặt quan hệ, giao lưu, trao đổi, hợp tác trên lĩnh vực võ thuật và khuyến khích các võ sư, huấn luyện viên cao cấp, võ sĩ trong nước đến nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới để giảng dạy, thi đấu, biểu diễn và truyền bá Võ cổ truyền Việt Nam, góp phần cùng với các thế hệ võ sư, huấn luyện viên, võ sĩ người Việt ở hải ngoài và người nước ngoài đã và đang học tập Võ cổ truyền Việt Nam đồng tâm, hiệp lực, ra sức vun đắp, nâng cao uy thế, tạo nên diện mạo mới, sức sống mới phong phú, đa dạng của Võ cổ truyền Việt Nam trên trường quốc tế. Chính vì thế Võ cổ truyền Việt Nam không chỉ là một môn thể thao đơn thuần mà đã trở thành một bộ phận của nền văn hóa thể chất và là một trong những di sản văn hóa phi vật thể quý báu của Việt Nam.

    Bảo tồn và phát triển Võ cổ truyền Việt Nam là lĩnh vực rộng, có tính xã hội cao, có vị trí quan trọng trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển Thể dục thể thao ở nước ta. Việc Bảo tồn và phát triển Võ cổ truyền Việt Nam là cần thiết và phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với điều kiện thực tế trong nước, quốc tế. Ngày 3 tháng 01 năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát triển Võ cổ truyền Việt Nam đến năm 2020”.

    Chặng đường phát triển Võ thuật cổ truyền Việt Nam


    Kỷ thuật chiến đấu cá nhân, cơ sở cho một đội quân tự vệ quốc gia đó chính là nguồn gốc sâu xa,đích thực của một nền võ học cổ truyền phong phú và đa dạng của đất nước Việt Nam anh hùng, bất khuất.
    Ðặc thù của võ học cổ truyền Việt Nam
    Nước Việt là một vùng đất hẹp, người thưa,ở sát cạnh một quốc gia phong kiến phương Bắc to lớn, luôn chực chờ cơ hội để thôn tính và đồng hóa thành một châu huyện của họ.

    Ý thức quốc gia độc lập, tự chủ và truyền thống dân tộc bất khuất, tinh thần thượng võ cao độ đã hình thành một cách sâu sắc trong huyết thống của người dân đất Việt anh hùng, thể hiện qua những cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ ngoại xâm :
    " Muốn thoát ách nô lệ lầm than cơ cực, nhục nhã thì
    phải chiến thắng kẻ thù xâm lược "
    Trước những đòi hỏi luôn luôn cấp bách và thiết thực cho vận mệnh đất nước như thế, hơn ai hết, người Việt luôn tìm tòi học hỏi và sáng tạo những cách đánh riêng biệt, độc đáo,phù hợp với đặc điễm của đất nước và con người với trình độ phát triển kỷ thuật, sinh hoạt xã hội và kinh tế nhất định. Những phương cách chiến đấu đủ sức đương đầu, ngăn chận bước chân xâm lược tàn ác, bạo ngược của ngoại bang.

    Vó ngựa hung hãn của đoàn kỵ binh Mông cổ ngạo nghễ giày xéo một cách man rợ bao lãnh thổ từ Âu sang Á, lập nên một đế quốc rộng lớn, menh mông từ bờ biển Hắc hải đến bờ biển Thái bình Dương, nhưng rồi đã phải quỵ ngã ở dãy đất nhỏ bé nầy.

    Câu chuyện tưởng chừng như hoang đường, nhưng đó đã là sự thật!!

    Và sự thực đó đã được kiên quyết khẳng định khi đoàn quân bách chiến bách thắng Mông Cổ quay lại tiến công phục thù lần thứ hai và lần thứ ba, mỗi lần quay lại là một lần lớn hơn, mạnh hơn, nhưng cuối cùng đã phải nuốt hận và bỏ chạy lấy thân một cách nhục nhã, thãm thương.

    Người dân đất Việt anh hùng đã dõng dạt nói lên lời quyết chiến, quyết thắng, chấp nhận mọi hy sinh, mất mác. Những chiến cônghiển hách, lẫy lừng đó đã là của toàn dân.

    Với ý chí sắt thép " Sát Thát " và với những cách đánh dũng mãnh, mưu trí, đoàn chân đất đã ngoan cường chiến đấu và giành lấy những chiến thắng oanh liệt, viết lên những trang sử vẽ vang trong lịch sử hơn 4 ngàn năm lập quốc kiêu hùng của dân tộc Việt Nam.

    Từ một thực tế chiến đấu vô cùng nghiệt ngã đó, những cách đánh sáng tạo, tài tình, độc đáo của dân Việt đã được khẳng định là đúng đắn, thích hợp và có hiệu quả.

    Tinh-Hoa của Võ-Thuật Cổ-Truyền Việt-Nam

    1. Võ thuật cổ truyền Việt Nam là VÕ TRẬN
    Võ thuật cổ truyền Việt Nam được gọi là "Võ Trận" với ý nghĩa là võ thuật để dùng trong chiến trận để chống giặc giử nước. "Võ Trận" Việt Nam thể hiện đầy sinh động trong tính cách quyết chiến, quyết thắng : đó là một lối đánh tiêu diệt, dứt khoát một mất một còn, không khoan nhượng của cả một dân tộc để giử yên bờ cõi, bảo vệ biên cương Tổ quốc.
    2. Võ thuật cổ truyền Việt Nam là một thể hiện cho ý chí sắt đá,
    xã thân, vì nước quên mình của dân quân đất Việt.
    Cuộc kháng chiến hào hùng của dân quân nước Việt từ ngàn xưa trước một đối phương phương Bắc rộng lớn tựa như một hình tượng đầy sinh động sau đây:
    " Nực cười châu chấu đá xe . . . "
    Thế nhưng, những con người ở vùng đất châu thổ sông Hồng nhỏ bé đã chứng minh một sự thực oanh liệt, bao lần đậm nét trong những trang sử hào hùng của dân tộc :
    " Tưởng rằng chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng . . . ."
    Hiện thực đó chỉ có thể có được với một tinh thần thượng võ cao độ, đầy sức thuyết phục:
    Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,
    Ðem chí nhân để thay cường bạo.
    (Bình Ngô Ðại Cáo - Nguyễn Trãi.)
    Và một truyền thống bất khuất, sắt đá:
    Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình
    ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn,
    cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người
    (Lời Bà Triệu Trinh Nương.)
    Chấp nhận thử thách, đương đầu với gian khổ, mất mác đau thương. Người dân Việt đã chấp nhận hy sinh tất cả để giành lấy quyền sống tự do, độc lập cho đất nước:
    Ta thà làm quỷ nước Nam,
    Còn hơn làm Vương đất Bắc.
    (lời của Tướng Trần Bình Trọng trong buổi tiệc đầu người, nơi trại giặc.)
    Tất cả là thể hiện một đặc thù nổi bật nhất về ý chí quên mình, xã thân cho đại nghĩa dân tộc của Võ thuật Cổ truyền Việt Nam hình thànn trong quá trình dựng nước và giử nước.
    3. Võ thuật cổ truyền Việt Nam là một thể hiện thực sự cho tính
    Nhu chế Cương, Ðoản chế Trường.
    Trong thực tế chiến đấu, làm sao có thể lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh?

    Người dân Việt, lấy cá nhân mà xét, lấy tập thể mà tính, là yếu kém hơn nhiều so với các thế lực phương Bắc. Nếu chỉ thuần dựa trên ý chí và tinh thần mà không có được một sách lược đối phó thích hợp, một phương cách đối trị hữu hiệu, làm sao có thể ngăn cản được các âm mưu xâm lược thâm độc của giặc ngoại xâm ?

    Dân tộc Việt Nam đã có được những kinh nghiệm quý báu qua thực tiển chiến đấu giành lấy quyền sống còn, cởi bỏ xiềng xích nô lệ ngoại bang với những thể hiện sáng tạo trong võ thuật cổ truyền, một trang bị không thể không có cho đoàn dân quân nước Việt, áp dụng linh động và triệt để 2 nguyên lý căn bản:
    A. Nhu chế Cương
    Vì yếu hơn nên không thể dùng lực đối lực. Dân quân nước Việt luônluôn phải đối phó với một lực lượng quân sự phương Bắc đông đảo gấp bội, về chiến thuật cũng như chiến lược, vì ít hơn nên ta phải làm sao nhanh chóng giải quyết chiến trường, tiết kiệm sức lực, bằng cách luồn lách, tránh né, mềm dão, hư thực. Trong công có thủ, trong thủ đã tiềm ẩn thế tấn công vào nơi địch sơ hở, bỏ trống.
    B. Đoản chế Trường
    Áp dụng cho cá nhân người chiến sỉ và cho cả tập thể lực lượng kháng chiến, chống giặc giử nước, người dân nước Việt luôn xử dụng những chiến thuật thần tốc, chớp nhoáng, không mất thì giờ và công sức để triệt phá sức tấn công của đối phương mà chỉ cần nhanh chóng tránh né, tiếp cận, khám phá những sơ hở nhất định của chúng để dứt khoát, dũng mãnh tấn công tiêu diệt ngay chính tiềm năng của sức tấn công ấy: đó là ý nghĩa của tinh thần dùng Đoản chế Trường .

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam là những tinh hoa kế thừa bao kinh nghiệm xương máu và tim óc của tổ tiên bao đời : đó là một sự thực hiển nhiên không thể phủ nhận được và đừng bao giờ khinh suất coi thường.

    Cùng với quá trình giao lưu văn hóa, kinh tế với nước ngoài. Người dân Việt cũng luôn tìm hiểu và học hỏi những tinh hoa cốt lõi nhất của họ để có được những cách đánh năng động, sáng tạo và có hiệu quả nhất đối với giặc xâm lược:

    Học lấy cái hay của địch để có thể tìm ra được cách đánh thích hợp nhất chế ngự được địch, đó là cách "Dỉ độc trị độc" hoặc còn có thể gọi là : "Gậy ông đập lưng ông".

    Dung hợp những điều hay của địch thành những kinh nghiệm quý báu của mình, giúp cho kho tàng truyền thống đất Việt thêm phong phú, đa dạng, nhưng vẩn luôn hài hòa thuần phác, đó là tinh thần của "Tri kỷ tri bỉ" (biết người biết ta trăm trận trăm thắng).

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam luôn thắm đượm tinh thần cao đẹp đó và đã thể hiện trọn vẹn bản sắc độc đáo, anh hùng của dân tộc. Bề dầy lịch sử anh hùng hơn 4 ngàn năm dựng nước và giử nước cho phép chúng ta hiểu được như vậy và khẳng định tầm vóc vô cùng to lớn đó.

    Các môn phái của Võ cổ truyền Việt Nam


    Để đảm bảo an toàn cho cá nhân và những người thân xung quanh, học võ là bí quyết được nhiều người tìm hiểu và học hỏi. Có nhiều loại võ thuật khác nhau, trong đó võ cổ truyền Việt Nam là bộ môn dễ thực hiện và được mọi người áp dụng. Võ cổ truyền Việt Nam có bao nhiêu môn phái là câu hỏi được nhiều người tìm hiểu. Theo các chuyên gia, võ cổ truyền Việt Nam bao gồm có 5 môn phái:


    - Môn phái thứ nhất: Nhóm Bắc Hà (miền Bắc)
    Các phái võ Bắc Hà ban đầu đều phát triển ở miền Bắc Việt Nam dù có võ phái sau đó đã ảnh hưởng lan rộng đến các khu vực khác trong cả nước. Một số môn phái tiêu biểu của nhóm Bắc Hà bao gồm:
    + Thiên Môn Đạo: Có lịch sử lâu đời trong các võ phái cổ truyền Việt Nam, có khởi nguồn từ Chương Mỹ, Hà Nội.
    + Vật Liễu Đôi: Võ vật có truyền thống lâu đời và rất phổ biến tại miền Bắc Việt Nam. Nhiều làng tổ chức thi đấu vật vào các lễ hội mùa xuân. Lễ hội Vật Liễu Đôi tổ chức thường niên ở làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam.
    + Nhất Nam: có lịch sử lâu đời trong các võ phái cổ truyền Việt Nam, có khởi nguồn từ Thanh Hóa, Nghệ An.
    + Nam Hồng Sơn: do võ sư Nguyễn Văn Tộ sáng lập dựa trên cơ sở chương trình rèn luyện võ cổ truyền dân tộc từ thời Nguyễn và vay mượn thêm một số kỹ thuật của võ Trung Hoa.
    + Hoa Quyền: do cố võ sư Hoàng Văn Thơ sáng lập dựa trên sở học võ thuật của bản thân và các kỹ thuật được các thầy Trung Hoa truyền dạy
    + Việt Võ đạo (Vovinam): Vovinam Việt Võ Đạo là môn võ được võ sư Nguyễn Lộc sáng lập vào năm 1938. Đây là hệ thống pha trộn võ học gia đình, võ Việt Nam và các trường phái võ các nước khác như Judo, Karate... Võ phái dựa trên kỹ thuật phản công ngang, đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.


    - Môn phái thứ hai: Nhóm Bình Định (miền Trung)
    Bình Định là vùng từng thuộc vương quốc Chăm pa, nơi có truyền thống võ thuật lâu đời mà những phù điêu của vương quốc Chăm còn lưu giữ hình ảnh. Đây cũng là cái nôi võ thuật miền Trung gắn liền với triều đại Tây Sơn (1778-1802). Trong thế kỷ 18, một số võ sư nổi tiếng từ miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc chuyển đến định cư tại vùng này và dạy võ cho người dân địa phương. Từ thời Tây Sơn đến nay, nhóm Bình Định bao gồm nhiều võ phái xuất phát từ Bình Định và vùng phụ cận như: Roi Thuận Truyền, quyền An Thái, quyền An Vinh và các hình thức võ thuật do các gia tộc, các nhà sư truyền dạy như Tây Sơn Nhạn, Thanh Long võ đạo, Bình Định Sa Long Cương, Võ trận Bình Định, Tân Sơn Bạch Long, Tây Sơn Thiếu Lâm, Bình Định gia, Tiên Long Quyền Đạo...


    - Môn phái thứ ba: Nhóm Nam Bộ (miền Nam)
    Các phái võ Nam Bộ xuất hiện cùng với quá trình mở cõi và định cư của người Việt trong thế kỷ 18 và thế kỷ 19. Sau khi dừng chân ở Nam Trung Bộ, các chúa Nguyễn tiếp tục mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam và di dân từ Quảng Nam, Đà Nẵng, Quy Nhơn vào khai khẩn đất hoang tại đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều võ sư ở miền Nam nổi danh được ví với "Tam nhật" (ba mặt trời) Hàn Bái, Bá Cát và Bảy Mùa; "Tam nguyệt" (ba Mặt Trăng) Trương Thanh Đăng, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai; "Tứ tú" (bốn vì sao) với Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Võ Thanh Tồng (Hai Ngữ) Nhiều võ sĩ miền Nam đã tham gia thượng đài với rất nhiều lần toàn thắng trước các võ sư đến từ những quốc gia lân bang như Cao Miên, Lào, Xiêm. Trước năm 1975, ở miền Nam cũng đã có Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam của Tổng nha Thanh niên trực thuộc Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên.


    - Môn phái thứ tư: Các môn phái có nguồn gốc từ Trung Hoa
    Sự giao lưu, ảnh hưởng lâu đời từ Trung Hoa trong suốt trường kỳ lịch sử đã tạo nên ở Việt Nam những hệ phái võ thuật do các võ sư Trung Quốc hoặc võ sư Việt giảng dạy. Có một đặc điểm chung nhất cho các môn phái có nguồn gốc Trung Hoa hiện đang được giảng dạy tại Việt Nam: Hầu hết là những hệ thống đã ít nhiều cải biên cho phù hợp với thể chất và văn hóa của người Việt. Danh sách không đầy đủ các môn phái có nguồn gốc Trung Hoa trên lãnh thổ Việt Nam gồm: Bắc Mã Sơn, Lâm Sơn Động, Phật gia quyền, Không Động, Vĩnh Xuân Quyền (Việt Nam), Thiếu Sơn Phật Gia, Thiếu Lâm Long Phi, Thiếu Lâm Bắc Truyền Thiên Mục Sơn...


    - Môn phái thứ năm: Võ thuật cổ truyền Việt Nam ở nước ngoài
    Theo bước chân của người Việt đến khắp thế giới, có nhiều kỹ thuật võ Việt Nam đã đến với nước ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây như Pháp và một số nước châu Âu, Mỹ, Canada. Có đến 22 môn phái võ thuật có cội nguồn từ Võ thuật Việt Nam tại Pháp, và có đến 30.000 võ sinh theo học. Một số võ phái tại Pháp được coi là "cái nôi của võ thuật Việt Nam tại nước ngoài" như: Cửu Long võ đạo, Võ trận Đại Việt, Nam Hổ Quyền, Phái Trung Hòa...
    Võ thuật cổ truyền ở Việt Nam đa dạng và được sắp xếp thành 5 môn phái rõ ràng. Hiện nay, việc tìm hiểu và lưu giữ các môn phái võ thuật ngày càng chiếm giữ vị trí hết sức quan trọng góp phần kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của võ thuật nước nhà.

    Võ thuật cổ truyền trong thời kỳ hiện đại

    a/ Võ thuật cổ truyền  dành cho quân đội
    Trước thế kỷ 16, vua chúa bổ dụng các võ tướng trong triều dựa trên những cống hiến, công trạng hoặc gia thế của họ, chứ không phải qua thi tuyển. Do đó, đa số các võ tướng cao cấp trong triều đều là người của hoàng gia.

    Năm 1253, triều Trần cho lập Giảng Võ Đường, một trường rèn luyện võ dành cho hoàng thân quốc thích là các võ tướng. Cũng khoảng thời gian này, Trần Quốc Tuấn, danh tướng của thời Trần đã soạn ra cuốn binh thư đầu tiên theo những tiêu chuẩn của thời đó

    Nhờ dạy và học võ, thời Trần có nhiều tướng lĩnh nổi tiếng, trong đó phải kể đến Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư và Phạm Ngũ Lão. Các nhà sử học còn nghi nhận những đóng góp của họ đối với những chiến thắng của người Việt trước quân Nguyên Mông.

    b/ võ để nghiên cứu

    Năm 1721 dưới thời vua Lê Dụ Tông(1679-1731), trường đào tạo võ đầu tiên cho quảng đại quần chúng , gọi là Võ học sở, được mở tại kinh đô Thăng Long Hà nội. Vua còn bổ nhiệm một vị quan chịu trách nhiệm giảng dạy binh pháp. Chúa Trịnh Cương rất chú trọng đào tạo các tướng lãnh.

    c/ võ để thi tuyển

    Rèn luyện và thi tuyển võ được tổ chức như thế nào tại triều dình?

    Chúa Trịnh Cương cho biên soạn những quy dịnh và thể chế thi tuyển võ học. Các kỳ thi được tổ chức 3 năm một lần. Vào các năm Tý Ngọ Mão Dậu, kỳ thi được tổ chức ở cấp hương thôn, gọi là sở cử. Trong khi đó, kỳ thi Hội ( bác cử) diễn ra tại Thăng Long vào các năm Thìn, Tuất Sửu Mùi.

    Mỗi kỳ thi gồm 3 phần. Phần thứ nhất là kiểm tra hiểu biết của thí sinh về binh pháp cổ, phần hai về công phu võ học ( cưỡi ngựa, bắn cung, múa kiếm, múa côn), còn phần thứ ba là kiến thức về chiến thuật và chiến lược quân sự

    Năm 1731, chúa Trịnh Tráng tiếp tục soạn thêm những quy định về võ thí sau khi ông nhận ra rằng nhiều võ sinh xuất sắc đã trượt trong phần thi viết luận về chiến lược dung binh. Theo những quy định mới này, công phu võ học được nhấn mạnh hơn là kiến thức về chiến lược quân sự.

    Triều Lê( 1428-1527) cho mở các trường rèn võ. tổ chức các kỳ thi võ, xây võ miếu vào năm 1740 để thờ những binh gia nổi tiếng của Trung Hoa và Việt nam như Võ thành Vương, Tôn Tử, Quản Tử và Trần Quốc Tuấn

    Thời vua Lê Chúa Trịnh (1428-1788) 19 cuộc thi võ đã được tổ chức, lấy đỗ 200 võ sinh. Các kỳ thi này ngừng lại khi Nguyễn Huệ (1753-1792) sau này là vua Quang Trung)-một anh hùnh dân tộc đồng thời là nhà chiến lược kiệt suất-đem quân ra miền Bắc để phù Lê, diệt Trịnh. Sau đó, những cuộc thi này lại được tổ chức trở lại.

    Thường thì những thí sinh vượt qua các kỳ thi võ đều rất trẻ. Tuynhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ. Ví dụ, Nguyễn Thời Lý và Nguyễn Đình Thạch đã thi đỗ ở tuổi 85 và 78. Một vài dòng họ có nhiều người đỗ đạt trong các kỳ thi võ, chẳng hạn Vũ Tá ở xã Hoàng hà ( Hà Tĩnh) có 13 người đỗ vào thời Lê Trịnh


    Các vua Nhà Nguyễn (1802-1945) cố gắng mở rộng bờ cõi xuống phía nam nên rất chú trọng đến việc tuyển chọn và rèn quan võ. Năm 1836, vua Minh mạng ban hành đạo dụ nói rõ: để cai trị đất nước, cần chú ý cả tới văn trị và võ công. Hiện nay có nhiều bậc anh hùng tuấn kiệt rất giỏi binh thư và võ nghệ. Họ cần được tuyển chọn để triều đình bổ dụng.

    Nhà vua còn đặt ra những chế định cho các kỳ thi võ thi Hương và thi Hội. Theo quy định, thì thi Hương được tổ chức vào các năm Dần, Thân Tỵ, Hợi. Thi Hội được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ Mão Dậu. Kỳ thi Hương đầu tiên dưới thời Nguyễn được tổ chúc năm 1837

    Các cuộc thi võ ở Huế ( kinh đô của nhà Nguyễn), thường được tổ chức vào tháng 7 âm lịch, vào ngày 12 tháng 7 các thí sinh tụ về trường thi. Từ nghày 15 đến 17 tháng 7, họ tham dự vòng thi đầu tiên là hai tay xách hai cục chì nặng rồi đi được càng xa càng tốt. Họ được xếp hạng ưu nếu quãng đường dài hơn 18 trượng ( một trượng tương đương 1.7m),14 trượng là thứ, 10 trượng là bình, và dưới 8 trượng là liệt.

    Phần thi thứ hai diễn ra tứ 19 đên 21 tháng 7, trong đó thí sinh phải chứng tỏ kỹ năng chiến đấu tay không và sử dụng vũ khí như côn, đao và khiên. Họ còn phải dùng thiết côn ( gậy sắt) nặng khoảng 18kg để đấu đối kháng. Thêm vào đó, họ phải dùng thương dài 3,3 m đâm trúng hình nộm bằng rơm

    Trong vòng thi thứ 3 ( từ 23 đến 25 tháng 7) các thí sinh được kiểm tra kỹ năng bắn súng.

    Vào ngày 27 tháng 7, triều đình sẽ xướng danh các thí sinh trúng tuyển. Trước khi được sung quân vào ngày 2 tháng 8, họ phải qua một vòng khảo thí về võ kinh thất thư ( bảy bộ sách kinh điển về võ học) là Tôn Tử, Ngô Tử, Lục Thao, Tư Mã Pháp, Hòng Thạch Công tam lược, Uất Liêu Tư vấn đáp và Lý Vệ Công vấn đối. Họ có thể tuỳ ý chọn và chứng tỏ khả năng của mình với một trong 18 món binh khí. Nói chung, thì võ dưới thời Nguyễn tổ chức một cách có hệ thống và nghiêm ngặt. Tuy nhiên, một số võ sinh vẫn tìm cách gian lận. Chẳng hạn một thí sinh đã tìm cách thi hộ cho thí sinh khác trong một kỳ thi. Vì vậy, vua Tự Đức (1829-1883) phải ban chỉ dụ, quy định rõ ràng những định lệ thưởng phạt trong thi võ. Theo chỉ dụ này, các thí sinh lén mang sách vở hoặc bị bắt quả tang gian lận trong thi cử sẽ lập tức bị giám quan đuổi ra. Những người vào thi với trang phục bẩn thỉuhoặc nhếch nhác cũng bị loại. Nếu một thí sinh bị bắt quả tang dự thi dưới tên người khác thì cả hai người liên can sẽ bị buộc phải tòng quân. Những người đút lót cũng sẽ bị phạt.

    Từ năm 1802 đến 1884, nhà Nguyễn tổ chức 74 kỳ thi ở các cấp khác nhau. Tổng số có 3893 thí sinh vượt qua các kỳ thi cả văn lẫn võ.

    Các kỳ thi võ chính thức ở Việt nam chấm dứt vào năm 1880 khi người Pháp tăng cường nền cai trị của họ tại Việt nam.

    Võ cổ truyền Việt Nam: đặc thù và chặng đường phát triển

    Posted at  tháng 11 13, 2018  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Cội nguồn võ thuật

    Con người nguyên thủy từ thời Cổ Ðại, sinh sống dựa trên thu lượm, nhặt hái các thức ăn có sẳn ở thiên nhiên và săn bắt thú rừng là chủ yếu. Những động tác, cách thức rình rập, rượt đuổi đánh giết dần trở thành quen thuộc hàng ngày.
    Võ cổ truyền Việt Nam

    Tiếp đến là những trường hợp phải xữ trí trong quan hệ giữa người và vật trong săn bắn, giữa người và người để tự vệ, để chiến đấu gìn giử các vật thực do thành quả lao động, hoặc quyền sở hữu miếng đất, khoảnh rừng đang sinh sống. Tất cả các động tác, các cách thế đó, từ đơn giản đến phức tạp, đã là cội nguồn của các đòn thế, bài bản của các trường phái võ thuật trên thế giới.

    Qua quá trình gian khổ dựng nước và giử nước, từ thời khai nguyên dân tộc và kháng chiến chống quân xâm lược, giử yên bờ cõi, bảo vệ sự toàn vẹn lảnh thổ. Người dân Việt trưởng thành từ vùng đất châu thổ sông Hồng đã tự hình thành, phát triển và đúc kết được những kinh nghiệm quý báu về kỷ thuật chiến đấu cá nhân và những cách thức, sách lược trong vận dụng và huy động lực lượng quân sự vào cuộc chiến đấu tập thể "chiến tranh".
    Võ cổ truyền Việt Nam là di sản văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, ra đời, tồn tại và phát triển song hành cùng cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Võ cổ truyền Việt Nam không chỉ đơn thuần là những bài võ nhằm rèn luyện kỹ năng, thể chất của con người, nâng cao khả năng tự vệ, hướng tới sự hòa hợp về thể chất và tinh thần của con người mà thông qua việc tập luyện Võ cổ truyền Việt Nam còn khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tinh thần thượng võ và tính nhân văn của con người Việt Nam.

    Triết lý Võ thuật cổ truyền Việt Nam


    Văn hóa dân tộc Việt Nam, trong đó có Võ học và Võ đạo, sản sinh trên nền tảng giá trị lịch sử, phong tục tập quán, địa lý và tâm thức dân tộc. Võ học và Võ đạo Việt Nam hình thành lên triết lý sống “Nhân Văn và Thượng Võ”, là kim chỉ nam để dân tộc ta trường tồn và phát triển.

    Võ cổ truyền Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với truyền thống lao động cần cù, tính hiếu học và tinh thần thượng võ của dân tộc trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của Lịch sử, Võ cổ truyền Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức và cách thức khác nhau, được truyền bá và lưu giữ từ đời này qua đời khác trong mỗi gia đình, dòng tộc cũng như các võ đường, lò võ trên các vùng miền của đất nước. Cũng qua những thăng trầm của sự phát triển đó, Võ cổ truyền Việt Nam đã thấm sâu vào máu thịt, vào tư tưởng, vào hành động của mọi người, trở thành một mảng văn hóa tinh thần đầy tự hào của nhiều thế hệ người Việt Nam. Nhân dân ta đã dùng võ để rèn luyện thân thể, nâng cao khả năng tự vệ, tôi luyện ý chí sắt đá và ứng dụng trong các trò chơi, lễ hội để tăng cường sự giao lưu trong cộng đồng.


    Với chủ trương “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế”. Ngành Thể dục thể thao đã quan tâm sưu tầm, nghiên cứu phát triển các trò chơi vận động dân gian, các hoạt động thể thao dân tộc để trở thành các môn thể thao dân tộc trong đó hoạt động Võ cổ truyền Việt Nam được quan tâm ưu tiên phát triển hàng đầu.

    Cùng với tiến trình giao lưu, trao đổi, mở rộng các mỗi quan hệ hợp tác, phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học – kỹ thuật... với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, Võ cổ truyền Việt Nam cũng đã sớm hiện diện ở nhiều nước và vùng lãnh thổ, theo nhiều con đường, thời điểm và lý do khác nhau. Ngoài ra Võ cổ truyền Việt Nam còn “xuất ngoại” thông qua con đường ngoại giao, giao lưu văn hóa, trao đổi hàng hóa, thương phẩm, thăm viếng, du lịch giữa các nhà ngoại giao, nhà truyền giáo, thương nhân, du khách...của các nước với nước ta và nước ta với các nước từ nhiều thế kỷ trước, nhưng sâu rộng và nhanh mạnh hơn cả là kể từ khi người Việt sang học tập, công tác, định cư lâu dài ở nhiều châu lục, trong đó có khá đông các nhà nghiên cứu võ học, hoạt động võ thuật, các võ sư, huấn luyện viên và võ sĩ nổi tiếng qua các thế hệ.

    Đặc biệt, kể từ khi nước ta mở rộng hội nhập, quan hệ hợp tác và phát triển toàn diện với tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài yêu chuộng Võ cổ truyền Việt Nam có cơ hội đến nước ta nghiên cứu, thi đấu, biểu diễn, giao lưu và học tập võ cổ truyền, để rồi sau đó trở về nước mình hoặc đến một số quốc gia khác truyền bá, giảng dạy, phát triển theo tôn chỉ, mục đích riêng của từng môn phái và theo xu hướng “trăm hoa đua nở”.

    Nhà nước ta cũng đã thường xuyên cử các đoàn Võ cổ truyền Việt Nam sang các nước để thắt chặt quan hệ, giao lưu, trao đổi, hợp tác trên lĩnh vực võ thuật và khuyến khích các võ sư, huấn luyện viên cao cấp, võ sĩ trong nước đến nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới để giảng dạy, thi đấu, biểu diễn và truyền bá Võ cổ truyền Việt Nam, góp phần cùng với các thế hệ võ sư, huấn luyện viên, võ sĩ người Việt ở hải ngoài và người nước ngoài đã và đang học tập Võ cổ truyền Việt Nam đồng tâm, hiệp lực, ra sức vun đắp, nâng cao uy thế, tạo nên diện mạo mới, sức sống mới phong phú, đa dạng của Võ cổ truyền Việt Nam trên trường quốc tế. Chính vì thế Võ cổ truyền Việt Nam không chỉ là một môn thể thao đơn thuần mà đã trở thành một bộ phận của nền văn hóa thể chất và là một trong những di sản văn hóa phi vật thể quý báu của Việt Nam.

    Bảo tồn và phát triển Võ cổ truyền Việt Nam là lĩnh vực rộng, có tính xã hội cao, có vị trí quan trọng trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển Thể dục thể thao ở nước ta. Việc Bảo tồn và phát triển Võ cổ truyền Việt Nam là cần thiết và phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với điều kiện thực tế trong nước, quốc tế. Ngày 3 tháng 01 năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát triển Võ cổ truyền Việt Nam đến năm 2020”.

    Chặng đường phát triển Võ thuật cổ truyền Việt Nam


    Kỷ thuật chiến đấu cá nhân, cơ sở cho một đội quân tự vệ quốc gia đó chính là nguồn gốc sâu xa,đích thực của một nền võ học cổ truyền phong phú và đa dạng của đất nước Việt Nam anh hùng, bất khuất.
    Ðặc thù của võ học cổ truyền Việt Nam
    Nước Việt là một vùng đất hẹp, người thưa,ở sát cạnh một quốc gia phong kiến phương Bắc to lớn, luôn chực chờ cơ hội để thôn tính và đồng hóa thành một châu huyện của họ.

    Ý thức quốc gia độc lập, tự chủ và truyền thống dân tộc bất khuất, tinh thần thượng võ cao độ đã hình thành một cách sâu sắc trong huyết thống của người dân đất Việt anh hùng, thể hiện qua những cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ ngoại xâm :
    " Muốn thoát ách nô lệ lầm than cơ cực, nhục nhã thì
    phải chiến thắng kẻ thù xâm lược "
    Trước những đòi hỏi luôn luôn cấp bách và thiết thực cho vận mệnh đất nước như thế, hơn ai hết, người Việt luôn tìm tòi học hỏi và sáng tạo những cách đánh riêng biệt, độc đáo,phù hợp với đặc điễm của đất nước và con người với trình độ phát triển kỷ thuật, sinh hoạt xã hội và kinh tế nhất định. Những phương cách chiến đấu đủ sức đương đầu, ngăn chận bước chân xâm lược tàn ác, bạo ngược của ngoại bang.

    Vó ngựa hung hãn của đoàn kỵ binh Mông cổ ngạo nghễ giày xéo một cách man rợ bao lãnh thổ từ Âu sang Á, lập nên một đế quốc rộng lớn, menh mông từ bờ biển Hắc hải đến bờ biển Thái bình Dương, nhưng rồi đã phải quỵ ngã ở dãy đất nhỏ bé nầy.

    Câu chuyện tưởng chừng như hoang đường, nhưng đó đã là sự thật!!

    Và sự thực đó đã được kiên quyết khẳng định khi đoàn quân bách chiến bách thắng Mông Cổ quay lại tiến công phục thù lần thứ hai và lần thứ ba, mỗi lần quay lại là một lần lớn hơn, mạnh hơn, nhưng cuối cùng đã phải nuốt hận và bỏ chạy lấy thân một cách nhục nhã, thãm thương.

    Người dân đất Việt anh hùng đã dõng dạt nói lên lời quyết chiến, quyết thắng, chấp nhận mọi hy sinh, mất mác. Những chiến cônghiển hách, lẫy lừng đó đã là của toàn dân.

    Với ý chí sắt thép " Sát Thát " và với những cách đánh dũng mãnh, mưu trí, đoàn chân đất đã ngoan cường chiến đấu và giành lấy những chiến thắng oanh liệt, viết lên những trang sử vẽ vang trong lịch sử hơn 4 ngàn năm lập quốc kiêu hùng của dân tộc Việt Nam.

    Từ một thực tế chiến đấu vô cùng nghiệt ngã đó, những cách đánh sáng tạo, tài tình, độc đáo của dân Việt đã được khẳng định là đúng đắn, thích hợp và có hiệu quả.

    Tinh-Hoa của Võ-Thuật Cổ-Truyền Việt-Nam

    1. Võ thuật cổ truyền Việt Nam là VÕ TRẬN
    Võ thuật cổ truyền Việt Nam được gọi là "Võ Trận" với ý nghĩa là võ thuật để dùng trong chiến trận để chống giặc giử nước. "Võ Trận" Việt Nam thể hiện đầy sinh động trong tính cách quyết chiến, quyết thắng : đó là một lối đánh tiêu diệt, dứt khoát một mất một còn, không khoan nhượng của cả một dân tộc để giử yên bờ cõi, bảo vệ biên cương Tổ quốc.
    2. Võ thuật cổ truyền Việt Nam là một thể hiện cho ý chí sắt đá,
    xã thân, vì nước quên mình của dân quân đất Việt.
    Cuộc kháng chiến hào hùng của dân quân nước Việt từ ngàn xưa trước một đối phương phương Bắc rộng lớn tựa như một hình tượng đầy sinh động sau đây:
    " Nực cười châu chấu đá xe . . . "
    Thế nhưng, những con người ở vùng đất châu thổ sông Hồng nhỏ bé đã chứng minh một sự thực oanh liệt, bao lần đậm nét trong những trang sử hào hùng của dân tộc :
    " Tưởng rằng chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng . . . ."
    Hiện thực đó chỉ có thể có được với một tinh thần thượng võ cao độ, đầy sức thuyết phục:
    Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn,
    Ðem chí nhân để thay cường bạo.
    (Bình Ngô Ðại Cáo - Nguyễn Trãi.)
    Và một truyền thống bất khuất, sắt đá:
    Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình
    ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn,
    cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người
    (Lời Bà Triệu Trinh Nương.)
    Chấp nhận thử thách, đương đầu với gian khổ, mất mác đau thương. Người dân Việt đã chấp nhận hy sinh tất cả để giành lấy quyền sống tự do, độc lập cho đất nước:
    Ta thà làm quỷ nước Nam,
    Còn hơn làm Vương đất Bắc.
    (lời của Tướng Trần Bình Trọng trong buổi tiệc đầu người, nơi trại giặc.)
    Tất cả là thể hiện một đặc thù nổi bật nhất về ý chí quên mình, xã thân cho đại nghĩa dân tộc của Võ thuật Cổ truyền Việt Nam hình thànn trong quá trình dựng nước và giử nước.
    3. Võ thuật cổ truyền Việt Nam là một thể hiện thực sự cho tính
    Nhu chế Cương, Ðoản chế Trường.
    Trong thực tế chiến đấu, làm sao có thể lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh?

    Người dân Việt, lấy cá nhân mà xét, lấy tập thể mà tính, là yếu kém hơn nhiều so với các thế lực phương Bắc. Nếu chỉ thuần dựa trên ý chí và tinh thần mà không có được một sách lược đối phó thích hợp, một phương cách đối trị hữu hiệu, làm sao có thể ngăn cản được các âm mưu xâm lược thâm độc của giặc ngoại xâm ?

    Dân tộc Việt Nam đã có được những kinh nghiệm quý báu qua thực tiển chiến đấu giành lấy quyền sống còn, cởi bỏ xiềng xích nô lệ ngoại bang với những thể hiện sáng tạo trong võ thuật cổ truyền, một trang bị không thể không có cho đoàn dân quân nước Việt, áp dụng linh động và triệt để 2 nguyên lý căn bản:
    A. Nhu chế Cương
    Vì yếu hơn nên không thể dùng lực đối lực. Dân quân nước Việt luônluôn phải đối phó với một lực lượng quân sự phương Bắc đông đảo gấp bội, về chiến thuật cũng như chiến lược, vì ít hơn nên ta phải làm sao nhanh chóng giải quyết chiến trường, tiết kiệm sức lực, bằng cách luồn lách, tránh né, mềm dão, hư thực. Trong công có thủ, trong thủ đã tiềm ẩn thế tấn công vào nơi địch sơ hở, bỏ trống.
    B. Đoản chế Trường
    Áp dụng cho cá nhân người chiến sỉ và cho cả tập thể lực lượng kháng chiến, chống giặc giử nước, người dân nước Việt luôn xử dụng những chiến thuật thần tốc, chớp nhoáng, không mất thì giờ và công sức để triệt phá sức tấn công của đối phương mà chỉ cần nhanh chóng tránh né, tiếp cận, khám phá những sơ hở nhất định của chúng để dứt khoát, dũng mãnh tấn công tiêu diệt ngay chính tiềm năng của sức tấn công ấy: đó là ý nghĩa của tinh thần dùng Đoản chế Trường .

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam là những tinh hoa kế thừa bao kinh nghiệm xương máu và tim óc của tổ tiên bao đời : đó là một sự thực hiển nhiên không thể phủ nhận được và đừng bao giờ khinh suất coi thường.

    Cùng với quá trình giao lưu văn hóa, kinh tế với nước ngoài. Người dân Việt cũng luôn tìm hiểu và học hỏi những tinh hoa cốt lõi nhất của họ để có được những cách đánh năng động, sáng tạo và có hiệu quả nhất đối với giặc xâm lược:

    Học lấy cái hay của địch để có thể tìm ra được cách đánh thích hợp nhất chế ngự được địch, đó là cách "Dỉ độc trị độc" hoặc còn có thể gọi là : "Gậy ông đập lưng ông".

    Dung hợp những điều hay của địch thành những kinh nghiệm quý báu của mình, giúp cho kho tàng truyền thống đất Việt thêm phong phú, đa dạng, nhưng vẩn luôn hài hòa thuần phác, đó là tinh thần của "Tri kỷ tri bỉ" (biết người biết ta trăm trận trăm thắng).

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam luôn thắm đượm tinh thần cao đẹp đó và đã thể hiện trọn vẹn bản sắc độc đáo, anh hùng của dân tộc. Bề dầy lịch sử anh hùng hơn 4 ngàn năm dựng nước và giử nước cho phép chúng ta hiểu được như vậy và khẳng định tầm vóc vô cùng to lớn đó.

    Các môn phái của Võ cổ truyền Việt Nam


    Để đảm bảo an toàn cho cá nhân và những người thân xung quanh, học võ là bí quyết được nhiều người tìm hiểu và học hỏi. Có nhiều loại võ thuật khác nhau, trong đó võ cổ truyền Việt Nam là bộ môn dễ thực hiện và được mọi người áp dụng. Võ cổ truyền Việt Nam có bao nhiêu môn phái là câu hỏi được nhiều người tìm hiểu. Theo các chuyên gia, võ cổ truyền Việt Nam bao gồm có 5 môn phái:


    - Môn phái thứ nhất: Nhóm Bắc Hà (miền Bắc)
    Các phái võ Bắc Hà ban đầu đều phát triển ở miền Bắc Việt Nam dù có võ phái sau đó đã ảnh hưởng lan rộng đến các khu vực khác trong cả nước. Một số môn phái tiêu biểu của nhóm Bắc Hà bao gồm:
    + Thiên Môn Đạo: Có lịch sử lâu đời trong các võ phái cổ truyền Việt Nam, có khởi nguồn từ Chương Mỹ, Hà Nội.
    + Vật Liễu Đôi: Võ vật có truyền thống lâu đời và rất phổ biến tại miền Bắc Việt Nam. Nhiều làng tổ chức thi đấu vật vào các lễ hội mùa xuân. Lễ hội Vật Liễu Đôi tổ chức thường niên ở làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, Hà Nam.
    + Nhất Nam: có lịch sử lâu đời trong các võ phái cổ truyền Việt Nam, có khởi nguồn từ Thanh Hóa, Nghệ An.
    + Nam Hồng Sơn: do võ sư Nguyễn Văn Tộ sáng lập dựa trên cơ sở chương trình rèn luyện võ cổ truyền dân tộc từ thời Nguyễn và vay mượn thêm một số kỹ thuật của võ Trung Hoa.
    + Hoa Quyền: do cố võ sư Hoàng Văn Thơ sáng lập dựa trên sở học võ thuật của bản thân và các kỹ thuật được các thầy Trung Hoa truyền dạy
    + Việt Võ đạo (Vovinam): Vovinam Việt Võ Đạo là môn võ được võ sư Nguyễn Lộc sáng lập vào năm 1938. Đây là hệ thống pha trộn võ học gia đình, võ Việt Nam và các trường phái võ các nước khác như Judo, Karate... Võ phái dựa trên kỹ thuật phản công ngang, đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.


    - Môn phái thứ hai: Nhóm Bình Định (miền Trung)
    Bình Định là vùng từng thuộc vương quốc Chăm pa, nơi có truyền thống võ thuật lâu đời mà những phù điêu của vương quốc Chăm còn lưu giữ hình ảnh. Đây cũng là cái nôi võ thuật miền Trung gắn liền với triều đại Tây Sơn (1778-1802). Trong thế kỷ 18, một số võ sư nổi tiếng từ miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc chuyển đến định cư tại vùng này và dạy võ cho người dân địa phương. Từ thời Tây Sơn đến nay, nhóm Bình Định bao gồm nhiều võ phái xuất phát từ Bình Định và vùng phụ cận như: Roi Thuận Truyền, quyền An Thái, quyền An Vinh và các hình thức võ thuật do các gia tộc, các nhà sư truyền dạy như Tây Sơn Nhạn, Thanh Long võ đạo, Bình Định Sa Long Cương, Võ trận Bình Định, Tân Sơn Bạch Long, Tây Sơn Thiếu Lâm, Bình Định gia, Tiên Long Quyền Đạo...


    - Môn phái thứ ba: Nhóm Nam Bộ (miền Nam)
    Các phái võ Nam Bộ xuất hiện cùng với quá trình mở cõi và định cư của người Việt trong thế kỷ 18 và thế kỷ 19. Sau khi dừng chân ở Nam Trung Bộ, các chúa Nguyễn tiếp tục mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam và di dân từ Quảng Nam, Đà Nẵng, Quy Nhơn vào khai khẩn đất hoang tại đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều võ sư ở miền Nam nổi danh được ví với "Tam nhật" (ba mặt trời) Hàn Bái, Bá Cát và Bảy Mùa; "Tam nguyệt" (ba Mặt Trăng) Trương Thanh Đăng, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai; "Tứ tú" (bốn vì sao) với Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Võ Thanh Tồng (Hai Ngữ) Nhiều võ sĩ miền Nam đã tham gia thượng đài với rất nhiều lần toàn thắng trước các võ sư đến từ những quốc gia lân bang như Cao Miên, Lào, Xiêm. Trước năm 1975, ở miền Nam cũng đã có Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam của Tổng nha Thanh niên trực thuộc Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên.


    - Môn phái thứ tư: Các môn phái có nguồn gốc từ Trung Hoa
    Sự giao lưu, ảnh hưởng lâu đời từ Trung Hoa trong suốt trường kỳ lịch sử đã tạo nên ở Việt Nam những hệ phái võ thuật do các võ sư Trung Quốc hoặc võ sư Việt giảng dạy. Có một đặc điểm chung nhất cho các môn phái có nguồn gốc Trung Hoa hiện đang được giảng dạy tại Việt Nam: Hầu hết là những hệ thống đã ít nhiều cải biên cho phù hợp với thể chất và văn hóa của người Việt. Danh sách không đầy đủ các môn phái có nguồn gốc Trung Hoa trên lãnh thổ Việt Nam gồm: Bắc Mã Sơn, Lâm Sơn Động, Phật gia quyền, Không Động, Vĩnh Xuân Quyền (Việt Nam), Thiếu Sơn Phật Gia, Thiếu Lâm Long Phi, Thiếu Lâm Bắc Truyền Thiên Mục Sơn...


    - Môn phái thứ năm: Võ thuật cổ truyền Việt Nam ở nước ngoài
    Theo bước chân của người Việt đến khắp thế giới, có nhiều kỹ thuật võ Việt Nam đã đến với nước ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây như Pháp và một số nước châu Âu, Mỹ, Canada. Có đến 22 môn phái võ thuật có cội nguồn từ Võ thuật Việt Nam tại Pháp, và có đến 30.000 võ sinh theo học. Một số võ phái tại Pháp được coi là "cái nôi của võ thuật Việt Nam tại nước ngoài" như: Cửu Long võ đạo, Võ trận Đại Việt, Nam Hổ Quyền, Phái Trung Hòa...
    Võ thuật cổ truyền ở Việt Nam đa dạng và được sắp xếp thành 5 môn phái rõ ràng. Hiện nay, việc tìm hiểu và lưu giữ các môn phái võ thuật ngày càng chiếm giữ vị trí hết sức quan trọng góp phần kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của võ thuật nước nhà.

    Võ thuật cổ truyền trong thời kỳ hiện đại

    a/ Võ thuật cổ truyền  dành cho quân đội
    Trước thế kỷ 16, vua chúa bổ dụng các võ tướng trong triều dựa trên những cống hiến, công trạng hoặc gia thế của họ, chứ không phải qua thi tuyển. Do đó, đa số các võ tướng cao cấp trong triều đều là người của hoàng gia.

    Năm 1253, triều Trần cho lập Giảng Võ Đường, một trường rèn luyện võ dành cho hoàng thân quốc thích là các võ tướng. Cũng khoảng thời gian này, Trần Quốc Tuấn, danh tướng của thời Trần đã soạn ra cuốn binh thư đầu tiên theo những tiêu chuẩn của thời đó

    Nhờ dạy và học võ, thời Trần có nhiều tướng lĩnh nổi tiếng, trong đó phải kể đến Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư và Phạm Ngũ Lão. Các nhà sử học còn nghi nhận những đóng góp của họ đối với những chiến thắng của người Việt trước quân Nguyên Mông.

    b/ võ để nghiên cứu

    Năm 1721 dưới thời vua Lê Dụ Tông(1679-1731), trường đào tạo võ đầu tiên cho quảng đại quần chúng , gọi là Võ học sở, được mở tại kinh đô Thăng Long Hà nội. Vua còn bổ nhiệm một vị quan chịu trách nhiệm giảng dạy binh pháp. Chúa Trịnh Cương rất chú trọng đào tạo các tướng lãnh.

    c/ võ để thi tuyển

    Rèn luyện và thi tuyển võ được tổ chức như thế nào tại triều dình?

    Chúa Trịnh Cương cho biên soạn những quy dịnh và thể chế thi tuyển võ học. Các kỳ thi được tổ chức 3 năm một lần. Vào các năm Tý Ngọ Mão Dậu, kỳ thi được tổ chức ở cấp hương thôn, gọi là sở cử. Trong khi đó, kỳ thi Hội ( bác cử) diễn ra tại Thăng Long vào các năm Thìn, Tuất Sửu Mùi.

    Mỗi kỳ thi gồm 3 phần. Phần thứ nhất là kiểm tra hiểu biết của thí sinh về binh pháp cổ, phần hai về công phu võ học ( cưỡi ngựa, bắn cung, múa kiếm, múa côn), còn phần thứ ba là kiến thức về chiến thuật và chiến lược quân sự

    Năm 1731, chúa Trịnh Tráng tiếp tục soạn thêm những quy định về võ thí sau khi ông nhận ra rằng nhiều võ sinh xuất sắc đã trượt trong phần thi viết luận về chiến lược dung binh. Theo những quy định mới này, công phu võ học được nhấn mạnh hơn là kiến thức về chiến lược quân sự.

    Triều Lê( 1428-1527) cho mở các trường rèn võ. tổ chức các kỳ thi võ, xây võ miếu vào năm 1740 để thờ những binh gia nổi tiếng của Trung Hoa và Việt nam như Võ thành Vương, Tôn Tử, Quản Tử và Trần Quốc Tuấn

    Thời vua Lê Chúa Trịnh (1428-1788) 19 cuộc thi võ đã được tổ chức, lấy đỗ 200 võ sinh. Các kỳ thi này ngừng lại khi Nguyễn Huệ (1753-1792) sau này là vua Quang Trung)-một anh hùnh dân tộc đồng thời là nhà chiến lược kiệt suất-đem quân ra miền Bắc để phù Lê, diệt Trịnh. Sau đó, những cuộc thi này lại được tổ chức trở lại.

    Thường thì những thí sinh vượt qua các kỳ thi võ đều rất trẻ. Tuynhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ. Ví dụ, Nguyễn Thời Lý và Nguyễn Đình Thạch đã thi đỗ ở tuổi 85 và 78. Một vài dòng họ có nhiều người đỗ đạt trong các kỳ thi võ, chẳng hạn Vũ Tá ở xã Hoàng hà ( Hà Tĩnh) có 13 người đỗ vào thời Lê Trịnh


    Các vua Nhà Nguyễn (1802-1945) cố gắng mở rộng bờ cõi xuống phía nam nên rất chú trọng đến việc tuyển chọn và rèn quan võ. Năm 1836, vua Minh mạng ban hành đạo dụ nói rõ: để cai trị đất nước, cần chú ý cả tới văn trị và võ công. Hiện nay có nhiều bậc anh hùng tuấn kiệt rất giỏi binh thư và võ nghệ. Họ cần được tuyển chọn để triều đình bổ dụng.

    Nhà vua còn đặt ra những chế định cho các kỳ thi võ thi Hương và thi Hội. Theo quy định, thì thi Hương được tổ chức vào các năm Dần, Thân Tỵ, Hợi. Thi Hội được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ Mão Dậu. Kỳ thi Hương đầu tiên dưới thời Nguyễn được tổ chúc năm 1837

    Các cuộc thi võ ở Huế ( kinh đô của nhà Nguyễn), thường được tổ chức vào tháng 7 âm lịch, vào ngày 12 tháng 7 các thí sinh tụ về trường thi. Từ nghày 15 đến 17 tháng 7, họ tham dự vòng thi đầu tiên là hai tay xách hai cục chì nặng rồi đi được càng xa càng tốt. Họ được xếp hạng ưu nếu quãng đường dài hơn 18 trượng ( một trượng tương đương 1.7m),14 trượng là thứ, 10 trượng là bình, và dưới 8 trượng là liệt.

    Phần thi thứ hai diễn ra tứ 19 đên 21 tháng 7, trong đó thí sinh phải chứng tỏ kỹ năng chiến đấu tay không và sử dụng vũ khí như côn, đao và khiên. Họ còn phải dùng thiết côn ( gậy sắt) nặng khoảng 18kg để đấu đối kháng. Thêm vào đó, họ phải dùng thương dài 3,3 m đâm trúng hình nộm bằng rơm

    Trong vòng thi thứ 3 ( từ 23 đến 25 tháng 7) các thí sinh được kiểm tra kỹ năng bắn súng.

    Vào ngày 27 tháng 7, triều đình sẽ xướng danh các thí sinh trúng tuyển. Trước khi được sung quân vào ngày 2 tháng 8, họ phải qua một vòng khảo thí về võ kinh thất thư ( bảy bộ sách kinh điển về võ học) là Tôn Tử, Ngô Tử, Lục Thao, Tư Mã Pháp, Hòng Thạch Công tam lược, Uất Liêu Tư vấn đáp và Lý Vệ Công vấn đối. Họ có thể tuỳ ý chọn và chứng tỏ khả năng của mình với một trong 18 món binh khí. Nói chung, thì võ dưới thời Nguyễn tổ chức một cách có hệ thống và nghiêm ngặt. Tuy nhiên, một số võ sinh vẫn tìm cách gian lận. Chẳng hạn một thí sinh đã tìm cách thi hộ cho thí sinh khác trong một kỳ thi. Vì vậy, vua Tự Đức (1829-1883) phải ban chỉ dụ, quy định rõ ràng những định lệ thưởng phạt trong thi võ. Theo chỉ dụ này, các thí sinh lén mang sách vở hoặc bị bắt quả tang gian lận trong thi cử sẽ lập tức bị giám quan đuổi ra. Những người vào thi với trang phục bẩn thỉuhoặc nhếch nhác cũng bị loại. Nếu một thí sinh bị bắt quả tang dự thi dưới tên người khác thì cả hai người liên can sẽ bị buộc phải tòng quân. Những người đút lót cũng sẽ bị phạt.

    Từ năm 1802 đến 1884, nhà Nguyễn tổ chức 74 kỳ thi ở các cấp khác nhau. Tổng số có 3893 thí sinh vượt qua các kỳ thi cả văn lẫn võ.

    Các kỳ thi võ chính thức ở Việt nam chấm dứt vào năm 1880 khi người Pháp tăng cường nền cai trị của họ tại Việt nam.

    Là 1 người học võ và tập Gym mình được hướng dẫn khá kĩ về chế độ ăn uống dinh dưỡng để tăng cường thể lực tập luyện và phát triển cơ bắp tốt nhất. Mình biết các công dụng của các dạngthực phẩm giàu năng lượng, giàu Protein, dù vậy mình vẫn giành các buổi cuối tuần để nạp thêm một loại bánh ngọt, đó là bánh tiramisu.


    Khỏi cần phải giới thiệu nhiều thì ai cũng biết món bánh kem quá nổi tiếng của Ý này
    Lần đầu tiên mình được ăn Tiramisù là cách đây khoảng gần 2 năm, trong buổi party với những người “đồng nghiệp” mới ở cty anh. Hôm ấy mỗi người đến đều phải đem đóng góp một món ăn/món tráng miệng, và có 1 bạn Indo đã làm cái Tiramisù. Thú thực là hôm ấy ăn nhớ mỗi vị rượu thơm và vị bánh mát lạnh, chứ chả nhớ được gì trong buổi nhộm nhoạm ấy khi bao nhiêu người lao vào “xâu xé” cái bánh.


    Lần đầu tiên mình làm Tiramisù, cũng là lần thứ 2 được nếm lại tỉ mỉ và chăm chú chiếc bánh, từ lúc ngâm cứu cách làm, rồi đến lúc lọ mọ đi làm những chiếc bánh Lady Fingers để chuẩn bị cho chiếc bánh “kinh điển” (đối với 1 đứa tò te như mình thì Tiramisù là kinh điển thật). Vì tự làm lady fingers, cũng lại lần đầu làm, nên mình không dự tính được trước số lượng bánh, và cũng là để tận dụng số trứng còn thừa từ lần làm bánh trước, vì thế hơi thiếu lady fingers. Kết quả là chiếc Tiramisù của mình có lớp bánh rất mỏng và lớp kem “đề huề”.
    Thông tin thêm giành cho bạn:
    Bánh Kem Ngon Mỗi Ngày
    Tiệm bánh kem banhkem.org - Bánh sinh nhật cho tiệc vui
    ★ ★ ★ ★ ★ Xếp hạng: 5.0 - ‎79 phiếu bầu Chất lượng bánh ngon, Nhiều mẫu bánh kem ấn tương đẹp cho sinh nhật, Hội nghị Thôi nôi Cưới hỏi O975.263.899 đặt bánh kem in hình ảnh ăn được, hương vị bánh ngon, đa dạng..
    Bánh kem ngon >> banhkem org



    Chiếc Tiramisù kết tụ tất cả những vị mà mình vô cùng yêu thích: vị đắng của cà phê, vị thơm và hơi cay của Rhum, vị ngậy của cheese, thêm nữa còn có chocolate, rồi cảm giác những chiếc lady fingers tan mềm trong miệng khi ăn nữa. Túm lại là vô cùng thích chiếc bánh này
    Tiramisù
    Nguyên liệu: (vì không có khuôn chuyên dụng nên mình đành dùng chiếc loaf pan để làm tạm, vì thế mình phải lót cling film bên trong và để miếng nylon thò ra bên ngoài, khi làm xong còn có thể cầm và nhấc bánh ra khỏi khuôn)
    * Cho phần kem:
    - 2 cups (480ml) sữa tươi
    - 110g đường trắng
    - 35g bột mì đa dụng
    - 6 lòng đỏ trứng
    - 60ml dark Rhum
    - 2 tsp vanilla
    - 57g bơ nhạt, cắt thành miếng nhỏ
    - 227g mascarpone cheese
    * Lady Fingers: khoảng 3 chục cái hoặc nhiều hơn để nhỡ có cần thêm 
    * Cà phê để nhúng bánh:
    - 360ml cà phê espresso đậm đặc (cà phê càng đặc, càng thơm thì càng ngon, nên dùng loại hạt cà phê thật là ngon cho đỡ phí công làm tiramisù)
    - 40g đường trắng
    - 60ml dark rhum
    * Topping: bột cacao, chocolate, strawberry hoặc raspberry tươi
    Cách làm:
    * Phầm Cream:
    - Dùng nồi nhỡ, để lửa vừa, đun 420ml sữa tươi và 75g đường đến khi vừa sôi. (1)
    - Trong 1 nồi khác, đánh đều hỗn hợp gồm 60ml sữa tươi, 35g đường, bột mì và lòng đỏ. Sữa (1) vừa sôi thì đổ từ từ vào hỗn hợp này, vừa đổ vừa ngoáy đều. Sau đó đưa nồi này lên đun lửa vừa cho đến khi sôi, trong khi đó vẫn liên tục ngoáy hỗn hợp sữa đến khi hỗn hợp đặc lại thì đổ ra 1 bát khác. Cho rượu Rhum, vanilla 1157573_535393639866944_2097186152_nvà bơ vào, đánh đều. Đậy kín miệng bát lại ngay và cho vào tủ lạnh (khoảng 2 tiếng)
    - Dùng thìa gỗ đánh cho mascarpone mềm và mượt, sau đó trộn mascarpone vào kem đã để lạnh, trộn thật đều, nhuyễn.
    * Làm cà phê: cho đường và Rhum vào espresso, ngoáy cho tan đường.
    * Dùng loaf pan kích cỡ 23x13x8 cm, lót nylon thực phẩm, chừa nylon để lúc sau có chỗ cầm nhấc bánh ra.
    Nhúng từng chiếc lady fingers vào hỗn hợp cà phê rồi xếp thành 1 lớp kín đáy khuôn. Sau đó đổ 1/3 lượng kem vào, dàn đều. Lặp lại 2 bước này đến khi hết lady fingers và kem. (Thực chất bước này cần linh động. Vì lady fingers mình làm hơi bé và mỏng, nên khi nhúng thì nó xẹp đi còn mỏng hơn, vì thế mình phải xếp 2 lớp lady fingers, sau đó mới đến lớp kem. Quan trọng là phải xếp từng lớp lady fingers thật kín để kem và bánh tách biệt từng lớp, không bị lẫn với nhau. Khi nhúng lady fingers vào cà phê thì bánh lập tức nhũn ra rất nhanh, vì vậy nhanh chóng và khéo léo đặt bánh vào khuôn luôn, không nên ngâm bánh lâu trong nước cà phê không nó sẽ tan ra không cầm được).
    Sau khi bánh đã nguyên vẹn trong khuôn thì che kín lại bằng nylon thực phẩm, rồi để trong tủ lạnh ít nhất 6h hoặc qua đêm.

    Bánh kem ý Tiramisu hấp dẫn giới tập võ thuật

    Posted at  tháng 11 09, 2018  |  in  Chia-sẻ  |  Read More»

    Là 1 người học võ và tập Gym mình được hướng dẫn khá kĩ về chế độ ăn uống dinh dưỡng để tăng cường thể lực tập luyện và phát triển cơ bắp tốt nhất. Mình biết các công dụng của các dạngthực phẩm giàu năng lượng, giàu Protein, dù vậy mình vẫn giành các buổi cuối tuần để nạp thêm một loại bánh ngọt, đó là bánh tiramisu.


    Khỏi cần phải giới thiệu nhiều thì ai cũng biết món bánh kem quá nổi tiếng của Ý này
    Lần đầu tiên mình được ăn Tiramisù là cách đây khoảng gần 2 năm, trong buổi party với những người “đồng nghiệp” mới ở cty anh. Hôm ấy mỗi người đến đều phải đem đóng góp một món ăn/món tráng miệng, và có 1 bạn Indo đã làm cái Tiramisù. Thú thực là hôm ấy ăn nhớ mỗi vị rượu thơm và vị bánh mát lạnh, chứ chả nhớ được gì trong buổi nhộm nhoạm ấy khi bao nhiêu người lao vào “xâu xé” cái bánh.


    Lần đầu tiên mình làm Tiramisù, cũng là lần thứ 2 được nếm lại tỉ mỉ và chăm chú chiếc bánh, từ lúc ngâm cứu cách làm, rồi đến lúc lọ mọ đi làm những chiếc bánh Lady Fingers để chuẩn bị cho chiếc bánh “kinh điển” (đối với 1 đứa tò te như mình thì Tiramisù là kinh điển thật). Vì tự làm lady fingers, cũng lại lần đầu làm, nên mình không dự tính được trước số lượng bánh, và cũng là để tận dụng số trứng còn thừa từ lần làm bánh trước, vì thế hơi thiếu lady fingers. Kết quả là chiếc Tiramisù của mình có lớp bánh rất mỏng và lớp kem “đề huề”.
    Thông tin thêm giành cho bạn:
    Bánh Kem Ngon Mỗi Ngày
    Tiệm bánh kem banhkem.org - Bánh sinh nhật cho tiệc vui
    ★ ★ ★ ★ ★ Xếp hạng: 5.0 - ‎79 phiếu bầu Chất lượng bánh ngon, Nhiều mẫu bánh kem ấn tương đẹp cho sinh nhật, Hội nghị Thôi nôi Cưới hỏi O975.263.899 đặt bánh kem in hình ảnh ăn được, hương vị bánh ngon, đa dạng..
    Bánh kem ngon >> banhkem org



    Chiếc Tiramisù kết tụ tất cả những vị mà mình vô cùng yêu thích: vị đắng của cà phê, vị thơm và hơi cay của Rhum, vị ngậy của cheese, thêm nữa còn có chocolate, rồi cảm giác những chiếc lady fingers tan mềm trong miệng khi ăn nữa. Túm lại là vô cùng thích chiếc bánh này
    Tiramisù
    Nguyên liệu: (vì không có khuôn chuyên dụng nên mình đành dùng chiếc loaf pan để làm tạm, vì thế mình phải lót cling film bên trong và để miếng nylon thò ra bên ngoài, khi làm xong còn có thể cầm và nhấc bánh ra khỏi khuôn)
    * Cho phần kem:
    - 2 cups (480ml) sữa tươi
    - 110g đường trắng
    - 35g bột mì đa dụng
    - 6 lòng đỏ trứng
    - 60ml dark Rhum
    - 2 tsp vanilla
    - 57g bơ nhạt, cắt thành miếng nhỏ
    - 227g mascarpone cheese
    * Lady Fingers: khoảng 3 chục cái hoặc nhiều hơn để nhỡ có cần thêm 
    * Cà phê để nhúng bánh:
    - 360ml cà phê espresso đậm đặc (cà phê càng đặc, càng thơm thì càng ngon, nên dùng loại hạt cà phê thật là ngon cho đỡ phí công làm tiramisù)
    - 40g đường trắng
    - 60ml dark rhum
    * Topping: bột cacao, chocolate, strawberry hoặc raspberry tươi
    Cách làm:
    * Phầm Cream:
    - Dùng nồi nhỡ, để lửa vừa, đun 420ml sữa tươi và 75g đường đến khi vừa sôi. (1)
    - Trong 1 nồi khác, đánh đều hỗn hợp gồm 60ml sữa tươi, 35g đường, bột mì và lòng đỏ. Sữa (1) vừa sôi thì đổ từ từ vào hỗn hợp này, vừa đổ vừa ngoáy đều. Sau đó đưa nồi này lên đun lửa vừa cho đến khi sôi, trong khi đó vẫn liên tục ngoáy hỗn hợp sữa đến khi hỗn hợp đặc lại thì đổ ra 1 bát khác. Cho rượu Rhum, vanilla 1157573_535393639866944_2097186152_nvà bơ vào, đánh đều. Đậy kín miệng bát lại ngay và cho vào tủ lạnh (khoảng 2 tiếng)
    - Dùng thìa gỗ đánh cho mascarpone mềm và mượt, sau đó trộn mascarpone vào kem đã để lạnh, trộn thật đều, nhuyễn.
    * Làm cà phê: cho đường và Rhum vào espresso, ngoáy cho tan đường.
    * Dùng loaf pan kích cỡ 23x13x8 cm, lót nylon thực phẩm, chừa nylon để lúc sau có chỗ cầm nhấc bánh ra.
    Nhúng từng chiếc lady fingers vào hỗn hợp cà phê rồi xếp thành 1 lớp kín đáy khuôn. Sau đó đổ 1/3 lượng kem vào, dàn đều. Lặp lại 2 bước này đến khi hết lady fingers và kem. (Thực chất bước này cần linh động. Vì lady fingers mình làm hơi bé và mỏng, nên khi nhúng thì nó xẹp đi còn mỏng hơn, vì thế mình phải xếp 2 lớp lady fingers, sau đó mới đến lớp kem. Quan trọng là phải xếp từng lớp lady fingers thật kín để kem và bánh tách biệt từng lớp, không bị lẫn với nhau. Khi nhúng lady fingers vào cà phê thì bánh lập tức nhũn ra rất nhanh, vì vậy nhanh chóng và khéo léo đặt bánh vào khuôn luôn, không nên ngâm bánh lâu trong nước cà phê không nó sẽ tan ra không cầm được).
    Sau khi bánh đã nguyên vẹn trong khuôn thì che kín lại bằng nylon thực phẩm, rồi để trong tủ lạnh ít nhất 6h hoặc qua đêm.

    Hàng loạt Fan nữ phải ghen tỵ khi  cậu thủ tài năng điển trai Hà Đức Chinh bay vào comment: " Bạn ý đang cảm cúm, chảy nước mũi kìa" trên facebook Cô bé Tick Tok  siêu dễ thương " Anh ơi anh có người yêu chưa?"

    Có ai đoán được cô bé Tick Tok fan CLB bóng đá nào không?


    Video Tik Tok ngắn ngủi hút người xem:

    Cô bé là ai? Với lời nhắn nhủ trước Trung thu thì có bao nhiêu chàng trai FA thực hiện được lời cô bé? "Rứa thì anh lo tìm người yêu đi nhé. Sắp trung thu rồi đó" và cô bé nhận được bao nhiêu chiếc bánh trung thu?
    Sự thật hồn nhiên về cô bé Tick Tok chỉ ngắn ngủi như Video dài 12s: Cô bé sinh 2001, tên thật là Trần Lê Thế Trâm chất giọng đậm chất Xứ Nghệ nhưng lại sống tại Đắc Lắc.
    Link facebook: https://www.facebook.com/tramthetr291
     Còn về chỉ xin mượn lời của các Facebooker để miêu tả:
    "Vừa xinh đẹp lại còn dễ thương nữa, nhìn đáng yêu thật đấy", "Cứ tưởng con gái xứ Nghệ, hóa ra lại đến từ Đắk Lắk. Mặt dễ thương quá"Sự nổi tiếng làm cho cô bé khá thích thú: lời mới kết bạn tăng hàng loạt, sau mấy ngày lượt theo dõi tăng lên hàng chục ngàn, nhưng cũng không ít rắc rối và lo lắng khi Facebook bị Fake và bị report.
    Trâm tâm sự: Trâm nói: “Em vui khi mọi người quan tâm và yêu quý mình, nhưng em cũng chỉ muốn có một cuộc sống yên bình, nhẹ nhàng bên gia đình. Việc bất ngờ nổi tiếng là điều chưa bao giờ em nghĩ đến”.
    Một số video ngắn không kém dễ thương từ Trần Lê Thế Trâm:



    Cô bé Gặm nhấm Tick Tốk



       
    Trái tim 4 ngắn


       
    Bức tường âm nhạc


    Cùng xem nét đẹp trong sáng hồn nhiên của cô bé Tik Tok " anh ơi anh có người yêu chưa"
    Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnh


    Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnh
    Nghe nhạc là phải chất

    Trong hình ảnh có thể có: 1 người, ảnh tự sướng và cận cảnh

    Hương đưa nhè nhẹ làn môi ướt
    Gió lướt tóc mềm khẽ khàng bay
    Ai hay đọng lại hồn thi sĩ
    ý nhị thơ ngây mảnh trang gầy
                               Xem thêm 



    Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người
    Vinfast có lẽ phải mời cô bé làm mẫu cho dòng xe máy điện mới khi xem bức ảnh này!

    Cuối cùng  xin gửi lời tới cô bé:
    " Em ơi em có "Ai" chưa
    Để anh khăn gói sang thưa mẹ thầy
    Trầu cau ngũ quả đủ đầy
    Đợi ngày em lớn sum vầy, nghe em!"

    Cô gái Tik Tok " Anh ơi anh có người yêu chưa? " "dắt mũi" Hà Đức Chinh

    Posted at  tháng 11 07, 2018  |  in    |  Read More»

    Hàng loạt Fan nữ phải ghen tỵ khi  cậu thủ tài năng điển trai Hà Đức Chinh bay vào comment: " Bạn ý đang cảm cúm, chảy nước mũi kìa" trên facebook Cô bé Tick Tok  siêu dễ thương " Anh ơi anh có người yêu chưa?"

    Có ai đoán được cô bé Tick Tok fan CLB bóng đá nào không?


    Video Tik Tok ngắn ngủi hút người xem:

    Cô bé là ai? Với lời nhắn nhủ trước Trung thu thì có bao nhiêu chàng trai FA thực hiện được lời cô bé? "Rứa thì anh lo tìm người yêu đi nhé. Sắp trung thu rồi đó" và cô bé nhận được bao nhiêu chiếc bánh trung thu?
    Sự thật hồn nhiên về cô bé Tick Tok chỉ ngắn ngủi như Video dài 12s: Cô bé sinh 2001, tên thật là Trần Lê Thế Trâm chất giọng đậm chất Xứ Nghệ nhưng lại sống tại Đắc Lắc.
    Link facebook: https://www.facebook.com/tramthetr291
     Còn về chỉ xin mượn lời của các Facebooker để miêu tả:
    "Vừa xinh đẹp lại còn dễ thương nữa, nhìn đáng yêu thật đấy", "Cứ tưởng con gái xứ Nghệ, hóa ra lại đến từ Đắk Lắk. Mặt dễ thương quá"Sự nổi tiếng làm cho cô bé khá thích thú: lời mới kết bạn tăng hàng loạt, sau mấy ngày lượt theo dõi tăng lên hàng chục ngàn, nhưng cũng không ít rắc rối và lo lắng khi Facebook bị Fake và bị report.
    Trâm tâm sự: Trâm nói: “Em vui khi mọi người quan tâm và yêu quý mình, nhưng em cũng chỉ muốn có một cuộc sống yên bình, nhẹ nhàng bên gia đình. Việc bất ngờ nổi tiếng là điều chưa bao giờ em nghĩ đến”.
    Một số video ngắn không kém dễ thương từ Trần Lê Thế Trâm:



    Cô bé Gặm nhấm Tick Tốk



       
    Trái tim 4 ngắn


       
    Bức tường âm nhạc


    Cùng xem nét đẹp trong sáng hồn nhiên của cô bé Tik Tok " anh ơi anh có người yêu chưa"
    Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnh


    Trong hình ảnh có thể có: 1 người, cận cảnh
    Nghe nhạc là phải chất

    Trong hình ảnh có thể có: 1 người, ảnh tự sướng và cận cảnh

    Hương đưa nhè nhẹ làn môi ướt
    Gió lướt tóc mềm khẽ khàng bay
    Ai hay đọng lại hồn thi sĩ
    ý nhị thơ ngây mảnh trang gầy
                               Xem thêm 



    Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người
    Vinfast có lẽ phải mời cô bé làm mẫu cho dòng xe máy điện mới khi xem bức ảnh này!

    Cuối cùng  xin gửi lời tới cô bé:
    " Em ơi em có "Ai" chưa
    Để anh khăn gói sang thưa mẹ thầy
    Trầu cau ngũ quả đủ đầy
    Đợi ngày em lớn sum vầy, nghe em!"

    About-Privacy Policy-Contact us
    Copyright © 2013 Võ thuật Cổ Truyền - Võ Cổ Truyền Việt Nam - tin tức liên đoàn Võ thuật cổ truyền. Distributed By Võ thuật cổ truyền Việt Nam | https://banhngot.vn by https://banhngot.vn/ cung cấp Giỏ quà tết Bình Dương
    Proudly Powered by Võ Cổ truyền Việt Nam Phát triển xây dựng nội sung Bánh ngọtViệt Nam Bánh kem Hương vị Việt #banhngotvn Xem nhiều mẫu bánh sinh nhật võ thuật Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương Xem nhiều Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương
    back to top