• Featured

    Chia sẻ thông tin kiến thức, phương pháp tập luyện, chế độ dinh dưỡng cần thiết võ cổ truyền

  • Featured

    Don't miss these 10 Things if you are going for Picnic.

  • Articles

    iPhone 6 Will Look Like

  • Articles

    Solar Powered UAVs To Replace Satellites

  • Học võ.
    Người xưa dạy rằng: “Tập võ chi đạo có thể được cường thân, mẫn trí. Một người tập võ thì được cường thân, một nhà tập võ thì được cường tộc. Đường lối của võ thuật trước tiên là phải trọng võ đức, muốn có võ đức phải hiểu rõ công lý, muốn hiểu rõ công lý thì phải có học vấn.” Võ thuật là môn học rộng lớn, thâm sâu, có tính khoa học, nghệ thuật, giáo dục văn hoá truyền thống…

    Võ là khoa học, nghệ thuật vì võ dạy cho con người phương pháp rèn luyện sức khoẻ, phát triển sức mạnh, ngăn ngừa bệnh tật theo khoa học giáo dục thể chất trong một nghệ thuật thần kỳ nuôi dưỡng tinh – khí – thần và nghệ thuật tự vệ, chiến đấu. Khoa học võ thuật đích thực có các nguyên lý cấu thành và liên hệ mật thiết với những khoa học tương cận như vật lý học, sinh học, y học, quân sự…Đặc biệt là triết học Đông phương.

    Võ là giáo dục văn hóa truyền thống vì võ dạy cho người học biết nuôi dưỡng nhân tính và sống theo đạo lý trong một tôn chỉ rèn luyện nhân cách làm người.


    Việc luyện tập võ thuật là một cuộc trường chinh để tự thắng chính mình, đưa con người đến sự giản dị, điềm đạm, khiêm tốn, đạt đến chân – thiện – mỹ trong cuộc sống. Chỉ có những ai không đi hết trọn con đường mới phải tự quảng cáo, khoe khoang, biện bạch. Trong tập sách Từ sinh lý đến dưỡng sinh, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã viết: “Tập vận động cho thân thể có nhiều cách, có những vận động tự nhiên như chạy, nhảy, bơi lội…thì ai cũng nên tập. Ngoài ra còn có các môn thể dục, thể thao tay không hay dụng cụ nhưng muốn rèn luyện để có các vận động điêu luyện thì tập võ là phương pháp hay nhất.”

    Thật vậy, tuy võ thuật có đặc thù là chiến đấu nhưng tập võ còn là phương pháp tốt để nâng cao sức khỏe, qua đó con người có thể rèn luyện được nhiều đức tính quý báu như bền bỉ, chịu đựng, nhanh nhẹn, mưu trí, gan dạ và nhất là ở đỉnh cao người học võ thì khiêm tốn, điềm đạm, giản dị, giàu lòng vị tha và nhân ái. Thuật làm cho thân thể được khoẻ mạnh có rất nhiều. Biết được một thuật đủ để cho thân thể khoẻ mạnh và sống lâu. Võ thuật là một trong các nghệ thuật đó. Võ thuật không chỉ là loại hình vận động thể dục thể thao giản đơn mà còn là một hiện tượng văn hoá thần kỳ với những thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái… những công phu đặc dị, khí công, âm dương, ngũ hành, điểm huyệt, giải huyệt…

    Do vậy cổ nhân thường ví võ học sâu như Đông hải, rậm rạp như rừng, mênh mông như biển cả. Võ thuật là giáo dục, văn hoá truyền thống, khoa học, quân sự, là phương pháp rèn luyện tu tập thể chất lẫn tinh thần và là môn học mang lại nhiều bổ ích. Đức Phật Thích Ca dạy các đệ tử rằng: “Đánh thắng vạn quân không bằng tự thắng chính mình, tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”.

    Tứ thư, Ngũ kinh là những bộ sách lớn, có giá trị trên nhiều phương diện, nhất là giáo dục. Chương thứ I, sách Đại học, bộ Tứ thư, luận về sự học viết:

    Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.
    Tri chỉ, nhi hậu hữu định. Định, nhi hậu năng tĩnh. Tĩnh, nhi hậu năng an. An, nhi hậu năng lự. Lự, nhi hậu năng đắc.
    Vật hữu bổn mạt; sự hữu chung, thuỷ. Tri sở tiên, hậu, tắc cận đạo hỹ.
    Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc. Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm. Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý. Dục thành kỳ ý giả, tiên tri kỳ tri. Trí tri tại cách vật.
    Vật cách, nhi hậu tri chí. Tri chí, nhi hậu ý thành. Ý thành, nhi hậu tâm chính. Tâm chính, nhi hậu thân tu. Thân tu, nhi hậu gia tề. Gia tề, nhi hậu quốc trị. Quốc trị, nhi hậu thiên hạ bình.
    Tự Thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Kỳ bản loạn, nhi mạt trị giả, phủ hỹ. Kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu giã.
    Khang Cáo viết: “ Khắc minh đức”.
    Thái Giáp viết: “Cố thị Thiên chi minh mệnh”.
    Đế Diễn viết: “Khắc minh tuấn đức”. Giai tự minh giã.

    Dịch nghĩa

    Cái đạo của đại học là ở tỏ đức sáng, ở mới dân và ở chỗ chỉ ư chí thiện.
    Trước hết phải biết mục đích, rồi sau mới quyết định, quyết định rồi bình tĩnh, bình tĩnh rồi sau mới vững được tinh thần. Tinh thần có vững mới nghĩ được những công việc cho đi đến kết quả.
    Vật có gốc ngọn, việc có trước sau. Biết phân biệt thứ tự là gần với đạo vậy.
    Người đời xưa muốn tỏ đức sáng cho thiên hạ biết thì trước khi trị nước phải lo cho yên nhà. Muốn lo cho yên nhà, trước hết phải sửa mình. Muốn sửa mình thì tâm phải ngay thẳng, ý chí phải thành thật. Muốn cho tâm được ngay thẳng, ý chí đươc thành thật, thì trước hết phải thông suốt vấn đề, phải hiểu lẽ sự vật.
    Hiểu lẽ sự vật rồi sau mới thông suốt vấn đề, rồi ý chí mới thành thật. Ý chí thành thật rồi tâm mới ngay thẳng. Tâm ngay thẳng rồi thân mới sửa. Thân sửa rồi nhà mới yên. Nhà yên rồi sau nước mới trị. Nước có trị rồi thiên hạ mới bình được.
    Từ Thiên tử cho đến người thường dân, ai ai cũng lấy sửa mình làm gốc cả. Gốc loạn mà ngọn yên không bao giờ có vậy. Cũng như chưa có ai đối với người hậu với mình mà xử bạc, đối với người bạc mà xử hậu.
    Thiên Khang Cáo nói: Phải làm cho sáng đức.
    Thiên Thái Giáp nói: Bao giờ cũng phải xét kỹ cái mệnh sáng của trời.
    Thiên Đế Diễn nói: Phải sáng đức lớn.
    Tất cả đều nói phải tự làm sáng đức mình vậy.
    (Tạ Thanh Bạch dịch chú)

    “Học võ là học đạo, trước tiên là đạo làm người, học võ còn để rèn luyện thân thể, lấy “dục thể, dục trí, dục đức” làm mục đích phấn đấu, bất luận trong hoàn cảnh nào, tinh thần thượng võ phải được tôn trọng. Người biết võ nên đóng góp công sức vào những việc ích nước lợi dân. Người giỏi võ mà kém trí đức chỉ là hạng võ biền hại người hại mình.” (Võ sư Hoắc Nguyên Giáp – Tinh võ môn)

    Dạy võ

    Thầy: tiếng gọi thiêng liêng, như tiếng gọi cha, gọi mẹ. Thầy là “sư phụ”, xưa quan niệm thầy là thiên chức không phải là nghề, thầy dạy chữ là giáo sư, thầy dạy võ là võ sư. Thầy là người có công ơn dạy dỗ, trau giồi, truyền đạt kiến thức, hun đúc ý chí, làm tấm gương soi rọi về nhân phẩm, đạo đức cho học trò noi theo mà nên người. Thành nhân là tôn chỉ của giáo dục. Dân gian có câu: “Không thầy đố mày làm nên”.

    Người xưa quan niệm truyền thụ võ công là việc trang nghiêm, người học đến võ đường phải làm lễ nhập môn, bái tổ, bái sư. Nghi thức ấy xem ra cổ mà kính, đó là khởi nguồn của lễ. Võ thuật bắt đầu bằng lễ và kết thúc cũng bằng lễ. Chính từ những quan niệm xưa ấy mà thầy trò giữ lễ với nhau, lấy nhân nghĩa làm tiêu chí hành xử. Thầy sẽ là tấm gương soi trong sáng cho hậu thế, lời nói đi đôi với việc làm, tri hành hợp nhất. Ngoài khả năng chuyên môn, tư cách đạo đức, người thầy còn làm sáng lên nhân cách xử thế, người học nhìn vào mà noi theo.

    3a39ed0e47vd05.jpg Học võ và dạy võ

    Người xưa trọng tinh thần hơn vật chất, do vậy ít nghe chuyện khoe khoang, quảng cáo, công nghệ đánh phấn tô hồng chữ tôi, mà tâm niệm học võ là để phát huy chữ đức. Thầy quang minh lỗi lạc, chính trực công minh như tướng lĩnh can trường ngoài mặt trận. Chuyện dùng những thủ đoạn thấp hèn, độc quyền xưng bá đồ vương võ lâm là điều không có với những người thầy liêm sỉ. Thầy trượng phu, quân tử coi cuộc đời như thủy bạc, tình nghĩa đón đưa đôi bờ, bốn bể là nhà, đất trời là giang sơn. Văn hóa võ thuật như rừng cây có nhiều gỗ quý.

    Thầy là sự mẫu mực, từ tri thức đến đạo hạnh. Dạy môn sinh bằng tâm đức, lấy lòng yêu thương, tâm huyết truyền thụ võ công, nên có câu: “danh sư xuất cao đồ”. Làm người thật khó, làm thầy thật khó hơn. Quan niệm xưa và nay bây giờ đã khác. Ngày xưa quan niệm: “Hữu xạ tự nhiên hương”, thầy giỏi và đức độ học trò tự “tầm sư học đạo”. Ngày nay kinh tế thị trường, quảng cáo tiếp thị là phương tiện giúp con người tìm đến nhau, nên có thầy đã tìm trò. Chính vì vậy mà nảy sinh chênh lệch đạo lý thầy trò, xã hội nhìn hình ảnh người thầy bằng một góc khác. Võ thuật là môn học đặc thù, trọng võ đức, nêu cao tinh thần thượng võ, thuyền trưởng chết theo tàu, tướng lãnh chết theo thành.

    Dạy võ là dạy nhân cách sống, nhân cách hành xử:

    - Điều thứ nhất là trong võ có đạo, đạo ở đây là đạo đức thuợng võ, đạo làm người, vì vậy người dụng võ trước tiên phải trọng võ đức, khi hành xử phải tự chủ, tự thắng chính mình để tránh được tối đa các kết quả xấu, ngoài ý muốn.

    - Điều thứ hai là võ không chỉ đơn thuần là quyền cước, binh khí chiến đấu mà đỉnh cao của võ là trí tuệ, mưu lược, khôn ngoan, uyển chuyển, khi cần thì lên cao, lúc không cần thì xuống thấp, linh hoạt ẩn hiện như con rồng. Người đánh trăm trận trăm thắng chưa phải là người giỏi nhất, không đánh mà buộc đối phương phải hàng, tâm phục khẩu phục mới thật là người giỏi nhất.

    - Điều thứ ba khi cần thiết phải dụng võ để chiến đấu tự tồn, mưu sinh thoát hiểm thì như mãnh hổ chốn rừng sâu, uy nghi, dũng cảm, cương quyết, tỉnh táo làm chủ trong mọi tình huống.

    - Điều thứ tư là văn ôn võ luyện, võ là hơi thở hằng ngày, là hành trang vạn dặm, có như vậy thì sự học võ mới không hoài công vô ích.

    - Điều thứ năm, là Thiên Mưu Công trong Tôn Tử Binh Pháp viết:
    Biết người biết ta trăm trận không nguy;
    Không biết người chỉ biết ta một được một thua;
    Không biết người không biết ta hễ đánh là nguy.

    Nhưng dù sao đi nữa thì: “Trong thế gian không có hương thơm nào bay ngược được chiều gió, chỉ có hương thơm đức hạnh mới có khả năng bay ngược chiều gió và tỏa ngát muôn phương”. (Kinh Pháp cú).

    Thầy dạy võ là:
    “Sổ hàng di biểu lưu thiên địa.
    Nhất phiến đan tâm phó sử thi”.
    Có nghĩa là:
    Đôi hàng soi dấu lưu muôn thuở.
    Một tấm lòng son tạc sử xanh.
    (Cổ thi)
    Võ sư Trương Văn Bảo
    Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam

    Học võ và dạy võ - triết lý rèn luyện võ thuật cổ truyền và võ hiện đại

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Học võ.
    Người xưa dạy rằng: “Tập võ chi đạo có thể được cường thân, mẫn trí. Một người tập võ thì được cường thân, một nhà tập võ thì được cường tộc. Đường lối của võ thuật trước tiên là phải trọng võ đức, muốn có võ đức phải hiểu rõ công lý, muốn hiểu rõ công lý thì phải có học vấn.” Võ thuật là môn học rộng lớn, thâm sâu, có tính khoa học, nghệ thuật, giáo dục văn hoá truyền thống…

    Võ là khoa học, nghệ thuật vì võ dạy cho con người phương pháp rèn luyện sức khoẻ, phát triển sức mạnh, ngăn ngừa bệnh tật theo khoa học giáo dục thể chất trong một nghệ thuật thần kỳ nuôi dưỡng tinh – khí – thần và nghệ thuật tự vệ, chiến đấu. Khoa học võ thuật đích thực có các nguyên lý cấu thành và liên hệ mật thiết với những khoa học tương cận như vật lý học, sinh học, y học, quân sự…Đặc biệt là triết học Đông phương.

    Võ là giáo dục văn hóa truyền thống vì võ dạy cho người học biết nuôi dưỡng nhân tính và sống theo đạo lý trong một tôn chỉ rèn luyện nhân cách làm người.


    Việc luyện tập võ thuật là một cuộc trường chinh để tự thắng chính mình, đưa con người đến sự giản dị, điềm đạm, khiêm tốn, đạt đến chân – thiện – mỹ trong cuộc sống. Chỉ có những ai không đi hết trọn con đường mới phải tự quảng cáo, khoe khoang, biện bạch. Trong tập sách Từ sinh lý đến dưỡng sinh, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã viết: “Tập vận động cho thân thể có nhiều cách, có những vận động tự nhiên như chạy, nhảy, bơi lội…thì ai cũng nên tập. Ngoài ra còn có các môn thể dục, thể thao tay không hay dụng cụ nhưng muốn rèn luyện để có các vận động điêu luyện thì tập võ là phương pháp hay nhất.”

    Thật vậy, tuy võ thuật có đặc thù là chiến đấu nhưng tập võ còn là phương pháp tốt để nâng cao sức khỏe, qua đó con người có thể rèn luyện được nhiều đức tính quý báu như bền bỉ, chịu đựng, nhanh nhẹn, mưu trí, gan dạ và nhất là ở đỉnh cao người học võ thì khiêm tốn, điềm đạm, giản dị, giàu lòng vị tha và nhân ái. Thuật làm cho thân thể được khoẻ mạnh có rất nhiều. Biết được một thuật đủ để cho thân thể khoẻ mạnh và sống lâu. Võ thuật là một trong các nghệ thuật đó. Võ thuật không chỉ là loại hình vận động thể dục thể thao giản đơn mà còn là một hiện tượng văn hoá thần kỳ với những thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái… những công phu đặc dị, khí công, âm dương, ngũ hành, điểm huyệt, giải huyệt…

    Do vậy cổ nhân thường ví võ học sâu như Đông hải, rậm rạp như rừng, mênh mông như biển cả. Võ thuật là giáo dục, văn hoá truyền thống, khoa học, quân sự, là phương pháp rèn luyện tu tập thể chất lẫn tinh thần và là môn học mang lại nhiều bổ ích. Đức Phật Thích Ca dạy các đệ tử rằng: “Đánh thắng vạn quân không bằng tự thắng chính mình, tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”.

    Tứ thư, Ngũ kinh là những bộ sách lớn, có giá trị trên nhiều phương diện, nhất là giáo dục. Chương thứ I, sách Đại học, bộ Tứ thư, luận về sự học viết:

    Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.
    Tri chỉ, nhi hậu hữu định. Định, nhi hậu năng tĩnh. Tĩnh, nhi hậu năng an. An, nhi hậu năng lự. Lự, nhi hậu năng đắc.
    Vật hữu bổn mạt; sự hữu chung, thuỷ. Tri sở tiên, hậu, tắc cận đạo hỹ.
    Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc. Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm. Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý. Dục thành kỳ ý giả, tiên tri kỳ tri. Trí tri tại cách vật.
    Vật cách, nhi hậu tri chí. Tri chí, nhi hậu ý thành. Ý thành, nhi hậu tâm chính. Tâm chính, nhi hậu thân tu. Thân tu, nhi hậu gia tề. Gia tề, nhi hậu quốc trị. Quốc trị, nhi hậu thiên hạ bình.
    Tự Thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Kỳ bản loạn, nhi mạt trị giả, phủ hỹ. Kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu giã.
    Khang Cáo viết: “ Khắc minh đức”.
    Thái Giáp viết: “Cố thị Thiên chi minh mệnh”.
    Đế Diễn viết: “Khắc minh tuấn đức”. Giai tự minh giã.

    Dịch nghĩa

    Cái đạo của đại học là ở tỏ đức sáng, ở mới dân và ở chỗ chỉ ư chí thiện.
    Trước hết phải biết mục đích, rồi sau mới quyết định, quyết định rồi bình tĩnh, bình tĩnh rồi sau mới vững được tinh thần. Tinh thần có vững mới nghĩ được những công việc cho đi đến kết quả.
    Vật có gốc ngọn, việc có trước sau. Biết phân biệt thứ tự là gần với đạo vậy.
    Người đời xưa muốn tỏ đức sáng cho thiên hạ biết thì trước khi trị nước phải lo cho yên nhà. Muốn lo cho yên nhà, trước hết phải sửa mình. Muốn sửa mình thì tâm phải ngay thẳng, ý chí phải thành thật. Muốn cho tâm được ngay thẳng, ý chí đươc thành thật, thì trước hết phải thông suốt vấn đề, phải hiểu lẽ sự vật.
    Hiểu lẽ sự vật rồi sau mới thông suốt vấn đề, rồi ý chí mới thành thật. Ý chí thành thật rồi tâm mới ngay thẳng. Tâm ngay thẳng rồi thân mới sửa. Thân sửa rồi nhà mới yên. Nhà yên rồi sau nước mới trị. Nước có trị rồi thiên hạ mới bình được.
    Từ Thiên tử cho đến người thường dân, ai ai cũng lấy sửa mình làm gốc cả. Gốc loạn mà ngọn yên không bao giờ có vậy. Cũng như chưa có ai đối với người hậu với mình mà xử bạc, đối với người bạc mà xử hậu.
    Thiên Khang Cáo nói: Phải làm cho sáng đức.
    Thiên Thái Giáp nói: Bao giờ cũng phải xét kỹ cái mệnh sáng của trời.
    Thiên Đế Diễn nói: Phải sáng đức lớn.
    Tất cả đều nói phải tự làm sáng đức mình vậy.
    (Tạ Thanh Bạch dịch chú)

    “Học võ là học đạo, trước tiên là đạo làm người, học võ còn để rèn luyện thân thể, lấy “dục thể, dục trí, dục đức” làm mục đích phấn đấu, bất luận trong hoàn cảnh nào, tinh thần thượng võ phải được tôn trọng. Người biết võ nên đóng góp công sức vào những việc ích nước lợi dân. Người giỏi võ mà kém trí đức chỉ là hạng võ biền hại người hại mình.” (Võ sư Hoắc Nguyên Giáp – Tinh võ môn)

    Dạy võ

    Thầy: tiếng gọi thiêng liêng, như tiếng gọi cha, gọi mẹ. Thầy là “sư phụ”, xưa quan niệm thầy là thiên chức không phải là nghề, thầy dạy chữ là giáo sư, thầy dạy võ là võ sư. Thầy là người có công ơn dạy dỗ, trau giồi, truyền đạt kiến thức, hun đúc ý chí, làm tấm gương soi rọi về nhân phẩm, đạo đức cho học trò noi theo mà nên người. Thành nhân là tôn chỉ của giáo dục. Dân gian có câu: “Không thầy đố mày làm nên”.

    Người xưa quan niệm truyền thụ võ công là việc trang nghiêm, người học đến võ đường phải làm lễ nhập môn, bái tổ, bái sư. Nghi thức ấy xem ra cổ mà kính, đó là khởi nguồn của lễ. Võ thuật bắt đầu bằng lễ và kết thúc cũng bằng lễ. Chính từ những quan niệm xưa ấy mà thầy trò giữ lễ với nhau, lấy nhân nghĩa làm tiêu chí hành xử. Thầy sẽ là tấm gương soi trong sáng cho hậu thế, lời nói đi đôi với việc làm, tri hành hợp nhất. Ngoài khả năng chuyên môn, tư cách đạo đức, người thầy còn làm sáng lên nhân cách xử thế, người học nhìn vào mà noi theo.

    3a39ed0e47vd05.jpg Học võ và dạy võ

    Người xưa trọng tinh thần hơn vật chất, do vậy ít nghe chuyện khoe khoang, quảng cáo, công nghệ đánh phấn tô hồng chữ tôi, mà tâm niệm học võ là để phát huy chữ đức. Thầy quang minh lỗi lạc, chính trực công minh như tướng lĩnh can trường ngoài mặt trận. Chuyện dùng những thủ đoạn thấp hèn, độc quyền xưng bá đồ vương võ lâm là điều không có với những người thầy liêm sỉ. Thầy trượng phu, quân tử coi cuộc đời như thủy bạc, tình nghĩa đón đưa đôi bờ, bốn bể là nhà, đất trời là giang sơn. Văn hóa võ thuật như rừng cây có nhiều gỗ quý.

    Thầy là sự mẫu mực, từ tri thức đến đạo hạnh. Dạy môn sinh bằng tâm đức, lấy lòng yêu thương, tâm huyết truyền thụ võ công, nên có câu: “danh sư xuất cao đồ”. Làm người thật khó, làm thầy thật khó hơn. Quan niệm xưa và nay bây giờ đã khác. Ngày xưa quan niệm: “Hữu xạ tự nhiên hương”, thầy giỏi và đức độ học trò tự “tầm sư học đạo”. Ngày nay kinh tế thị trường, quảng cáo tiếp thị là phương tiện giúp con người tìm đến nhau, nên có thầy đã tìm trò. Chính vì vậy mà nảy sinh chênh lệch đạo lý thầy trò, xã hội nhìn hình ảnh người thầy bằng một góc khác. Võ thuật là môn học đặc thù, trọng võ đức, nêu cao tinh thần thượng võ, thuyền trưởng chết theo tàu, tướng lãnh chết theo thành.

    Dạy võ là dạy nhân cách sống, nhân cách hành xử:

    - Điều thứ nhất là trong võ có đạo, đạo ở đây là đạo đức thuợng võ, đạo làm người, vì vậy người dụng võ trước tiên phải trọng võ đức, khi hành xử phải tự chủ, tự thắng chính mình để tránh được tối đa các kết quả xấu, ngoài ý muốn.

    - Điều thứ hai là võ không chỉ đơn thuần là quyền cước, binh khí chiến đấu mà đỉnh cao của võ là trí tuệ, mưu lược, khôn ngoan, uyển chuyển, khi cần thì lên cao, lúc không cần thì xuống thấp, linh hoạt ẩn hiện như con rồng. Người đánh trăm trận trăm thắng chưa phải là người giỏi nhất, không đánh mà buộc đối phương phải hàng, tâm phục khẩu phục mới thật là người giỏi nhất.

    - Điều thứ ba khi cần thiết phải dụng võ để chiến đấu tự tồn, mưu sinh thoát hiểm thì như mãnh hổ chốn rừng sâu, uy nghi, dũng cảm, cương quyết, tỉnh táo làm chủ trong mọi tình huống.

    - Điều thứ tư là văn ôn võ luyện, võ là hơi thở hằng ngày, là hành trang vạn dặm, có như vậy thì sự học võ mới không hoài công vô ích.

    - Điều thứ năm, là Thiên Mưu Công trong Tôn Tử Binh Pháp viết:
    Biết người biết ta trăm trận không nguy;
    Không biết người chỉ biết ta một được một thua;
    Không biết người không biết ta hễ đánh là nguy.

    Nhưng dù sao đi nữa thì: “Trong thế gian không có hương thơm nào bay ngược được chiều gió, chỉ có hương thơm đức hạnh mới có khả năng bay ngược chiều gió và tỏa ngát muôn phương”. (Kinh Pháp cú).

    Thầy dạy võ là:
    “Sổ hàng di biểu lưu thiên địa.
    Nhất phiến đan tâm phó sử thi”.
    Có nghĩa là:
    Đôi hàng soi dấu lưu muôn thuở.
    Một tấm lòng son tạc sử xanh.
    (Cổ thi)
    Võ sư Trương Văn Bảo
    Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam

    Sách Luận ngữ có câu: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng giả”, có nghĩa là thấy việc nghĩa không làm không phải là người có dũng, thấy việc đúng mà không làm thì không phải là người quân tử, vì vậy tiêu chí của người học võ là trọng nghĩa.

    Dũng không phải là thấy việc bất bình thì “động thủ”, liều chết xông lên. Khi bị binh lính hành hình trên thập tự giá, trước lúc trút hơi thở cuối cùng, Đức Chúa Giê Su nói: “Xin Cha hãy tha thứ cho chúng, vì chúng không hiểu việc chúng làm”. Tinh thần điềm đạm và nhân ái ấy chính là đại dũng.


    Người dụng võ đại dũng chân chính, chiếu không thẳng không ngồi (tịch bất chính bất tọa), việc phi nghĩa không nhúng tay. Nhưng, được mấy người như vậy? Thế sự phù trầm trên con đường tu học, người giác ngộ thì ít, kẻ giả vờ giác ngộ thì nhiều. Vì vậy, lời hát hay không lọt được vào tai chúng nhân, hát líu lo bậy bạ thì chúng lại cùng nhau vỗ tay khen hay.

    Trong Lục tài tử thư (1), Nam Hoa Kinh của Trang tử là bộ sách xếp hàng thứ nhất. Để miêu tả tinh thần đại dũng của một hiền sĩ qua hình ảnh loài chim Uyên Sồ; Thiên Thu Thủy trong Nam Hoa Kinh có đoạn chép:

    Huệ tử làm quan nước Lương, Trang tử tính qua nước Lương thăm. Nhưng, có kẻ nói với Huệ tử: “Trang tử mà qua đây là để cùng ông tranh ngôi tướng quốc”. Huệ tử sợ, cho kẻ canh chừng suốt ba ngày ba đêm, đợi Trang tử đến thì bắt.”

    Trang tử hay chuyện, không đi. Sau rồi lại đến. Gặp Huệ tử ,Trang tử bảo: “Phương Nam có con chim tên là Uyên Sồ, ông có biết không? Uyên Sồ bay từ biển Nam qua biển Bắc, nếu không gặp cây ngô đồng thì không chịu đậu; nếu không gặp hột luyện thì không ăn; nếu không gặp giếng nước ngọt thì không uống”.

    Có con chim ụt đang rỉa xác chuột chết giữa cánh đồng, thấy Uyên Sồ bay ngang, sợ nó giành miếng ăn nên kêu to lên để dọa Uyên Sồ đừng đáp xuống.

    Nay vì sợ cái ngôi tướng quốc của ông ở nước Lương nên ông kêu to lên để dọa tôi sao?”

    Chiến Quốc Sách viết chuyện Yêu Ly và Khánh Kỵ: Yêu Ly vì cảm cái nghĩa của Hạp Lư mà hứa giúp cho để lừa giết Khánh Kỵ. Một hôm Khánh Kỵ ngồi ở mũi thuyền chỉ huy binh sĩ, thì Yêu Ly cầm kích đứng sau lưng mà hầu, thừa lúc thuận chiều, đâm kích suốt qua bụng Khánh Kỵ. Khánh Kỵ sức khỏe phi thường, liền trở tay với bắt Yêu Ly, xách ngược lên, dìm đầu xuống nước ba lần, nhưng rồi lại ẵm lên để trong lòng, cúi nhìn cười và bảo: “Thiên hạ lại còn có kẻ dũng sĩ này có gan đâm ta chớ!”

    Các tướng sĩ toan đâm chết Yêu Ly, nhưng Khánh Kỵ gạt đi, bảo: “Người này là một bậc đại dũng. Trong một ngày chớ nên để chết hai người dũng sĩ của thiên hạ. Các ngươi nên tha hắn, để hắn về Ngô tỏ lòng trung”.

    Khánh Kỵ tha Yêu Ly rồi rút ngọn kích trong bụng ra mà chết. Sau đó, Yêu Ly cảm tinh thần đại dũng của Khánh Kỵ liền rút gươm tự sát.

    Yêu Ly là người đại dũng. Khánh Kỵ lại còn là người trên người đại dũng.

    Lạn Tương Như, một bậc đại dũng, người đời Chiến Quốc, môn hạ của vua Triệu. Qua việc dâng ngọc cho vua Tần mà tỏ dũng khí buộc vua Tần phải giữ lời hứa giao thành đổi ngọc cho Triệu. Cảm nghĩa khí ấy, vua Triệu ban tặng lời khen ngợi và phong chức Thượng tướng trước quần thần cho Lạn Tương Như.

    Cũng vì lời khen và phong chức cho Lạn Tương Như của vua Triệu mà tướng quốc Liêm Pha của Triệu đem lòng ganh tị, bất mãn. Lạn Tương Như biết được nên tìm đường lánh Liêm Pha không cho gặp mặt.

    Có lần Lạn Tương Như ra đường gặp Liêm Pha trước sau tả hữu quân lính ồ ạt theo hầu. Tương Như thấy vậy bảo người đánh xe tránh vào ngõ hẻm, chờ Liêm Pha qua khỏi mới đi. Kẻ thủ hạ thấy vậy muốn biết nguyên nhân.

    Lạn Tương Như hỏi: “Các ngươi xem Liêm tướng quân uy lực có bằng vua Tần không?”. Bọn xá nhân đáp: “Không bằng”. Lạn Tương Như nói: “Lấy cái uy lực của vua Tần trong thiên hạ không ai dám chống, thế mà ta dám đương nhiên mắng vào mặt vua Tần và làm nhục cả quần thần. Ta dẫu hèn, há sợ Liêm Pha sao? Tuy nhiên ta nghĩ sở dĩ nước Tần không dám đánh Triệu là vì có ta và Liêm Pha. Nay nếu ta và Liêm Pha vì hiềm khích hại nhau, Tần sẽ thừa cơ đem quân đánh Triệu. Ta nghĩ đến sự tồn vong của đất nước mà bỏ chuyện hiềm khích vì ganh tị cá nhân của Liêm Pha đó thôi.”

    “Nhân tất hữu dũng”, nghĩa là người có lòng nhân ái là người có dũng. Người đời ngưỡng mộ võ, vì thấy những tấm gương đại dũng của người dụng võ. Người đời khinh rẻ võ, bởi thấy nhiều ngừời dụng võ tham tài (tiền) bỏ ngãi (nghĩa).

    Đại dũng là đức tính cao quý của người dụng võ. Người đại dũng khiêm cung, hòa ái, can đảm, bất khuất, kiên cường…lấy nhân, nghĩa làm đường tiến thủ.
    Võ sư Trương Văn Bảo

    Đại dũng: triết lý, đạo đức người luyện võ thuật

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Sách Luận ngữ có câu: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng giả”, có nghĩa là thấy việc nghĩa không làm không phải là người có dũng, thấy việc đúng mà không làm thì không phải là người quân tử, vì vậy tiêu chí của người học võ là trọng nghĩa.

    Dũng không phải là thấy việc bất bình thì “động thủ”, liều chết xông lên. Khi bị binh lính hành hình trên thập tự giá, trước lúc trút hơi thở cuối cùng, Đức Chúa Giê Su nói: “Xin Cha hãy tha thứ cho chúng, vì chúng không hiểu việc chúng làm”. Tinh thần điềm đạm và nhân ái ấy chính là đại dũng.


    Người dụng võ đại dũng chân chính, chiếu không thẳng không ngồi (tịch bất chính bất tọa), việc phi nghĩa không nhúng tay. Nhưng, được mấy người như vậy? Thế sự phù trầm trên con đường tu học, người giác ngộ thì ít, kẻ giả vờ giác ngộ thì nhiều. Vì vậy, lời hát hay không lọt được vào tai chúng nhân, hát líu lo bậy bạ thì chúng lại cùng nhau vỗ tay khen hay.

    Trong Lục tài tử thư (1), Nam Hoa Kinh của Trang tử là bộ sách xếp hàng thứ nhất. Để miêu tả tinh thần đại dũng của một hiền sĩ qua hình ảnh loài chim Uyên Sồ; Thiên Thu Thủy trong Nam Hoa Kinh có đoạn chép:

    Huệ tử làm quan nước Lương, Trang tử tính qua nước Lương thăm. Nhưng, có kẻ nói với Huệ tử: “Trang tử mà qua đây là để cùng ông tranh ngôi tướng quốc”. Huệ tử sợ, cho kẻ canh chừng suốt ba ngày ba đêm, đợi Trang tử đến thì bắt.”

    Trang tử hay chuyện, không đi. Sau rồi lại đến. Gặp Huệ tử ,Trang tử bảo: “Phương Nam có con chim tên là Uyên Sồ, ông có biết không? Uyên Sồ bay từ biển Nam qua biển Bắc, nếu không gặp cây ngô đồng thì không chịu đậu; nếu không gặp hột luyện thì không ăn; nếu không gặp giếng nước ngọt thì không uống”.

    Có con chim ụt đang rỉa xác chuột chết giữa cánh đồng, thấy Uyên Sồ bay ngang, sợ nó giành miếng ăn nên kêu to lên để dọa Uyên Sồ đừng đáp xuống.

    Nay vì sợ cái ngôi tướng quốc của ông ở nước Lương nên ông kêu to lên để dọa tôi sao?”

    Chiến Quốc Sách viết chuyện Yêu Ly và Khánh Kỵ: Yêu Ly vì cảm cái nghĩa của Hạp Lư mà hứa giúp cho để lừa giết Khánh Kỵ. Một hôm Khánh Kỵ ngồi ở mũi thuyền chỉ huy binh sĩ, thì Yêu Ly cầm kích đứng sau lưng mà hầu, thừa lúc thuận chiều, đâm kích suốt qua bụng Khánh Kỵ. Khánh Kỵ sức khỏe phi thường, liền trở tay với bắt Yêu Ly, xách ngược lên, dìm đầu xuống nước ba lần, nhưng rồi lại ẵm lên để trong lòng, cúi nhìn cười và bảo: “Thiên hạ lại còn có kẻ dũng sĩ này có gan đâm ta chớ!”

    Các tướng sĩ toan đâm chết Yêu Ly, nhưng Khánh Kỵ gạt đi, bảo: “Người này là một bậc đại dũng. Trong một ngày chớ nên để chết hai người dũng sĩ của thiên hạ. Các ngươi nên tha hắn, để hắn về Ngô tỏ lòng trung”.

    Khánh Kỵ tha Yêu Ly rồi rút ngọn kích trong bụng ra mà chết. Sau đó, Yêu Ly cảm tinh thần đại dũng của Khánh Kỵ liền rút gươm tự sát.

    Yêu Ly là người đại dũng. Khánh Kỵ lại còn là người trên người đại dũng.

    Lạn Tương Như, một bậc đại dũng, người đời Chiến Quốc, môn hạ của vua Triệu. Qua việc dâng ngọc cho vua Tần mà tỏ dũng khí buộc vua Tần phải giữ lời hứa giao thành đổi ngọc cho Triệu. Cảm nghĩa khí ấy, vua Triệu ban tặng lời khen ngợi và phong chức Thượng tướng trước quần thần cho Lạn Tương Như.

    Cũng vì lời khen và phong chức cho Lạn Tương Như của vua Triệu mà tướng quốc Liêm Pha của Triệu đem lòng ganh tị, bất mãn. Lạn Tương Như biết được nên tìm đường lánh Liêm Pha không cho gặp mặt.

    Có lần Lạn Tương Như ra đường gặp Liêm Pha trước sau tả hữu quân lính ồ ạt theo hầu. Tương Như thấy vậy bảo người đánh xe tránh vào ngõ hẻm, chờ Liêm Pha qua khỏi mới đi. Kẻ thủ hạ thấy vậy muốn biết nguyên nhân.

    Lạn Tương Như hỏi: “Các ngươi xem Liêm tướng quân uy lực có bằng vua Tần không?”. Bọn xá nhân đáp: “Không bằng”. Lạn Tương Như nói: “Lấy cái uy lực của vua Tần trong thiên hạ không ai dám chống, thế mà ta dám đương nhiên mắng vào mặt vua Tần và làm nhục cả quần thần. Ta dẫu hèn, há sợ Liêm Pha sao? Tuy nhiên ta nghĩ sở dĩ nước Tần không dám đánh Triệu là vì có ta và Liêm Pha. Nay nếu ta và Liêm Pha vì hiềm khích hại nhau, Tần sẽ thừa cơ đem quân đánh Triệu. Ta nghĩ đến sự tồn vong của đất nước mà bỏ chuyện hiềm khích vì ganh tị cá nhân của Liêm Pha đó thôi.”

    “Nhân tất hữu dũng”, nghĩa là người có lòng nhân ái là người có dũng. Người đời ngưỡng mộ võ, vì thấy những tấm gương đại dũng của người dụng võ. Người đời khinh rẻ võ, bởi thấy nhiều ngừời dụng võ tham tài (tiền) bỏ ngãi (nghĩa).

    Đại dũng là đức tính cao quý của người dụng võ. Người đại dũng khiêm cung, hòa ái, can đảm, bất khuất, kiên cường…lấy nhân, nghĩa làm đường tiến thủ.
    Võ sư Trương Văn Bảo

    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."
    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.

    Về danh xưng “Võ cổ truyền Việt Nam”, theo võ sư Võ Kiểu nguyên tổng thư ký liên đoàn Quyền thuật miền Trung trước 1975: “Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi “võ ta”, là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!” Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng “Võ Ta” bằng tên gọi “võ cổ truyền Việt Nam”có thể “vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa” trong môn võ đẹp này.

    15 16 28 46 958 Lịch sử Võ cổ truyền

    Lịch sử
    Tại Việt Nam, thời Pháp mới chiếm Việt Nam, các hệ phái võ thuật cổ truyền bị thực dân Pháp cấm lưu hành vì những người đứng đầu các phong trào khởi nghĩa chống Pháp đều là người giỏi võ Việt Nam. Khoảng năm 1925, võ cổ truyền Việt Nam được khôi phục song song với các môn võ ngoại quốc khác được đưa vào Việt Nam, như: Quyền Anh (Boxing, Boxe), Thiếu Lâm (Shaolin)…

    Trong giai đoạn này, nhiều võ sư huyền thoại đã để lại danh tiếng: toàn quốc Việt Nam, trước năm 1945, ai cũng nghe danh Tứ Đại Võ Sư là Bái Mùa Cát Quế, đào tạo vô số thanh niên yêu nước sẵn sàng bảo vệ quê hương mến yêu và phụng sự dân tộc, tạo truyền thống thượng võ lan rộng khắp năm châu. Sau năm 1945, cụ Quế có các cao đồ là Sư Tổ Nguyễn văn Quý và Trưởng Tràng là Võ Sư Đặng văn Hinh, kế tiếp là Võ Sư kiêm Giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Quang Lương, Chưởng Môn võ phái Việt Đạo Quán trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đến năm 1975 được bổ nhiệm làm Chưởng Môn Việt Đạo Quán Thế Giới; 3 võ sư còn lại trong 4 đại danh sư kể trên được mệnh danh là “Tam Nhựt” gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa vì có công lớn trong việc khôi phục truyền thống võ Việt Nam trong thời gian này. Mãi đến khi Pháp rời khỏi Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự phục hồi võ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam ( VABA ),và Tổng Hội Võ Sư Nghiên Cứu Và Phổ Biến Võ Học Việt Nam, gọi tắt là Tổng Hội Võ Học Việt Nam. Ba võ sư có công lớn trong giai đoạn này là: Trương Thanh Đăng, sư tổ của võ phái Bình Định Sa Long Cương, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai (được mệnh danh là “Tam Nguyệt”) tiếp nối việc khôi phục và phát triển võ Việt Nam.

    Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 đến năm 1963, Ngô Đình Diệm lại tiếp tục cấm các đoàn võ thuật phát triển (trong đó có võ Việt Nam), vì năm 1960, trong lực lượng tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm thất bại có đoàn võ sĩ Nhu đạo do võ sư Phạm Lợi chỉ huy. Năm 1964, võ thuật được tiếp tục hoạt động, trong đó có võ Việt Nam. Trong giai đoạn này, võ thuật Việt Nam đã lớn mạnh, sánh vai ngang hàng với võ thuật các nước trong khu vực, như: Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Campuchia… Nhiều võ sĩ Việt Nam đã chiến thắng vẻ vang trước nhà vô địch của các nước bạn trong trong khu vực. Bốn võ sư đã có công đào tạo nhiều võ sĩ ưu tú cho làng quyền thuật Việt Nam, nhất là đào tạo nhiều võ sĩ giỏi đại diện cho màu cờ sắc áo Việt Nam chiến thắng vẻ vang nhiều nhà vô địch của các nước bạn, chính là: Từ Thiện Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Bốn võ sư này đã được Tổng Nha Thanh Niên trao tặng Bằng Khen về các thành tích vẻ vang cho đất nước, và từ đó, giới võ thuật gọi bốn võ sư này là “Tứ Tú” (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp “Tam Nhựt” (ba mặt trời) và “Tam Nguyệt” (ba mặt trăng) trong việc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, do tình hình trật tự an ninh còn hỗn loạn, võ thuật Việt Nam tạm ngừng phát triển một thời gian. Năm 1979, nhân sự kiện quân đội Trung Quốc và quân đội Khmer đỏ tấn công Việt Nam, nhà nước Việt Nam đã cho khôi phục hoạt động võ thuật, trong đó có võ thuật cổ truyền Việt Nam, để tập hợp thanh niên rèn luyện tinh thần bất khuất sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau đó, các Liên đoàn võ thuật hình thành để quản lý phong trào võ thuật, trong đó có Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam hình thành năm 1991. Tuy nhiên, do nhiều lý do, từ đó cho đến năm 2007, võ thuật Việt Nam vẫn chưa được nhà nước Việt Nam quan tâm phát triển như những môn võ thuật có thi đấu quốc tế như: Taekwondo, Judo, Karatedo, Wushu, Pencak silat, Boxing, Vovinam…

    Đặc điểm
    Võ thuật cổ truyền Việt Nam thể hiện một số đặc điểm:

    Thường là võ trận, sử dụng trong trận mạc, chiến đấu chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên hoang dã, chống trả và săn bắt hổ, lợn rừng, bảo vệ nhà cửa, làng xóm, chống trộm cướp.
    Thích hợp với nhiều loại địa hình.
    Thực dụng, linh hoạt.
    Dĩ công vi thủ, dĩ nhu chế cương, dĩ đoản chế trường.
    Các bài quyền đều có lời thiệu bằng thơ, phú
    Muốn luyện thành thạo phải luyện với thiên nhiên nơi có khí trong lành, để tăng khí công trong người, khi đó ra đòn sẽ mạnh hơn.
    Một số hệ phái võ thuật cổ truyền Việt Nam
    Miền Bắc
    Hoàng quyền
    Nhất Nam (võ Hét)
    Võ Vật Liễu Đôi
    Thăng Long Võ Đạo
    Nam Hồng Sơn
    Thanh Phong Võ Đạo
    Miền Trung
    Tây Sơn Võ Đạo
    Bình Thái Đạo
    Áo Vải
    Miền Nam
    Bạch Hổ Võ Phái
    Tân Khánh Bà Trà
    Kim Kê
    Thanh Long Võ Đạo
    Tiên Long Quyền Đạo
    Bình Định Sa Long Cương
    Trúc Lâm Thái Hư
    Việt Đạo Quán
    Tây Sơn Bình Định
    Hóa Quyền Đạo [2]
    Hải ngoại
    Sơn Long Quyền Thuật
    Võ Thuật Văn Võ Đạo
    Phượng Long Võ Đạo
    Nam Hổ Quyền
    Hoa Long Võ Đạo
    Tinh Võ Nam Hải
    Võ Khí Thuật
    Thiếu Hổ
    Văn Long Võ Đường
    Minh Tâm Võ Đạo
    Trường Bạch Long
    Võ Kinh Vạn Nam Phái
    Thủy Pháp
    Cây Lau Võ Đường
    Minh Long Tây Sơn Võ Đạo [3]
    Việt Đạo Quán Thế Giới [4]
    Qwankido (Quán Khí Đạo)
    Việt Võ Đạo
    Đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu chú ý đến tác dụng của võ thuật cổ truyền trong việc rèn luyện sức khoẻ vì mục đích dưỡng sinh, trường thọ. Điều đó có nghĩa là đã đến lúc người ta hiểu ra rằng, võ thuật ra đời không chỉ để cho con người có công cụ đấu tranh chống lại thú dữ và kẻ thù bên ngoài mà còn để giúp họ chống lại kẻ thù bên trong cơ thể là bệnh tật.

    Tại Trung quốc, nguyên thuỷ môn Thái Cực Quyền là võ thuật chiến đấu, tương truyền có từ thời Trương Tam Phong (vào khoảng thế kỷ thứ 12) hoặc Vương Tông Nhạc (1733-1795), đã được lưu truyền bởi năm dòng họ (Trần, Dương, Vũ, Ngô, Tôn ). Riêng Thái Cực Quyền của dòng họ Dương, khởi nguồn từ Dương Lộ Thiền (1799-1872) và truyền đến Dương Thủ Trung (1010-1985) thì đến năm 1956 được Trung Hoa Quốc Gia Thể Uỷ của Trung Quốc giản hoá thành bài quyền hoàn toàn vì mục đích tập luyện dưỡng sinh, được gọi là "Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền ". Chẳng bao lâu sau, bài võ dưỡng sinh Thái Cực Quyền này ngày càng được đông đảo các võ sư và người chưa từng tập võ theo tập. Các bài võ dưỡng sinh tiếp theo như Thái Cực Kiếm, Thái Cực Đao, Thái Cực Thương, Đơn phiến, Song phiến... tiếp tục ra đời do được biên soạn từ các bài võ cổ truyền Trung Quốc, đã cùng với bài Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền được phổ biến ra nhiều nước trên thế giới.

    Năm 1983 được chọn là "Năm quốc tế người già" đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam có mục đích dùng Võ hỗ trợ cho Y để phòng chống bệnh tật, phục hồi sức khoẻ đồng thời dùng y học hiện đại và y học cổ truyền lý giải cơ sở khoa học của các động tác kỹ thuật và những hình thức vận động võ thuật nhằm đạt được yêu cầu dưỡng sinh. Người ta nói rằng, từ đây võ thuật công khai xác định đối thủ cần đánh bại là bệnh tật và phong trào tập luyện đẩy lùi bệnh tật được gọi là "Y Võ dưỡng sinh"

    Hiệu ứng rõ nhất của phong trào Y Võ dưỡng sinh nói trên là sự xuất hiện và lan rộng rất nhanh của phong trào tập bài võ dưỡng sinh cổ truyền có tên Thái Cực Trường Sinh, do ông Song Tùng khởi xướng vào năm 1986 ở miền Bắc .

    Theo tài liệu phổ biến của Trung tâm Trường Sinh Đạo (từ năm 1995 chuyển thành trung tâm trực thuộc UNESCO Việt Nam) thì ông Song Tùng lúc 33 tuổi, cơ thể ốm yếu do mang một số bệnh tật, đã được người cậu ruột là ông Hoàng Đình Thực (quê Nghệ Tĩnh) dạy bài võ gia truyền Thái Cực Trường Sinh để chữa bệnh. Tài liệu này khẳng định Thái Cực Trường Sinh là một bài võ cổ truyền có tính dân tộc: "Hơn nửa tháng ở quê nhà, cụ Thực ân cần chỉ dẫn cho học trò Song Tùng cách chạy chữa bằng phép luyện quyền thuật. Võ thuật là rèn luyện thể lực, ứng phó trong mọi tình huống. Luyện hình của bài này là quyền thuật, nhưng khác quyền thuật ở chỗ động tác của bài này chỉ là phương tiện để đạt được đạo. Ai có cơ duyên, đạo sẽ đến. Đạo ở đây là "võ đạo"".

    Theo ý kiến của cụ Song Tùng: "đây là bài Thái Cực Quyền kết hợp với luyện Thiền từ Trung Quốc và Yoga của Ấn Độ truyền bá sang Việt Nam, được cha ông chúng ta "Việt hóa"".

    Càng ngày người ta càng khẳng định tác dụng phòng ngừa và chữa bệnh của võ thuật, đặc biệt là võ cổ truyền, và bắt tay vào việc khai thác để ứng dụng trong tập dưỡng sinh. Ngày nay đất nước chúng ta có hằng triệu người, kể cả những người còn trẻ, mang nhiều bệnh mãn tính chạy chữa bằng thuốc đông, tây y nhiều năm không có kết quả. Hằng năm phải tốn cả triệu mỹ kim nhập thuốc an thần, trấn thống cũng chỉ giúp người bệnh tạm thời vượt qua cơn đau thể xác chớ không chữa khỏi bệnh tật.

    Những bệnh mãn tính ngày càng phát triển này thường là:

    - Loãng xương, thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm dẫn đến tê, bại tay, chân, đau nhức vai, gáy, đau nhức thần kinh toạ,

    - Mất ngủ dẫn đến suy nhược thần kinh, giảm khả năng làm việc,

    - Tăng huyết áp kéo dài dẫn đến tai biến mạch máu não, suy tim, hại thận, tiểu đường, nhồi máu cơ tim, đột quị.

    Nguồn gốc của các bệnh mãn tính trên đều có thể giải quyết triệt để bằng việc tập luyện quyền thuật võ cổ truyền theo những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc đó là:

    1. Thực hành chính xác kỹ thuật vận động đòn, thế, theo cơ cấu kiến thiết bài quyền để giải toả những bế tắc về mặt cơ học,

    2. Áp dụng phương pháp tập luyện hoà hoãn, cương nhu phối triển và lấy nhu làm chủ đạo, để điều chỉnh theo hướng tích cực hoạt động của hệ thần kinh.

    3. Tập trung cao độ ý chí vào việc ghi nhớ, dẫn dắt động tác nhằm tạo ra sự hưng phấn tinh thần để đưa hoạt động huyết mạch vào tình trạng ức chế có lợi cho hoạt động của bộ máy tuần hoàn, hạ thấp huyết áp, giải toả căng thẳng thần kinh, căng cứng cơ bắp (stress), khôi phục trí nhớ.

    4. Hít sâu, thở hết và luân chuyển khí có mục tiêu nhưng tự nhiên, thoải mái để bồi bổ dưỡng khí (oxy) cho máu, thải thoát thán khí (carbonic) ra khỏi máu, gia tăng sự vận động thuận lợi của hoạt động nội tạng và các tuyến nội tiết.

    Trong những bài quyền võ cổ truyền Việt Nam (trước đây gọi là "Võ Ta") có một số bài, đặc biệt có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa và chữa trị các bệnh mãn tính trên như:

    - Xà quyền (đối với các bệnh về cột sống, loãng xương),

    - Phụng Hoàng quyền (đối với các bệnh về thần kinh, rèn luyện phần tiền đình não, làm giảm nguy cơ mất thăng bằng, chóng mặt, ngã té ở người lớn tuổi),

    - Hổ quyền (đối với các bệnh về khớp, duy trì sự cường tráng của cơ thể)

    - Hầu quyền (đối với các bệnh lão hoá về ngũ giác quan và tăng phản ứng nhanh cho mọi lứa tuổi)

    Chính vì vậy, Võ thuật cổ truyền Việt Nam có vai trò rất lớn trong phép tập dưỡng sinh. Cần xây dựng môn Võ dưỡng sinh (L' Art marcial de conserver la sante') thuần tuý dân tộc, trên cơ sở khai thác các yếu tố vừa là Y thuật vừa là Võ học trong các bài quyền Võ cổ truyền Việt Nam, nhằm giúp cho người tập luyện có cuộc sống khoẻ mạnh, vui tươi, phòng tránh bệnh tật và kéo dài tuổi thọ trong sự an lạc.

    Kết thúc bài này, người viết xin mượn mấy câu thơ nhắn gởi của một ai đó trên "mạng" để tặng bạn đọc:

    “Khuôn vàng, thước ngọc người xưa

    Lưu truyền hậu thế vẫn chưa phai mờ

    Khuyên người chớ có thờ ơ

    Theo đó tập luyện đừng chờ đợi chi”

    Lịch sử võ thuật cổ truyền - các môn phái

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."
    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.

    Về danh xưng “Võ cổ truyền Việt Nam”, theo võ sư Võ Kiểu nguyên tổng thư ký liên đoàn Quyền thuật miền Trung trước 1975: “Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi “võ ta”, là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!” Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng “Võ Ta” bằng tên gọi “võ cổ truyền Việt Nam”có thể “vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa” trong môn võ đẹp này.

    15 16 28 46 958 Lịch sử Võ cổ truyền

    Lịch sử
    Tại Việt Nam, thời Pháp mới chiếm Việt Nam, các hệ phái võ thuật cổ truyền bị thực dân Pháp cấm lưu hành vì những người đứng đầu các phong trào khởi nghĩa chống Pháp đều là người giỏi võ Việt Nam. Khoảng năm 1925, võ cổ truyền Việt Nam được khôi phục song song với các môn võ ngoại quốc khác được đưa vào Việt Nam, như: Quyền Anh (Boxing, Boxe), Thiếu Lâm (Shaolin)…

    Trong giai đoạn này, nhiều võ sư huyền thoại đã để lại danh tiếng: toàn quốc Việt Nam, trước năm 1945, ai cũng nghe danh Tứ Đại Võ Sư là Bái Mùa Cát Quế, đào tạo vô số thanh niên yêu nước sẵn sàng bảo vệ quê hương mến yêu và phụng sự dân tộc, tạo truyền thống thượng võ lan rộng khắp năm châu. Sau năm 1945, cụ Quế có các cao đồ là Sư Tổ Nguyễn văn Quý và Trưởng Tràng là Võ Sư Đặng văn Hinh, kế tiếp là Võ Sư kiêm Giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Quang Lương, Chưởng Môn võ phái Việt Đạo Quán trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đến năm 1975 được bổ nhiệm làm Chưởng Môn Việt Đạo Quán Thế Giới; 3 võ sư còn lại trong 4 đại danh sư kể trên được mệnh danh là “Tam Nhựt” gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa vì có công lớn trong việc khôi phục truyền thống võ Việt Nam trong thời gian này. Mãi đến khi Pháp rời khỏi Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự phục hồi võ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam ( VABA ),và Tổng Hội Võ Sư Nghiên Cứu Và Phổ Biến Võ Học Việt Nam, gọi tắt là Tổng Hội Võ Học Việt Nam. Ba võ sư có công lớn trong giai đoạn này là: Trương Thanh Đăng, sư tổ của võ phái Bình Định Sa Long Cương, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai (được mệnh danh là “Tam Nguyệt”) tiếp nối việc khôi phục và phát triển võ Việt Nam.

    Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 đến năm 1963, Ngô Đình Diệm lại tiếp tục cấm các đoàn võ thuật phát triển (trong đó có võ Việt Nam), vì năm 1960, trong lực lượng tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm thất bại có đoàn võ sĩ Nhu đạo do võ sư Phạm Lợi chỉ huy. Năm 1964, võ thuật được tiếp tục hoạt động, trong đó có võ Việt Nam. Trong giai đoạn này, võ thuật Việt Nam đã lớn mạnh, sánh vai ngang hàng với võ thuật các nước trong khu vực, như: Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Campuchia… Nhiều võ sĩ Việt Nam đã chiến thắng vẻ vang trước nhà vô địch của các nước bạn trong trong khu vực. Bốn võ sư đã có công đào tạo nhiều võ sĩ ưu tú cho làng quyền thuật Việt Nam, nhất là đào tạo nhiều võ sĩ giỏi đại diện cho màu cờ sắc áo Việt Nam chiến thắng vẻ vang nhiều nhà vô địch của các nước bạn, chính là: Từ Thiện Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Bốn võ sư này đã được Tổng Nha Thanh Niên trao tặng Bằng Khen về các thành tích vẻ vang cho đất nước, và từ đó, giới võ thuật gọi bốn võ sư này là “Tứ Tú” (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp “Tam Nhựt” (ba mặt trời) và “Tam Nguyệt” (ba mặt trăng) trong việc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, do tình hình trật tự an ninh còn hỗn loạn, võ thuật Việt Nam tạm ngừng phát triển một thời gian. Năm 1979, nhân sự kiện quân đội Trung Quốc và quân đội Khmer đỏ tấn công Việt Nam, nhà nước Việt Nam đã cho khôi phục hoạt động võ thuật, trong đó có võ thuật cổ truyền Việt Nam, để tập hợp thanh niên rèn luyện tinh thần bất khuất sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau đó, các Liên đoàn võ thuật hình thành để quản lý phong trào võ thuật, trong đó có Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam hình thành năm 1991. Tuy nhiên, do nhiều lý do, từ đó cho đến năm 2007, võ thuật Việt Nam vẫn chưa được nhà nước Việt Nam quan tâm phát triển như những môn võ thuật có thi đấu quốc tế như: Taekwondo, Judo, Karatedo, Wushu, Pencak silat, Boxing, Vovinam…

    Đặc điểm
    Võ thuật cổ truyền Việt Nam thể hiện một số đặc điểm:

    Thường là võ trận, sử dụng trong trận mạc, chiến đấu chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên hoang dã, chống trả và săn bắt hổ, lợn rừng, bảo vệ nhà cửa, làng xóm, chống trộm cướp.
    Thích hợp với nhiều loại địa hình.
    Thực dụng, linh hoạt.
    Dĩ công vi thủ, dĩ nhu chế cương, dĩ đoản chế trường.
    Các bài quyền đều có lời thiệu bằng thơ, phú
    Muốn luyện thành thạo phải luyện với thiên nhiên nơi có khí trong lành, để tăng khí công trong người, khi đó ra đòn sẽ mạnh hơn.
    Một số hệ phái võ thuật cổ truyền Việt Nam
    Miền Bắc
    Hoàng quyền
    Nhất Nam (võ Hét)
    Võ Vật Liễu Đôi
    Thăng Long Võ Đạo
    Nam Hồng Sơn
    Thanh Phong Võ Đạo
    Miền Trung
    Tây Sơn Võ Đạo
    Bình Thái Đạo
    Áo Vải
    Miền Nam
    Bạch Hổ Võ Phái
    Tân Khánh Bà Trà
    Kim Kê
    Thanh Long Võ Đạo
    Tiên Long Quyền Đạo
    Bình Định Sa Long Cương
    Trúc Lâm Thái Hư
    Việt Đạo Quán
    Tây Sơn Bình Định
    Hóa Quyền Đạo [2]
    Hải ngoại
    Sơn Long Quyền Thuật
    Võ Thuật Văn Võ Đạo
    Phượng Long Võ Đạo
    Nam Hổ Quyền
    Hoa Long Võ Đạo
    Tinh Võ Nam Hải
    Võ Khí Thuật
    Thiếu Hổ
    Văn Long Võ Đường
    Minh Tâm Võ Đạo
    Trường Bạch Long
    Võ Kinh Vạn Nam Phái
    Thủy Pháp
    Cây Lau Võ Đường
    Minh Long Tây Sơn Võ Đạo [3]
    Việt Đạo Quán Thế Giới [4]
    Qwankido (Quán Khí Đạo)
    Việt Võ Đạo
    Đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu chú ý đến tác dụng của võ thuật cổ truyền trong việc rèn luyện sức khoẻ vì mục đích dưỡng sinh, trường thọ. Điều đó có nghĩa là đã đến lúc người ta hiểu ra rằng, võ thuật ra đời không chỉ để cho con người có công cụ đấu tranh chống lại thú dữ và kẻ thù bên ngoài mà còn để giúp họ chống lại kẻ thù bên trong cơ thể là bệnh tật.

    Tại Trung quốc, nguyên thuỷ môn Thái Cực Quyền là võ thuật chiến đấu, tương truyền có từ thời Trương Tam Phong (vào khoảng thế kỷ thứ 12) hoặc Vương Tông Nhạc (1733-1795), đã được lưu truyền bởi năm dòng họ (Trần, Dương, Vũ, Ngô, Tôn ). Riêng Thái Cực Quyền của dòng họ Dương, khởi nguồn từ Dương Lộ Thiền (1799-1872) và truyền đến Dương Thủ Trung (1010-1985) thì đến năm 1956 được Trung Hoa Quốc Gia Thể Uỷ của Trung Quốc giản hoá thành bài quyền hoàn toàn vì mục đích tập luyện dưỡng sinh, được gọi là "Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền ". Chẳng bao lâu sau, bài võ dưỡng sinh Thái Cực Quyền này ngày càng được đông đảo các võ sư và người chưa từng tập võ theo tập. Các bài võ dưỡng sinh tiếp theo như Thái Cực Kiếm, Thái Cực Đao, Thái Cực Thương, Đơn phiến, Song phiến... tiếp tục ra đời do được biên soạn từ các bài võ cổ truyền Trung Quốc, đã cùng với bài Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền được phổ biến ra nhiều nước trên thế giới.

    Năm 1983 được chọn là "Năm quốc tế người già" đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam có mục đích dùng Võ hỗ trợ cho Y để phòng chống bệnh tật, phục hồi sức khoẻ đồng thời dùng y học hiện đại và y học cổ truyền lý giải cơ sở khoa học của các động tác kỹ thuật và những hình thức vận động võ thuật nhằm đạt được yêu cầu dưỡng sinh. Người ta nói rằng, từ đây võ thuật công khai xác định đối thủ cần đánh bại là bệnh tật và phong trào tập luyện đẩy lùi bệnh tật được gọi là "Y Võ dưỡng sinh"

    Hiệu ứng rõ nhất của phong trào Y Võ dưỡng sinh nói trên là sự xuất hiện và lan rộng rất nhanh của phong trào tập bài võ dưỡng sinh cổ truyền có tên Thái Cực Trường Sinh, do ông Song Tùng khởi xướng vào năm 1986 ở miền Bắc .

    Theo tài liệu phổ biến của Trung tâm Trường Sinh Đạo (từ năm 1995 chuyển thành trung tâm trực thuộc UNESCO Việt Nam) thì ông Song Tùng lúc 33 tuổi, cơ thể ốm yếu do mang một số bệnh tật, đã được người cậu ruột là ông Hoàng Đình Thực (quê Nghệ Tĩnh) dạy bài võ gia truyền Thái Cực Trường Sinh để chữa bệnh. Tài liệu này khẳng định Thái Cực Trường Sinh là một bài võ cổ truyền có tính dân tộc: "Hơn nửa tháng ở quê nhà, cụ Thực ân cần chỉ dẫn cho học trò Song Tùng cách chạy chữa bằng phép luyện quyền thuật. Võ thuật là rèn luyện thể lực, ứng phó trong mọi tình huống. Luyện hình của bài này là quyền thuật, nhưng khác quyền thuật ở chỗ động tác của bài này chỉ là phương tiện để đạt được đạo. Ai có cơ duyên, đạo sẽ đến. Đạo ở đây là "võ đạo"".

    Theo ý kiến của cụ Song Tùng: "đây là bài Thái Cực Quyền kết hợp với luyện Thiền từ Trung Quốc và Yoga của Ấn Độ truyền bá sang Việt Nam, được cha ông chúng ta "Việt hóa"".

    Càng ngày người ta càng khẳng định tác dụng phòng ngừa và chữa bệnh của võ thuật, đặc biệt là võ cổ truyền, và bắt tay vào việc khai thác để ứng dụng trong tập dưỡng sinh. Ngày nay đất nước chúng ta có hằng triệu người, kể cả những người còn trẻ, mang nhiều bệnh mãn tính chạy chữa bằng thuốc đông, tây y nhiều năm không có kết quả. Hằng năm phải tốn cả triệu mỹ kim nhập thuốc an thần, trấn thống cũng chỉ giúp người bệnh tạm thời vượt qua cơn đau thể xác chớ không chữa khỏi bệnh tật.

    Những bệnh mãn tính ngày càng phát triển này thường là:

    - Loãng xương, thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm dẫn đến tê, bại tay, chân, đau nhức vai, gáy, đau nhức thần kinh toạ,

    - Mất ngủ dẫn đến suy nhược thần kinh, giảm khả năng làm việc,

    - Tăng huyết áp kéo dài dẫn đến tai biến mạch máu não, suy tim, hại thận, tiểu đường, nhồi máu cơ tim, đột quị.

    Nguồn gốc của các bệnh mãn tính trên đều có thể giải quyết triệt để bằng việc tập luyện quyền thuật võ cổ truyền theo những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc đó là:

    1. Thực hành chính xác kỹ thuật vận động đòn, thế, theo cơ cấu kiến thiết bài quyền để giải toả những bế tắc về mặt cơ học,

    2. Áp dụng phương pháp tập luyện hoà hoãn, cương nhu phối triển và lấy nhu làm chủ đạo, để điều chỉnh theo hướng tích cực hoạt động của hệ thần kinh.

    3. Tập trung cao độ ý chí vào việc ghi nhớ, dẫn dắt động tác nhằm tạo ra sự hưng phấn tinh thần để đưa hoạt động huyết mạch vào tình trạng ức chế có lợi cho hoạt động của bộ máy tuần hoàn, hạ thấp huyết áp, giải toả căng thẳng thần kinh, căng cứng cơ bắp (stress), khôi phục trí nhớ.

    4. Hít sâu, thở hết và luân chuyển khí có mục tiêu nhưng tự nhiên, thoải mái để bồi bổ dưỡng khí (oxy) cho máu, thải thoát thán khí (carbonic) ra khỏi máu, gia tăng sự vận động thuận lợi của hoạt động nội tạng và các tuyến nội tiết.

    Trong những bài quyền võ cổ truyền Việt Nam (trước đây gọi là "Võ Ta") có một số bài, đặc biệt có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa và chữa trị các bệnh mãn tính trên như:

    - Xà quyền (đối với các bệnh về cột sống, loãng xương),

    - Phụng Hoàng quyền (đối với các bệnh về thần kinh, rèn luyện phần tiền đình não, làm giảm nguy cơ mất thăng bằng, chóng mặt, ngã té ở người lớn tuổi),

    - Hổ quyền (đối với các bệnh về khớp, duy trì sự cường tráng của cơ thể)

    - Hầu quyền (đối với các bệnh lão hoá về ngũ giác quan và tăng phản ứng nhanh cho mọi lứa tuổi)

    Chính vì vậy, Võ thuật cổ truyền Việt Nam có vai trò rất lớn trong phép tập dưỡng sinh. Cần xây dựng môn Võ dưỡng sinh (L' Art marcial de conserver la sante') thuần tuý dân tộc, trên cơ sở khai thác các yếu tố vừa là Y thuật vừa là Võ học trong các bài quyền Võ cổ truyền Việt Nam, nhằm giúp cho người tập luyện có cuộc sống khoẻ mạnh, vui tươi, phòng tránh bệnh tật và kéo dài tuổi thọ trong sự an lạc.

    Kết thúc bài này, người viết xin mượn mấy câu thơ nhắn gởi của một ai đó trên "mạng" để tặng bạn đọc:

    “Khuôn vàng, thước ngọc người xưa

    Lưu truyền hậu thế vẫn chưa phai mờ

    Khuyên người chớ có thờ ơ

    Theo đó tập luyện đừng chờ đợi chi”

    Được thừa hưởng tinh hoa võ học khổng lồ từ hai dòng phái cộng thêm với quá trình tu học và trải nghiệm trong nhiều năm với nhiều danh sư, Bác sĩ – Võ sư Nguyễn Văn Thắng đã chấn hưng Thăng Long Võ Đạo lên một tầm cao mới, phát triển môn phái một cách có hệ thống và khoa học, đi từ võ thuật kungfu đến nội công đỉnh cao và khí công dưỡng sinh, trị liệu chân truyền.
    Nếu như võ thuật kungfu và nội công đỉnh cao chỉ dành riêng cho những người yêu thích và ham mê võ thuật cộng thêm với tố chất bẩm sinh, thì khí công dưỡng sinh và trị liệu chân truyền lại mang tính cộng đồng, dành cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi căn cơ nhằm nâng cao và phục hồi sức khoẻ.




    Lịch sử dân tộc Việt Nam để tồn tại và phát triển đã trải qua hang nghìn năm chiến đấu chống ngoại xâm. Trong khoảng thời gian đó, chiến tranh là thể hiện sự so tài bằng sức lực nghệ thuật chiến đấu với các loại vũ khí thô sơ và hiện đại thời bấy giờ… Thực hiện chiến lược và chiến thuật, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ngoài đường lối quân sự, mưu lược của các tướng lĩnh, sử dụng các công cụ để thực hiện sức mạnh của dân tộc ta chính là nghệ thuật chiến đấu của cá nhân và tập thể. Đó chính là thời kỳ hình thành Võ thuật.


    “Võ thuật dạy cho con người con đường tu luyện chân chính, sử dụng võ thuật vào việc có ích. Người học võ không đơn giản là chỉ học cách đấm đá mà còn tìm được trong đó một sức mạnh tinh thần, sự tự chủ.”

    Năm 1989, báo giới dã đồng loạt đưa tin với một cái tít giật mình : ‘‘Hiện tượng võ thuật mới’’ hay ‘‘Bất ngờ xuất hiện’’ …Nhân vật của các bài báo chứa đựng sự kinh ngạc ấy là võ sư Nguyễn Văn Thắng, hiện đang là chưởng môn của môn phái lừng danh : Thăng Long Võ Đạo. Được thừa hưởng một gia tài võ học khổng lồ từ người ông và cha mình, vị võ sư này đã bổ sung cho nghệ thuật võ học nhiều giai thoại.


    Võ bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống và chiến đấu bảo vệ sự sinh tồn, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này sang vùng khác; được sang lọc, tái tạo và phân chia nhiều chi nhánh, môn phái lan tỏa khắp năm châu. Bản sắc của một vùng, một chi, một môn phái, một dân tộc có đặc thù riêng của nó. Nếu đi tìm nguồn gốc của một dòng võ thì cũng chỉ đứt đoạn ở một khoảng thời gian nào đó vì ở đâu chả có người biết võ. Từ thời nguyên thủy, tổ tiên ta vì nhu cầu cuộc sống, đã biết ném đá, phóng lao, đánh gậy múa kiếm… để chống chọi với thú rừng và kẻ thù nhằm bảo vệ cuộc sống và bộ tộc của chính mình, đó chính là Võ. Qua nhiều đời, nhiều thời gian, võ thuật được sáng tạo cách tân theo sự tiến bộ của con người, theo yêu cầu, mục đích sử dụng, theo địa lý khác nhau. Võ thuật cổ truyền lưu truyền trong dân gian rồi hình thành môn phái. Tuy mỗi môn phái có khác nhau về gốc gác, nội dung, đòn thế nhưng tôn chỉ và mục tiêu của Võ thuật cổ truyền nói chung là có nhiều điểm tương đồng…


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Trong lịch sử Võ thuật dân tộc Hà Nội, Sơn Tây, Hà Bắc… là những vùng đất võ nổi tiếng đã nẩy sinh nhiều Anh hùng hào kiệt, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Cử nhân võ thuật,…Những lò võ là gốc của Võ thuật dân tộc đều thuộc vùng đất này. Qua một thời gian lịch sử đã xây dựng được một hệ thống các môn Võ thuật dân tộc đậm đà bản sắc. Lão Võ sư Văn Nhân đã được sinh ra ở vùng đất đó. Ông tên thật là Vũ Văn Nhàn – Nguyễn Văn Nhân, ông sinh vào những năm 20 của thế kỷ XX tại vùng Kinh Bắc lịch sử, một vùng đất giàu truyền thống võ thuật. Từ nhỏ vốn là một cậu bé có tư chất võ thuật ông là người được thừa hưởng một căn bản tinh hoa Võ thuật dân tộc của dòng họ. Trên cơ sở đó ông còn nghiên cứu tìm hiểu tinh hoa của các dòng võ khác trong và ngoài nước để bổ sung và hoàn thiện vốn Võ thuật dân tộc của mình.


    Sớm hiểu là người dân của một dân tộc bị đô hộ Lão võ sư đã tham gia cách mạng từ rất sớm. Tháng 8/1945 khi cả dân tộc bừng bừng trong cơn bão cách mạng, Lão võ sư vào bộ đội. Ông phụ trách Đại đội quân báo của Trung đoàn E41, Liên khu Ba. Suất những năm dài kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Lão võ sư đã tham gia huấn luyện võ thuật chiến đấu cho bộ đội ở chiến khu Việt Bắc. Những năm sau hòa bình ông tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của Bộ Quốc Phòng.



    Suất mấy chục năm tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của lực lượng vũ trang và đã từng tham gia công tác bảo vệ một số vị lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, Lão võ sư đã được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.


    Sau khi nước nhà thống nhất, theo yêu cầu chung và phong trào phát triển võ thuật nước nhà Lão võ sư đã tinh lọc và đúc kết được một phương pháp rèn luyện võ thuật thích hợp với tính cách và thể trạng của người Việt Nam. Phương pháp đó dựa trên vốn liếng căn bản là tinh hoa Võ thuật của dòng tộc cùng kinh nghiệm gần một đời người chiến đấu và huấn luyện võ thuật, Phương pháp võ đó chính là Võ phái Thăng Long Võ Đạo.


    Thăng Long Võ Đạo lấy nhu, hòa, nhân, trí làm gốc. Xuất phát từ đặc điểm của người Việt Nam tầm vóc nhỏ bé và cách sống nặng về tình, trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết trí cao, do đó khó có thể đương lực, ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra những thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng, mạnh, võ sinh không thể tập theo lối cương cường mà tập trung vào việc luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu. Cụ thể là tập nhiều về thân pháp để tránh né sao cho thật thuần thục, để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương để dứt điểm.


    Lão võ sư Văn Nhân cho rằng sở học của Võ thuật Thăng Long võ đạo là để đạt cái tính để chế cái nhiều, cái khéo để chế cái mạnh, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng, cái xuyên để chống cái bè… Tất cả đều phải đạt độ quyền biến vi côn kiếm, tới mức thần quyền.



    Phương châm của Thăng Long võ đạo là né tránh đánh nhanh điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp, di chuyển cực kỳ mau lẹ để luôn tránh được đòn của đối phương. Thăng Long võ đạo nghiên cứu kỹ hệ thống huyệt đạo trên cơ thể con người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ, muông thú để chữa trị bảo kiện cơ thể.


    Các bài bản của môn phái Thăng Long đã được Lão võ sư Văn Nhân hệ thống hóa có cơ sở khoa học, có tính đến các kiến thức y lý, lấy “Bát pháp, Lục hợp” làm Cơ bản công “Bát bộ thiên long” làm bộ pháp “Yêu tự xà hành” làm thân pháp, “Thăng Long quyền” làm thủ pháp, “Nhãn tự điện quang” làm nhãn pháp. Thuật cường thân để luyện nội lực.


    Ngoài quyền cước các môn sinh Thăng Long võ đạo được tập tinh thông, “Thập bát ban võ nghệ” và các loại binh khí đặc dị của môn phái . Bên cạnh những bài quyền chiến đấu trong chương trình huấn luyện của môn phái Thăng Long võ đạo còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và các phương pháp Khí công nhập định nhằm tu dưỡng nhân cách con người.


    Thăng Long võ đạo là một môn Võ thuật dân tộc do Lão võ sư Nguyễn Văn Nhân khởi xướng và suy tôn người Anh hung dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn làm Thánh tổ của môn phái và lấy ngày 20 tháng 8 (Âm lịch) làm ngày Giỗ Tổ.

    Với chương trình huấn luyện có hệ thống, có mục tiêu rõ rang Thăng Long võ đạo đã nhanh chóng phát triển rộng trên địa bàn cả nước cũng như nước ngoài.


    Hiện nay Võ sư – Bác sĩ Nguyễn Văn Thắng (Vũ Mạnh Thắng ) (con trai cố võ sư Nguyễn Văn Nhân) đang chấp chưởng môn phái (là chưởng môn đời thứ 5 theo dòng phái – đời thứ 2 theo môn phái Thăng Long võ đạo) tiếp tục kế tục tinh hoa truyền thống và đưa môn phái lên một tầm cao mới. Với những bí kíp võ học và khí công VS – BS Văn Thắng phát triển môn phái một cách toàn diện đi từ Võ thuật Kungfu đến Nội công đỉnh cao và Khí công trị liệu.


    Dưới sự lãnh đạo của VS – BS Văn Thắng cùng các VS. Công Thắng, VS. Vũ Hải, VS. Bùi Hoàng Lân, VS. Nguyễn Anh Tuấn, VS. Chử Đức Vân, VS. Minh Phương, VS. Quang Phát, VS. Nguyễn Ngọc Dương, VS. Phạm Đức… Thăng Long Võ Đạo đang đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển võ thuật của Thủ đô và Việt Nam, đưa tinh hoa võ cổ truyền Việt Nam ra toàn thế giới.

    Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam nguồn gốc cổ truyền và lịch sử phát triển

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Được thừa hưởng tinh hoa võ học khổng lồ từ hai dòng phái cộng thêm với quá trình tu học và trải nghiệm trong nhiều năm với nhiều danh sư, Bác sĩ – Võ sư Nguyễn Văn Thắng đã chấn hưng Thăng Long Võ Đạo lên một tầm cao mới, phát triển môn phái một cách có hệ thống và khoa học, đi từ võ thuật kungfu đến nội công đỉnh cao và khí công dưỡng sinh, trị liệu chân truyền.
    Nếu như võ thuật kungfu và nội công đỉnh cao chỉ dành riêng cho những người yêu thích và ham mê võ thuật cộng thêm với tố chất bẩm sinh, thì khí công dưỡng sinh và trị liệu chân truyền lại mang tính cộng đồng, dành cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi căn cơ nhằm nâng cao và phục hồi sức khoẻ.




    Lịch sử dân tộc Việt Nam để tồn tại và phát triển đã trải qua hang nghìn năm chiến đấu chống ngoại xâm. Trong khoảng thời gian đó, chiến tranh là thể hiện sự so tài bằng sức lực nghệ thuật chiến đấu với các loại vũ khí thô sơ và hiện đại thời bấy giờ… Thực hiện chiến lược và chiến thuật, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ngoài đường lối quân sự, mưu lược của các tướng lĩnh, sử dụng các công cụ để thực hiện sức mạnh của dân tộc ta chính là nghệ thuật chiến đấu của cá nhân và tập thể. Đó chính là thời kỳ hình thành Võ thuật.


    “Võ thuật dạy cho con người con đường tu luyện chân chính, sử dụng võ thuật vào việc có ích. Người học võ không đơn giản là chỉ học cách đấm đá mà còn tìm được trong đó một sức mạnh tinh thần, sự tự chủ.”

    Năm 1989, báo giới dã đồng loạt đưa tin với một cái tít giật mình : ‘‘Hiện tượng võ thuật mới’’ hay ‘‘Bất ngờ xuất hiện’’ …Nhân vật của các bài báo chứa đựng sự kinh ngạc ấy là võ sư Nguyễn Văn Thắng, hiện đang là chưởng môn của môn phái lừng danh : Thăng Long Võ Đạo. Được thừa hưởng một gia tài võ học khổng lồ từ người ông và cha mình, vị võ sư này đã bổ sung cho nghệ thuật võ học nhiều giai thoại.


    Võ bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống và chiến đấu bảo vệ sự sinh tồn, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này sang vùng khác; được sang lọc, tái tạo và phân chia nhiều chi nhánh, môn phái lan tỏa khắp năm châu. Bản sắc của một vùng, một chi, một môn phái, một dân tộc có đặc thù riêng của nó. Nếu đi tìm nguồn gốc của một dòng võ thì cũng chỉ đứt đoạn ở một khoảng thời gian nào đó vì ở đâu chả có người biết võ. Từ thời nguyên thủy, tổ tiên ta vì nhu cầu cuộc sống, đã biết ném đá, phóng lao, đánh gậy múa kiếm… để chống chọi với thú rừng và kẻ thù nhằm bảo vệ cuộc sống và bộ tộc của chính mình, đó chính là Võ. Qua nhiều đời, nhiều thời gian, võ thuật được sáng tạo cách tân theo sự tiến bộ của con người, theo yêu cầu, mục đích sử dụng, theo địa lý khác nhau. Võ thuật cổ truyền lưu truyền trong dân gian rồi hình thành môn phái. Tuy mỗi môn phái có khác nhau về gốc gác, nội dung, đòn thế nhưng tôn chỉ và mục tiêu của Võ thuật cổ truyền nói chung là có nhiều điểm tương đồng…


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Trong lịch sử Võ thuật dân tộc Hà Nội, Sơn Tây, Hà Bắc… là những vùng đất võ nổi tiếng đã nẩy sinh nhiều Anh hùng hào kiệt, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Cử nhân võ thuật,…Những lò võ là gốc của Võ thuật dân tộc đều thuộc vùng đất này. Qua một thời gian lịch sử đã xây dựng được một hệ thống các môn Võ thuật dân tộc đậm đà bản sắc. Lão Võ sư Văn Nhân đã được sinh ra ở vùng đất đó. Ông tên thật là Vũ Văn Nhàn – Nguyễn Văn Nhân, ông sinh vào những năm 20 của thế kỷ XX tại vùng Kinh Bắc lịch sử, một vùng đất giàu truyền thống võ thuật. Từ nhỏ vốn là một cậu bé có tư chất võ thuật ông là người được thừa hưởng một căn bản tinh hoa Võ thuật dân tộc của dòng họ. Trên cơ sở đó ông còn nghiên cứu tìm hiểu tinh hoa của các dòng võ khác trong và ngoài nước để bổ sung và hoàn thiện vốn Võ thuật dân tộc của mình.


    Sớm hiểu là người dân của một dân tộc bị đô hộ Lão võ sư đã tham gia cách mạng từ rất sớm. Tháng 8/1945 khi cả dân tộc bừng bừng trong cơn bão cách mạng, Lão võ sư vào bộ đội. Ông phụ trách Đại đội quân báo của Trung đoàn E41, Liên khu Ba. Suất những năm dài kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Lão võ sư đã tham gia huấn luyện võ thuật chiến đấu cho bộ đội ở chiến khu Việt Bắc. Những năm sau hòa bình ông tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của Bộ Quốc Phòng.



    Suất mấy chục năm tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của lực lượng vũ trang và đã từng tham gia công tác bảo vệ một số vị lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, Lão võ sư đã được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.


    Sau khi nước nhà thống nhất, theo yêu cầu chung và phong trào phát triển võ thuật nước nhà Lão võ sư đã tinh lọc và đúc kết được một phương pháp rèn luyện võ thuật thích hợp với tính cách và thể trạng của người Việt Nam. Phương pháp đó dựa trên vốn liếng căn bản là tinh hoa Võ thuật của dòng tộc cùng kinh nghiệm gần một đời người chiến đấu và huấn luyện võ thuật, Phương pháp võ đó chính là Võ phái Thăng Long Võ Đạo.


    Thăng Long Võ Đạo lấy nhu, hòa, nhân, trí làm gốc. Xuất phát từ đặc điểm của người Việt Nam tầm vóc nhỏ bé và cách sống nặng về tình, trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết trí cao, do đó khó có thể đương lực, ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra những thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng, mạnh, võ sinh không thể tập theo lối cương cường mà tập trung vào việc luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu. Cụ thể là tập nhiều về thân pháp để tránh né sao cho thật thuần thục, để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương để dứt điểm.


    Lão võ sư Văn Nhân cho rằng sở học của Võ thuật Thăng Long võ đạo là để đạt cái tính để chế cái nhiều, cái khéo để chế cái mạnh, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng, cái xuyên để chống cái bè… Tất cả đều phải đạt độ quyền biến vi côn kiếm, tới mức thần quyền.



    Phương châm của Thăng Long võ đạo là né tránh đánh nhanh điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp, di chuyển cực kỳ mau lẹ để luôn tránh được đòn của đối phương. Thăng Long võ đạo nghiên cứu kỹ hệ thống huyệt đạo trên cơ thể con người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ, muông thú để chữa trị bảo kiện cơ thể.


    Các bài bản của môn phái Thăng Long đã được Lão võ sư Văn Nhân hệ thống hóa có cơ sở khoa học, có tính đến các kiến thức y lý, lấy “Bát pháp, Lục hợp” làm Cơ bản công “Bát bộ thiên long” làm bộ pháp “Yêu tự xà hành” làm thân pháp, “Thăng Long quyền” làm thủ pháp, “Nhãn tự điện quang” làm nhãn pháp. Thuật cường thân để luyện nội lực.


    Ngoài quyền cước các môn sinh Thăng Long võ đạo được tập tinh thông, “Thập bát ban võ nghệ” và các loại binh khí đặc dị của môn phái . Bên cạnh những bài quyền chiến đấu trong chương trình huấn luyện của môn phái Thăng Long võ đạo còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và các phương pháp Khí công nhập định nhằm tu dưỡng nhân cách con người.


    Thăng Long võ đạo là một môn Võ thuật dân tộc do Lão võ sư Nguyễn Văn Nhân khởi xướng và suy tôn người Anh hung dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn làm Thánh tổ của môn phái và lấy ngày 20 tháng 8 (Âm lịch) làm ngày Giỗ Tổ.

    Với chương trình huấn luyện có hệ thống, có mục tiêu rõ rang Thăng Long võ đạo đã nhanh chóng phát triển rộng trên địa bàn cả nước cũng như nước ngoài.


    Hiện nay Võ sư – Bác sĩ Nguyễn Văn Thắng (Vũ Mạnh Thắng ) (con trai cố võ sư Nguyễn Văn Nhân) đang chấp chưởng môn phái (là chưởng môn đời thứ 5 theo dòng phái – đời thứ 2 theo môn phái Thăng Long võ đạo) tiếp tục kế tục tinh hoa truyền thống và đưa môn phái lên một tầm cao mới. Với những bí kíp võ học và khí công VS – BS Văn Thắng phát triển môn phái một cách toàn diện đi từ Võ thuật Kungfu đến Nội công đỉnh cao và Khí công trị liệu.


    Dưới sự lãnh đạo của VS – BS Văn Thắng cùng các VS. Công Thắng, VS. Vũ Hải, VS. Bùi Hoàng Lân, VS. Nguyễn Anh Tuấn, VS. Chử Đức Vân, VS. Minh Phương, VS. Quang Phát, VS. Nguyễn Ngọc Dương, VS. Phạm Đức… Thăng Long Võ Đạo đang đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển võ thuật của Thủ đô và Việt Nam, đưa tinh hoa võ cổ truyền Việt Nam ra toàn thế giới.

    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình...

    Tiếng gọi thiêng liêng mãi vọng xa
    Hùng Vương dấy nghiệp dựng sơn hà

    Trống đồng giục chí trai anh tuấn
    Chim Lạc khơi lòng gái vị tha

    Lịch sử
    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình…




    Tác giả giới thiệu
    Võ sư Ngô Xuân Bính xuất thân trong gia đình có truyền thống về võ, ông học võ ngay từ thân phụ và các võ sư nổi tiếng trong vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đã lĩnh hội được truyền thống võ thuật dân tộc lâu đời, muốn thống nhất, đồng nhất các kỹ thuật võ Việt ông đã tiếp thu được để cùng vun vén về cội nguồn, hy vọng quy tụ các kỹ thuật của bầu đoàn võ của vùng sông Lam, sông Mã thành một phái võ riêng cho Việt Nam. Ông là một học trò giỏi của làng võ Việt Nam, nên khi ông là chưởng môn phái đã đặt tên cho môn võ mới là phái võ Nhất Nam. Với ý nghĩa đây là một đứa con của làng võ Việt nam, một phần tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

    Theo những gì ông cho biết (tham khảo sách Nhất Nam căn bản tập 1 và 2), đây là một môn phái có quy mô và tổ chức cao, với một hệ thống các môn công khá đồ sộ, toàn diện được đúc kết, sáng tạo dựa trên những nguyên lý đơn giản mà hợp lý, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý và cơ chế vận động của cơ bắp con người để tạo dựng lên những phương pháp luyện tập, những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo, có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương… Ngày 19 tháng 5 năm 2009 Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch đã chính thức ra văn bản công nhận danh sách Ban Vận Động Thành Lập Liên Đoàn Võ Thuật Nhất Nam Việt Nam gồm 21 vị.

    Đặc điểm
    Võ Nhất Nam xuất phát trước hết từ đặc điểm của người Việt là tầm vóc nhỏ bé, mà trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết chí cao do đó khó có thể đương lực ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng mạnh, võ sinh ta không thể tập theo lối cương cường, mà tập trung vào luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu, cụ thể là tập nhiều về tránh né sao cho thật thuần thục để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương mà dứt điểm. Nói như các võ sư võ Héc là: “học đạt cái tinh để chế cái nhiều, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng…” (trích sách Nhất Nam căn bản tập 1, nhà xuất bản TDTT Hà nội năm 1988) tất cả đều phải đạt độ quyền biến, tới mức thần quyền.




    Phương châm của võ Nhất Nam là né tránh, đánh nhanh, điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm, có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp cực kỳ mau lẹ để luồn tránh được đòn của đối phương, còn về tấn pháp tập trung vào các thế tấn thật cơ động, biến ảo cao. Để đánh điểm huyệt đối phương và chữa chạy cho mình hữu hiệu nhất, võ Nhất Nam nghiên cứu kỹ hệ thống các huyệt trên cơ thể người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ và những con thú sẵn có ở địa phương.


    Các võ sinh Nhất Nam được tập tinh thông thập bát ban võ nghệ, tức là ngoài quyền cước, võ sinh còn biết sử dụng thành thạo 17 loại vũ khí nữa. Quyền của Nhất Nam có 32 bài cơ bản, lại thêm 42 bài bổ trợ. Xuất phát của quyền theo quan niệm: “Biến tạo của trời đất có tất cả, từ cao đến thấp, chim muông, hoa lá, vạn vật, côn trùng… theo chúng kiến tạo, thêm cái hay để bảo tồn một giống hay nhiều giống. Trên đến chí cương, dưới đến chí âm, khắc nhu khắc cương, đấy là đạo của quyền”. Điều đó có nghĩa là: Nhất Nam với mọi vật phỏng theo muôn vật, nghiền ngẫm để rút ra cái hay, cái đẹp, cái cứng, cái dẻo, cái biến hóa của muôn vật mà chế thành quyền. Bài quyền một chuỗi động tác, có thế công, thế thủ nhưng không chỉ là thế, là dũng mà phải là cái biến, cái khoáng đạt, tùy lúc. Nhất Nam bên cạnh những bài quyền chiến đấu, còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và những bài quyền nhập định nhằm tu dưỡng nhân cánh con người. Trong quyền, Nhất Nam tập đá nhiều, nhưng những đòn yểm trợ bằng tay vẫn được chủ yếu sử dụng và đạt hiệu quả cao, trong đó nổi bật lên 2 thế: tay xà và tay trảo. Tay xà là một thế mô phỏng động tác quăng, quật, luồn, cuộn của các loài trăn vốn rất phổ biến ở vùng Thanh-Nghệ, nó có độ nẩy, độ xiết, độ mở và độ uốn lượn rất linh hoạt. Tay trảo là thế đánh của tay chĩa ngang ngón cái như cựa gà chọi, còn các ngón kia khép lại chĩa thẳng thành mũi xỉa vào các huyệt của đối phương, thể hiện lối võ lấy yếu thắng mạnh, lấy nhẹ đánh nặng. Đặc biệt các bài Ma quyền, Ảo quyền, Hoa quyền đã kết tinh những kỳ bí của võ Nhất Nam.

    Về võ binh khí, Nhất Nam coi binh khí là phương tiện “nối” cho tay thêm dài, thêm sắc, thêm cứng, thêm dẻo và linh hoạt, nên đã từ thế thức trong các bài quyền mà sáng tạo ra những bài võ binh khí như Ma kiếm, Hoa kiếm, Vũ Chân kiếm… Nhất Nam ưa sử dụng loại gậy tre đặc hoặc gỗ cứng, nặng các cỡ khác nhau, các bài Lôi côn, Thiết côn, Vân Vũ côn gồm nhiều thế đánh khác nhau, kết hợp nhuần nhuyễn giữ công và thủ. Hiện nay, về vũ khí có 9 bài côn, 9 bài kiếm, 7 bài rìu, 3 bài chạc ba, 5 bài thương, 1 bài song nguyệt, 2 bài đoản thiên mộc, 3 bài câu liêm cán ngắn (đánh kèm với lá mộc), 1 bài đánh bằng dây lưng, đặc biệt có cả bài đánh bằng dải lụa được gọi là Nhung thuật.

    Binh khí của Nhất Nam cũng rất đặc sắc. Côn có tới 4 cỡ với độ dài bằng cánh tay, cao ngang mày, cao 1 đầu 1 gang tay và cao một đầu một với tay. Mộc bằng gỗ ken mây, bọc nhiều lớp da sống. Hai bên thân mộc còn lắp thêm 2 cái để khi đánh có thể xòe ra thành một lớn hoặc có thể gấp lại để che hai phía của thân mộc. Cây chạc ba như cây chạc ba đâm cá, có thể vừa đâm vừa ngoặc. Câu câu liêm là biến tướng của cây rựa đi rừng. Kiếm có sống và lưỡi, cong từ đoạn 2/3 ra mũi. Song nguyệt như cái liềm lưỡi sắt, hai đầu nhọn hoắt, một cặp nguyệt như bốn con dao vừa đâm vừa chém. Bài nhung thuật đánh bằng dải lụa dài 1-3 mét, đầu buộc vật nặng, cứng dùng để điểm, trói đối phương và quấn, giật vũ khí đối phương, có thể dấu kín nên dễ đánh bất ngờ.

    Võ Nhất Nam xưa có 12 đẳng ứng với 12 vạch, nhưng nay thất truyền chỉ còn 9 đẳng ở môn công thuộc đủ các bài quyền thuật, binh khí, ám khí, xoa bóp, châm cứu, dưỡng sinh. Trang phục của võ sinh Nhất Nam theo lối võ cổ truyền: đầu chít khăn, mình trần, đóng khố. Các tài liệu tham khảo được phổ biến rộng rãi của võ Nhất nam hiện nay là hai cuốn Nhất nam căn bản do đích thân võ sư Ngô Xuân Bính biên soạn và trình bày.

    Nguyên tắc
    Học lấy tinh, không cần nhiều
    Hiểu cần nhiều, nhưng luyên ít
    Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
    Giác đầu thành tay, thành chân
    Cần chí hơi lý ở đầu
    Phương pháp
    Dậy chí trước môn công
    Dậy ý trước tay chân
    Dậy chế công, lấy công làm gốc
    Dậy chế thủ, lấy thủ làm gốc
    Biết chế chống công, biết công được chế
    Yếu pháp
    Là những yếu quyết căn bản giúp người luyện tập nắm vững và có cơ sở lý luận trong việc học tập các đòn thế, chiêu thức, cách di chuyển, tấn công phản công, phòng thủ… Giống như người đi xa phải chuẩn bị tư trang, người luyện võ muốn đạt được công phu, đều phải hiểu và nắm được những yếu quyết căn môn cơ bản.

    Yếu pháp của môn phái võ Nhất Nam, dựa trên những nguyên lý đơn giản và hợp lý. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý, cơ chế vận động của cơ bắp cơ chế vận hành của khí huyết để đưa ra các phương thức rèn luyện. Những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo; có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương, cũng như khả năng huy động một cách hợp lý sức mạnh của bản thân và các bộ phận của cơ thể dùng khi công hoặc thủ. Nhằm giúp người tập nhanh chóng thu được những kết quả mong muốn như: bản lĩnh vững vàng, trí cảm sáng suốt, khả năng phản xạ nhạy bén, cử động của tay chân linh hoạt, chính xác.

    Các yếu pháp căn bản của phái Nhất Nam được chia ra làm 5 phần: Thân pháp, Thủ pháp, Công pháp, Hoá pháp, Giải pháp.

    Bộ tay
    Sự khéo léo, tính biến ứng và khả năng thực hiện những động tác phức tạp ở các góc độ khác nhau, là ưu điểm tiêu biểu của đôi tay con người. Dựa vào những nhận xét thông minh và đúng đắn đó, các võ sư nghiên cứu môn công và các phương pháp luyện tập đôi tay đêu cố gắng tận dụng khả năng lớn lao của nó.

    Môn phái Nhất Nam tách bộ tay ra 5 kiểu: Tay quyền, Tay trảo, Tay đao, Tay xà, Tay chỏ.

    Bộ chân
    Khả năng vươn dài, vươn cao, trượt thấp, nhảy xa, bật cao, di chuyển, thực hiện dễ dàng các động tác nhanh mạnh là ưu thế chủ yếu của đôi chân con người. Người tập võ, luyện thành những đòn thế căn bản của bộ chân sẽ có được công phu trụ tấn vững vàng, di chuyển linh hoạt, đòn đánh kín, lực đánh mạnh và những khả năng gạt, đỡ, ngoắc, khóa, du ép đối phương một các hợp lý, có hiệu quả.

    Môn phái Nhất Nam chia bộ chân ra làm 5 kiểu sau: Thiết cước, Lôi cước, Đao cước (cước đao ), Kim chỉ cước, Chuỳ lôi cước.

    Quyền
    Quyền là thuật vận động, hài hoà giữa sức mạnh, sức bật, sức bền, độ dẻo, tính nhịp điệu trong một tổng thể khăng khít, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên mà tính năng của nó có thể thu âm, thu dương, khắc cương, khắc nhu, là nếp nghĩ, là tinh thần, là phần hành động lộ hiện cho tư tưởng hành hiệp của người học võ. Kỹ thuật của Quyền rất đa dạng: khi ứng đấu các võ sĩ phải xử lý đồng bộ nhiều động tác của tay, chân, của đầu, của thân, của mông… khi chậm, khi nhanh, khi mạnh, khi nhẹ… khi đánh xa, khi đánh gần, khi đánh cao, khi đánh thấp, khi đánh đòn đơn, khi đánh đa đòn… khi đánh trực diện, khi đánh từ hai phía… khi chập chờn dồn dứ, khi ồ ạt liên hoàn… Mặt khác trong qúa trình luyện quyền, người học võ phải thường xuyên di chuyển bằng các thức; bước chuyển, nhảy, lăn, lộn, chạy… để phù hợp với tình huống tấn công hoặc phòng thủ.

    Võ cổ truyền – Nhất Nam Võ Phái

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình...

    Tiếng gọi thiêng liêng mãi vọng xa
    Hùng Vương dấy nghiệp dựng sơn hà

    Trống đồng giục chí trai anh tuấn
    Chim Lạc khơi lòng gái vị tha

    Lịch sử
    Võ Nhất Nam là môn võ có nguồn gốc ở Việt Nam. Trước đây chỉ tồn tại dưới các dạng gia phái hoặc trong cộng đồng làng xã. Có người cho rằng cái gốc ban đầu của Nhất Nam là võ Hét, hoặc võ Héc, của vùng châu Hoan, châu Ái xa xưa mà sau này là xứ Thanh, xứ Nghệ (hay Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay). Trong số Tạo sĩ, Tạo toát thời Lê Trung Hưng, rất nhiều người quê ở các huyện Quảng Xương, Đông Sơn, Hoàng Hóa, nhất là các huyện Kỳ Hoa, Tống Sơn và Thạch Hà của vùng Thanh-Nghệ, trong số đó nổi bật lên các họ Vũ Tá, Nguyễn Đình, Ngô Phúc, Phạm Phúc, Văn Đình…




    Tác giả giới thiệu
    Võ sư Ngô Xuân Bính xuất thân trong gia đình có truyền thống về võ, ông học võ ngay từ thân phụ và các võ sư nổi tiếng trong vùng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh đã lĩnh hội được truyền thống võ thuật dân tộc lâu đời, muốn thống nhất, đồng nhất các kỹ thuật võ Việt ông đã tiếp thu được để cùng vun vén về cội nguồn, hy vọng quy tụ các kỹ thuật của bầu đoàn võ của vùng sông Lam, sông Mã thành một phái võ riêng cho Việt Nam. Ông là một học trò giỏi của làng võ Việt Nam, nên khi ông là chưởng môn phái đã đặt tên cho môn võ mới là phái võ Nhất Nam. Với ý nghĩa đây là một đứa con của làng võ Việt nam, một phần tinh hoa văn hóa của dân tộc Việt Nam.

    Theo những gì ông cho biết (tham khảo sách Nhất Nam căn bản tập 1 và 2), đây là một môn phái có quy mô và tổ chức cao, với một hệ thống các môn công khá đồ sộ, toàn diện được đúc kết, sáng tạo dựa trên những nguyên lý đơn giản mà hợp lý, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý và cơ chế vận động của cơ bắp con người để tạo dựng lên những phương pháp luyện tập, những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo, có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương… Ngày 19 tháng 5 năm 2009 Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch đã chính thức ra văn bản công nhận danh sách Ban Vận Động Thành Lập Liên Đoàn Võ Thuật Nhất Nam Việt Nam gồm 21 vị.

    Đặc điểm
    Võ Nhất Nam xuất phát trước hết từ đặc điểm của người Việt là tầm vóc nhỏ bé, mà trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết chí cao do đó khó có thể đương lực ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng mạnh, võ sinh ta không thể tập theo lối cương cường, mà tập trung vào luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu, cụ thể là tập nhiều về tránh né sao cho thật thuần thục để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương mà dứt điểm. Nói như các võ sư võ Héc là: “học đạt cái tinh để chế cái nhiều, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng…” (trích sách Nhất Nam căn bản tập 1, nhà xuất bản TDTT Hà nội năm 1988) tất cả đều phải đạt độ quyền biến, tới mức thần quyền.




    Phương châm của võ Nhất Nam là né tránh, đánh nhanh, điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm, có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp cực kỳ mau lẹ để luồn tránh được đòn của đối phương, còn về tấn pháp tập trung vào các thế tấn thật cơ động, biến ảo cao. Để đánh điểm huyệt đối phương và chữa chạy cho mình hữu hiệu nhất, võ Nhất Nam nghiên cứu kỹ hệ thống các huyệt trên cơ thể người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ và những con thú sẵn có ở địa phương.


    Các võ sinh Nhất Nam được tập tinh thông thập bát ban võ nghệ, tức là ngoài quyền cước, võ sinh còn biết sử dụng thành thạo 17 loại vũ khí nữa. Quyền của Nhất Nam có 32 bài cơ bản, lại thêm 42 bài bổ trợ. Xuất phát của quyền theo quan niệm: “Biến tạo của trời đất có tất cả, từ cao đến thấp, chim muông, hoa lá, vạn vật, côn trùng… theo chúng kiến tạo, thêm cái hay để bảo tồn một giống hay nhiều giống. Trên đến chí cương, dưới đến chí âm, khắc nhu khắc cương, đấy là đạo của quyền”. Điều đó có nghĩa là: Nhất Nam với mọi vật phỏng theo muôn vật, nghiền ngẫm để rút ra cái hay, cái đẹp, cái cứng, cái dẻo, cái biến hóa của muôn vật mà chế thành quyền. Bài quyền một chuỗi động tác, có thế công, thế thủ nhưng không chỉ là thế, là dũng mà phải là cái biến, cái khoáng đạt, tùy lúc. Nhất Nam bên cạnh những bài quyền chiến đấu, còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và những bài quyền nhập định nhằm tu dưỡng nhân cánh con người. Trong quyền, Nhất Nam tập đá nhiều, nhưng những đòn yểm trợ bằng tay vẫn được chủ yếu sử dụng và đạt hiệu quả cao, trong đó nổi bật lên 2 thế: tay xà và tay trảo. Tay xà là một thế mô phỏng động tác quăng, quật, luồn, cuộn của các loài trăn vốn rất phổ biến ở vùng Thanh-Nghệ, nó có độ nẩy, độ xiết, độ mở và độ uốn lượn rất linh hoạt. Tay trảo là thế đánh của tay chĩa ngang ngón cái như cựa gà chọi, còn các ngón kia khép lại chĩa thẳng thành mũi xỉa vào các huyệt của đối phương, thể hiện lối võ lấy yếu thắng mạnh, lấy nhẹ đánh nặng. Đặc biệt các bài Ma quyền, Ảo quyền, Hoa quyền đã kết tinh những kỳ bí của võ Nhất Nam.

    Về võ binh khí, Nhất Nam coi binh khí là phương tiện “nối” cho tay thêm dài, thêm sắc, thêm cứng, thêm dẻo và linh hoạt, nên đã từ thế thức trong các bài quyền mà sáng tạo ra những bài võ binh khí như Ma kiếm, Hoa kiếm, Vũ Chân kiếm… Nhất Nam ưa sử dụng loại gậy tre đặc hoặc gỗ cứng, nặng các cỡ khác nhau, các bài Lôi côn, Thiết côn, Vân Vũ côn gồm nhiều thế đánh khác nhau, kết hợp nhuần nhuyễn giữ công và thủ. Hiện nay, về vũ khí có 9 bài côn, 9 bài kiếm, 7 bài rìu, 3 bài chạc ba, 5 bài thương, 1 bài song nguyệt, 2 bài đoản thiên mộc, 3 bài câu liêm cán ngắn (đánh kèm với lá mộc), 1 bài đánh bằng dây lưng, đặc biệt có cả bài đánh bằng dải lụa được gọi là Nhung thuật.

    Binh khí của Nhất Nam cũng rất đặc sắc. Côn có tới 4 cỡ với độ dài bằng cánh tay, cao ngang mày, cao 1 đầu 1 gang tay và cao một đầu một với tay. Mộc bằng gỗ ken mây, bọc nhiều lớp da sống. Hai bên thân mộc còn lắp thêm 2 cái để khi đánh có thể xòe ra thành một lớn hoặc có thể gấp lại để che hai phía của thân mộc. Cây chạc ba như cây chạc ba đâm cá, có thể vừa đâm vừa ngoặc. Câu câu liêm là biến tướng của cây rựa đi rừng. Kiếm có sống và lưỡi, cong từ đoạn 2/3 ra mũi. Song nguyệt như cái liềm lưỡi sắt, hai đầu nhọn hoắt, một cặp nguyệt như bốn con dao vừa đâm vừa chém. Bài nhung thuật đánh bằng dải lụa dài 1-3 mét, đầu buộc vật nặng, cứng dùng để điểm, trói đối phương và quấn, giật vũ khí đối phương, có thể dấu kín nên dễ đánh bất ngờ.

    Võ Nhất Nam xưa có 12 đẳng ứng với 12 vạch, nhưng nay thất truyền chỉ còn 9 đẳng ở môn công thuộc đủ các bài quyền thuật, binh khí, ám khí, xoa bóp, châm cứu, dưỡng sinh. Trang phục của võ sinh Nhất Nam theo lối võ cổ truyền: đầu chít khăn, mình trần, đóng khố. Các tài liệu tham khảo được phổ biến rộng rãi của võ Nhất nam hiện nay là hai cuốn Nhất nam căn bản do đích thân võ sư Ngô Xuân Bính biên soạn và trình bày.

    Nguyên tắc
    Học lấy tinh, không cần nhiều
    Hiểu cần nhiều, nhưng luyên ít
    Học lõi không học vỏ, học vỏ để chứa lõi
    Giác đầu thành tay, thành chân
    Cần chí hơi lý ở đầu
    Phương pháp
    Dậy chí trước môn công
    Dậy ý trước tay chân
    Dậy chế công, lấy công làm gốc
    Dậy chế thủ, lấy thủ làm gốc
    Biết chế chống công, biết công được chế
    Yếu pháp
    Là những yếu quyết căn bản giúp người luyện tập nắm vững và có cơ sở lý luận trong việc học tập các đòn thế, chiêu thức, cách di chuyển, tấn công phản công, phòng thủ… Giống như người đi xa phải chuẩn bị tư trang, người luyện võ muốn đạt được công phu, đều phải hiểu và nắm được những yếu quyết căn môn cơ bản.

    Yếu pháp của môn phái võ Nhất Nam, dựa trên những nguyên lý đơn giản và hợp lý. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý, cơ chế vận động của cơ bắp cơ chế vận hành của khí huyết để đưa ra các phương thức rèn luyện. Những hệ thống bài tập dư chứa những thủ thuật tinh tế và khoa học, những đòn thế đơn giản mà khéo léo; có khả năng lợi dụng được sức mạnh của đối phương, cũng như khả năng huy động một cách hợp lý sức mạnh của bản thân và các bộ phận của cơ thể dùng khi công hoặc thủ. Nhằm giúp người tập nhanh chóng thu được những kết quả mong muốn như: bản lĩnh vững vàng, trí cảm sáng suốt, khả năng phản xạ nhạy bén, cử động của tay chân linh hoạt, chính xác.

    Các yếu pháp căn bản của phái Nhất Nam được chia ra làm 5 phần: Thân pháp, Thủ pháp, Công pháp, Hoá pháp, Giải pháp.

    Bộ tay
    Sự khéo léo, tính biến ứng và khả năng thực hiện những động tác phức tạp ở các góc độ khác nhau, là ưu điểm tiêu biểu của đôi tay con người. Dựa vào những nhận xét thông minh và đúng đắn đó, các võ sư nghiên cứu môn công và các phương pháp luyện tập đôi tay đêu cố gắng tận dụng khả năng lớn lao của nó.

    Môn phái Nhất Nam tách bộ tay ra 5 kiểu: Tay quyền, Tay trảo, Tay đao, Tay xà, Tay chỏ.

    Bộ chân
    Khả năng vươn dài, vươn cao, trượt thấp, nhảy xa, bật cao, di chuyển, thực hiện dễ dàng các động tác nhanh mạnh là ưu thế chủ yếu của đôi chân con người. Người tập võ, luyện thành những đòn thế căn bản của bộ chân sẽ có được công phu trụ tấn vững vàng, di chuyển linh hoạt, đòn đánh kín, lực đánh mạnh và những khả năng gạt, đỡ, ngoắc, khóa, du ép đối phương một các hợp lý, có hiệu quả.

    Môn phái Nhất Nam chia bộ chân ra làm 5 kiểu sau: Thiết cước, Lôi cước, Đao cước (cước đao ), Kim chỉ cước, Chuỳ lôi cước.

    Quyền
    Quyền là thuật vận động, hài hoà giữa sức mạnh, sức bật, sức bền, độ dẻo, tính nhịp điệu trong một tổng thể khăng khít, hoà hợp giữa con người với thiên nhiên mà tính năng của nó có thể thu âm, thu dương, khắc cương, khắc nhu, là nếp nghĩ, là tinh thần, là phần hành động lộ hiện cho tư tưởng hành hiệp của người học võ. Kỹ thuật của Quyền rất đa dạng: khi ứng đấu các võ sĩ phải xử lý đồng bộ nhiều động tác của tay, chân, của đầu, của thân, của mông… khi chậm, khi nhanh, khi mạnh, khi nhẹ… khi đánh xa, khi đánh gần, khi đánh cao, khi đánh thấp, khi đánh đòn đơn, khi đánh đa đòn… khi đánh trực diện, khi đánh từ hai phía… khi chập chờn dồn dứ, khi ồ ạt liên hoàn… Mặt khác trong qúa trình luyện quyền, người học võ phải thường xuyên di chuyển bằng các thức; bước chuyển, nhảy, lăn, lộn, chạy… để phù hợp với tình huống tấn công hoặc phòng thủ.

    Âm Dương có ảnh hưởng đến nhiều phương diện văn hóa truyền thống phương Đông, trong đó có võ cổ truyền.


    Võ cổ truyền là môn văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: “đằng sau võ học là triết học”. Âm dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất, phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.


    Đặc tính là tính chất đặc biệt. Tính chất đặc biệt ở đây thuộc lĩnh vực Võ thuật cổ truyền. Võ thuật cổ truyền Việt Nam có nhiều đặc tính, ngạn ngữ võ học có câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn”; có nghĩa là hai tay lấy Ngũ hành làm gốc, hai chân lấy Bát quái làm rễ.
    Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
    Bát quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.


    Theo Kinh Dịch thì Vô cực sinh Thái cực; Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh Bát quái; Bát quái sinh vô lượng, biến hoá không cùng.

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam là mạch chảy xuyên suốt 4.896 năm theo dòng lịch sử của dân tộc Việt Nam, là môn võ học văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: "Đằng sau võ học là triết học". Các bộ môn võ học Phương Đông đều dựa trên nền tảng của nguyên lý triết học: Âm Dương - Ngũ Hành. Học thuyết này có ảnh hưởng lớn đến nhiều phương diện của văn hóa truyền thống Phương Đông, trong đó Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng không ngoại trừ.

    Sách và tài liệu viết về Võ thuật cổ truyền Việt Nam hiện nay không nhiều, nhất là tài liệu bằng tiếng Anh phổ biến ra nước ngoài rất hạn chế, gần như chưa có tác phẩm nào, mà mới chỉ có một số bài tiểu luận của một vài Võ sư tâm huyết phổ biến qua các trang mạng trong khả năng khiêm tốn của mình. Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu rộng cho nền võ học cổ truyền Việt Nam. Ngay cả câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn” là nền tảng của Võ thuật cổ truyền Việt Nam, từ trước đến nay cũng có đề cập nhưng chưa nghe phân tích tận tường để ứng dụng đúng nghĩa.

    NGŨ HÀNH VI BẢN
    Học thuyết Ngũ hành lấy năm loại vật chất cơ bản theo các nhà hiền triết cổ đại quy nạp vũ trụ, vạn vật vào Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Giữa chúng còn có một quy luật tương sinh, tương khắc tuần hoàn không dứt. "Tương sinh" mang ý là cùng sinh ra nhau, giúp nhau lớn mạnh, tức là Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. "Tương khắc" là mang ý chế ước lẫn nhau, kìm hãm nhau, tức Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ.

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền Phương Đông thể hiện sự quan hệ với Ngũ Hành lớn nhất theo tư tưởng chỉ đạo là "Ngũ hành sinh khắc chế biến hóa", kết hợp với thế quyền, kết hợp với cơ thể con người, lấy "nội, ngoại Ngũ hành"của thân thể con người làm chủ.

    Quan hệ của Ngũ hành với Võ thuật cổ truyền lấy hình dạng, tính năng, phương vị của Ngũ hành làm cơ sở chuẩn, đem các thức quyền phối hợp thành tổ hợp, lấy Ngũ hành làm hệ thống, làm nguyên tố cơ bản cấu thành các loại quyền thức, chiêu, thức trong võ thuật. Ngũ hành lại phân bố năm phương vị: phương Nam: Hỏa, phương Bắc: Thủy, phương Đông: Mộc, phương Tây: Kim, trung ương là Thổ; cũng như năm phương vị của người: trước, sau, phải, trái, và ở giữa. Võ thuật cổ truyền cũng đem bộ tiến, thoái, tả, hữu, định ở trung tâm làm Ngũ hành.

    Các võ phái Võ thuật cổ truyền ứng dụng Ngũ hành vào các phần căn bản như:
    1. Bộ Thuỷ: Các đầu ngón tay (Thủ chỉ), ứng với màu đen (hắc, ô)
    2. Bộ Mộc: Cạnh bàn tay (Cương đao), ứng với màu xanh (thanh)
    3. Bộ Hoả: Cùi chỏ (Phượng dực), ứng với màu đỏ (hồng, xích, hoả)
    4. Bộ Thổ: Ức bàn tay (Hùng chưởng), ứng với màu vàng (hoàng, huỳnh)
    5. Bộ Kim: Nắm tay (Thôi sơn), ứng với màu trắng (bạch)

    BÁT QUÁI VI CĂN
    Võ thuật cổ truyền lấy đôi chân lập vị theo hình tượng tiêu biểu và di chuyển theo các hướng của Bát quái đồ. Vị trí của bộ tấn Võ Tây Sơn Bình Định trong đồ hình Bát quái (lấy Trung bình tấn làm trung tâm) như sau:

    1. Càn tam liên Tây Bắc Hùng long;
    2. Khảm trung mãn chính Bắc Thanh xà;
    3. Cấn phúc uyển Đông Bắc Hội phụng;
    4. Chấn ngưỡng vu chính Đông Kim kê;
    5. Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn;
    6. Ly trung hư chánh Nam Bạch hạc;
    7. Khôn lục đoạn Tây Nam Hồng hổ;
    8. Đoài thượng khuyết chính Tây Hắc hầu;
    9. Lưỡng nghi tâm Trung bình lập thế.
    Cung Càn: Long tấn, cung Khảm: Xà tấn, cung Cấn: Phụng tấn, cung Chấn: Kim kê tấn, cung Tốn: Nhạn tấn, cung Ly: Hạc tấn, cung Khôn: Hổ tấn, cung Đoài: Hầu tấn, Trung bình tấn lập thế ở giữa (hình minh họa 1).

    Theo phương vị các cung, bài Bát quái câu liêm thân pháp, môn phái Võ Đang (Nam Anh, Võ Đang chân truyền, NXB Đất Việt, 1973), di chuyển theo Bát quái đồ: Từ trung bình tấn (trung tâm chính vị) chân trái bước lên cung Cấn rồi kéo nhanh về cung Khôn; chân phải bước tới cung Càn đoạn kéo nhanh về cung Tốn; tiếp đến chân trái từ cung Khôn bước lên cung Chấn, chân phải từ cung Tốn xoay lưng đạp cung Khảm và chân trái từ cung Chấn bước ngang qua cung Đoài, xoay lưng lại chân phải lui về cung Ly... Trong di chuyển yêu cầu bàn chân tiếp sát và miết mạnh xuống mặt sàn (hình minh họa 2)

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền thường gọi “tấn” là “ngựa”. Mỗi môn phái có cách đứng tấn khác nhau, tuy không khác nhau xa lắm nhưng có đôi chỗ khác biệt. Tên gọi tấn cũng không đồng nhất. Tên gọi các bộ tấn của Ban chuyên môn Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam qua nghiên cứu tương đối gần so với các võ đường và môn phái trong nước hiện nay.
    Sự khác biệt là điều tất yếu, tuy nhiên không phải tất cả những điều cổ nhân nói là đúng. “Tận tín thư bất như vô thư” (Tin hoàn toàn vào sách nhược bằng không có sách còn hơn). Vì vậy, có nhiều bộ tấn khi xem lại không phù hợp với tên gọi. Bộ tấn dùng minh hoạ trong “Lưỡng túc Bát quái vi căn” là của môn Võ Tây Sơn ngày trước tại Bình Định, minh hoạ không hẳn là mô hình chuẩn cho tất cả các môn phái hoặc thống nhất như Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam đã làm. Ngay cả tài liệu “Căn bản công” đã in thành sách của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, khi có điều kiện cũng cần hội thảo chuyên môn, thẩm định lại tính kỹ thuật và khoa học thực tế một cách nghiêm túc.

    Trên cơ sở lý luận “Lưỡng túc Bát quái vi căn” dùng giải thích căn bản bước chân theo đồ hình Bát quái, không quan trọng tên gọi thế tấn. Người tập có thể linh hoạt thay đổi các thế tấn phù hợp với môn phái, võ đường của mình, không nhất thiết phải theo thế tấn minh hoạ, mà chỉ theo bước chân cơ bản trên nền hình Bát quái.

    Người xưa nói: “Mở đóng hư thực tức là quyền kinh”, “một mở một đóng quyền kinh hết vậy”, “một mở một đóng, có biến có thường, hư thực kiêm tới chợt ẩn chợt hiện”, “một động một tĩnh là hết chỗ ảo diệu của quyền thuật”. Cái gọi là động tĩnh, hư thực… đều căn cứ vào học thuyết âm dương trong kinh Dịch mà ra và chỉ là cách nói cụ thể hóa, hình tượng hóa trong quyền thuật mà thôi. Về sau những người diễn tập lại lấy đó tôn lên làm tiêu chuẩn, tự mình thể nghiệm cái triết lý này trong việc diễn luyện của bản thân.

    Bất kể loại quyền thuật nào cũng nhấn mạnh việc làm khỏe thân mình là ý nghĩa trọng yếu thứ nhất, đó là phải duy trì cho được sự cân bằng âm dương trong cơ thể. Vì vậy dù là quyền “ngoại gia” hay quyền “nội gia” đều nhấn mạnh “Khí trầm đan điền”, hoặc “trong luyện tinh – khí – thần, ngoài luyện tấn pháp, bộ pháp, thân pháp, thủ cước pháp” hay “trong luyện hơi thở, ngoài luyện gân cốt”. Như thế âm bằng dương thuận, tinh thần ổn định. Âm dương điều hòa, tinh thần khoẻ mạnh, thân thể tráng kiện, thì bệnh nào mà sinh?

    Học thuyết âm dương không phải chỉ có quan hệ mật thiết với lý luận quyền thuật và việc rèn luyện võ thuật mà trong kỹ thuật đối kháng của võ thuật cũng không có chỗ nào không ngầm mang triết lý âm dương. Trong chiến đấu, bất luận là phòng thủ hay tiến công, cũng không rời xa sự biến hóa của âm dương. Trong “Quyền Kinh” có nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không” (Luyện quyền chẳng luyện nghệ, có đến tuổi già cũng phí công). Quyền là đạo vận động, là phương thuốc khỏe thân; thuật là phép đoạt người, là sự ảo diệu để thắng người”. Tuy nhiên sự ảo diệu từ đâu tới, thuật từ đâu mà được? Chính là từ âm dương biến hóa với nhau. Con đường cầu tài năng võ thuật tất theo con đường của âm dương, chính là nguồn gốc nảy sinh của diệu quyết.

    Sở dĩ âm cực dương sinh, dương cực âm sinh là vì trong âm có dương tiềm phục, trong dương có âm tiềm phục chưa hiện rõ ra. Khi âm đến hồi cực thịnh thì mầm dương mới đủ sức hiện lên, nghĩa là trong thái âm có cái mầm thiếu dương hiện lên và bắt đầu tăng trưởng, cũng như trong thái dương có mầm thiếu âm hiện lên và bắt đầu tăng trưởng. Và bởi cái lẽ âm dương tiềm phục ấy mà trên đời chẳng bao giờ có hiện tượng cô dương hay cô âm.

    Võ cổ truyền thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, kết hợp cương nhu, hư thực, công thủ, phản biến, mạnh yếu, nội ngoại, thể chất tinh thần…Luyện tập võ cổ truyền không chỉ là phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh, vận động thể chất giản đơn mà còn là hiện tượng văn hóa thần kỳ rèn luyện tinh thần cùng ý chí. Từ tư thế phòng thủ (âm), khi bị tấn công, tức khắc những chiêu thức chống trả được tung ra (dương), trong quá trình đáp trả, bị phản công thì những chiêu thức né, tránh, hóa giải lại trở về phòng thủ (âm) đồng thời biến thế phản đòn tích cực (dương). Cứ như thế thủ công, phản biến liên hoàn như một vòng tròn xoay chuyển. Có thể hiểu nguyên tắc võ thuật là trong công có thủ, trong thủ có công như âm trong dương và dương trong âm vậy.


    Theo: Vs: Trương Văn Bảo

    Võ Cổ Truyền – Ý nghĩ biểu của biểu tượng Âm Dương

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Âm Dương có ảnh hưởng đến nhiều phương diện văn hóa truyền thống phương Đông, trong đó có võ cổ truyền.


    Võ cổ truyền là môn văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: “đằng sau võ học là triết học”. Âm dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất, phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.


    Đặc tính là tính chất đặc biệt. Tính chất đặc biệt ở đây thuộc lĩnh vực Võ thuật cổ truyền. Võ thuật cổ truyền Việt Nam có nhiều đặc tính, ngạn ngữ võ học có câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn”; có nghĩa là hai tay lấy Ngũ hành làm gốc, hai chân lấy Bát quái làm rễ.
    Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
    Bát quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.


    Theo Kinh Dịch thì Vô cực sinh Thái cực; Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh Bát quái; Bát quái sinh vô lượng, biến hoá không cùng.

    Võ thuật cổ truyền Việt Nam là mạch chảy xuyên suốt 4.896 năm theo dòng lịch sử của dân tộc Việt Nam, là môn võ học văn hóa truyền thống gắn liền với triết học, nên có câu: "Đằng sau võ học là triết học". Các bộ môn võ học Phương Đông đều dựa trên nền tảng của nguyên lý triết học: Âm Dương - Ngũ Hành. Học thuyết này có ảnh hưởng lớn đến nhiều phương diện của văn hóa truyền thống Phương Đông, trong đó Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng không ngoại trừ.

    Sách và tài liệu viết về Võ thuật cổ truyền Việt Nam hiện nay không nhiều, nhất là tài liệu bằng tiếng Anh phổ biến ra nước ngoài rất hạn chế, gần như chưa có tác phẩm nào, mà mới chỉ có một số bài tiểu luận của một vài Võ sư tâm huyết phổ biến qua các trang mạng trong khả năng khiêm tốn của mình. Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu rộng cho nền võ học cổ truyền Việt Nam. Ngay cả câu: “Song thủ Ngũ hành vi bản; Lưỡng túc Bát quái vi căn” là nền tảng của Võ thuật cổ truyền Việt Nam, từ trước đến nay cũng có đề cập nhưng chưa nghe phân tích tận tường để ứng dụng đúng nghĩa.

    NGŨ HÀNH VI BẢN
    Học thuyết Ngũ hành lấy năm loại vật chất cơ bản theo các nhà hiền triết cổ đại quy nạp vũ trụ, vạn vật vào Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Giữa chúng còn có một quy luật tương sinh, tương khắc tuần hoàn không dứt. "Tương sinh" mang ý là cùng sinh ra nhau, giúp nhau lớn mạnh, tức là Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. "Tương khắc" là mang ý chế ước lẫn nhau, kìm hãm nhau, tức Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ.

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền Phương Đông thể hiện sự quan hệ với Ngũ Hành lớn nhất theo tư tưởng chỉ đạo là "Ngũ hành sinh khắc chế biến hóa", kết hợp với thế quyền, kết hợp với cơ thể con người, lấy "nội, ngoại Ngũ hành"của thân thể con người làm chủ.

    Quan hệ của Ngũ hành với Võ thuật cổ truyền lấy hình dạng, tính năng, phương vị của Ngũ hành làm cơ sở chuẩn, đem các thức quyền phối hợp thành tổ hợp, lấy Ngũ hành làm hệ thống, làm nguyên tố cơ bản cấu thành các loại quyền thức, chiêu, thức trong võ thuật. Ngũ hành lại phân bố năm phương vị: phương Nam: Hỏa, phương Bắc: Thủy, phương Đông: Mộc, phương Tây: Kim, trung ương là Thổ; cũng như năm phương vị của người: trước, sau, phải, trái, và ở giữa. Võ thuật cổ truyền cũng đem bộ tiến, thoái, tả, hữu, định ở trung tâm làm Ngũ hành.

    Các võ phái Võ thuật cổ truyền ứng dụng Ngũ hành vào các phần căn bản như:
    1. Bộ Thuỷ: Các đầu ngón tay (Thủ chỉ), ứng với màu đen (hắc, ô)
    2. Bộ Mộc: Cạnh bàn tay (Cương đao), ứng với màu xanh (thanh)
    3. Bộ Hoả: Cùi chỏ (Phượng dực), ứng với màu đỏ (hồng, xích, hoả)
    4. Bộ Thổ: Ức bàn tay (Hùng chưởng), ứng với màu vàng (hoàng, huỳnh)
    5. Bộ Kim: Nắm tay (Thôi sơn), ứng với màu trắng (bạch)

    BÁT QUÁI VI CĂN
    Võ thuật cổ truyền lấy đôi chân lập vị theo hình tượng tiêu biểu và di chuyển theo các hướng của Bát quái đồ. Vị trí của bộ tấn Võ Tây Sơn Bình Định trong đồ hình Bát quái (lấy Trung bình tấn làm trung tâm) như sau:

    1. Càn tam liên Tây Bắc Hùng long;
    2. Khảm trung mãn chính Bắc Thanh xà;
    3. Cấn phúc uyển Đông Bắc Hội phụng;
    4. Chấn ngưỡng vu chính Đông Kim kê;
    5. Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn;
    6. Ly trung hư chánh Nam Bạch hạc;
    7. Khôn lục đoạn Tây Nam Hồng hổ;
    8. Đoài thượng khuyết chính Tây Hắc hầu;
    9. Lưỡng nghi tâm Trung bình lập thế.
    Cung Càn: Long tấn, cung Khảm: Xà tấn, cung Cấn: Phụng tấn, cung Chấn: Kim kê tấn, cung Tốn: Nhạn tấn, cung Ly: Hạc tấn, cung Khôn: Hổ tấn, cung Đoài: Hầu tấn, Trung bình tấn lập thế ở giữa (hình minh họa 1).

    Theo phương vị các cung, bài Bát quái câu liêm thân pháp, môn phái Võ Đang (Nam Anh, Võ Đang chân truyền, NXB Đất Việt, 1973), di chuyển theo Bát quái đồ: Từ trung bình tấn (trung tâm chính vị) chân trái bước lên cung Cấn rồi kéo nhanh về cung Khôn; chân phải bước tới cung Càn đoạn kéo nhanh về cung Tốn; tiếp đến chân trái từ cung Khôn bước lên cung Chấn, chân phải từ cung Tốn xoay lưng đạp cung Khảm và chân trái từ cung Chấn bước ngang qua cung Đoài, xoay lưng lại chân phải lui về cung Ly... Trong di chuyển yêu cầu bàn chân tiếp sát và miết mạnh xuống mặt sàn (hình minh họa 2)

    Các môn phái Võ thuật cổ truyền thường gọi “tấn” là “ngựa”. Mỗi môn phái có cách đứng tấn khác nhau, tuy không khác nhau xa lắm nhưng có đôi chỗ khác biệt. Tên gọi tấn cũng không đồng nhất. Tên gọi các bộ tấn của Ban chuyên môn Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam qua nghiên cứu tương đối gần so với các võ đường và môn phái trong nước hiện nay.
    Sự khác biệt là điều tất yếu, tuy nhiên không phải tất cả những điều cổ nhân nói là đúng. “Tận tín thư bất như vô thư” (Tin hoàn toàn vào sách nhược bằng không có sách còn hơn). Vì vậy, có nhiều bộ tấn khi xem lại không phù hợp với tên gọi. Bộ tấn dùng minh hoạ trong “Lưỡng túc Bát quái vi căn” là của môn Võ Tây Sơn ngày trước tại Bình Định, minh hoạ không hẳn là mô hình chuẩn cho tất cả các môn phái hoặc thống nhất như Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam đã làm. Ngay cả tài liệu “Căn bản công” đã in thành sách của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, khi có điều kiện cũng cần hội thảo chuyên môn, thẩm định lại tính kỹ thuật và khoa học thực tế một cách nghiêm túc.

    Trên cơ sở lý luận “Lưỡng túc Bát quái vi căn” dùng giải thích căn bản bước chân theo đồ hình Bát quái, không quan trọng tên gọi thế tấn. Người tập có thể linh hoạt thay đổi các thế tấn phù hợp với môn phái, võ đường của mình, không nhất thiết phải theo thế tấn minh hoạ, mà chỉ theo bước chân cơ bản trên nền hình Bát quái.

    Người xưa nói: “Mở đóng hư thực tức là quyền kinh”, “một mở một đóng quyền kinh hết vậy”, “một mở một đóng, có biến có thường, hư thực kiêm tới chợt ẩn chợt hiện”, “một động một tĩnh là hết chỗ ảo diệu của quyền thuật”. Cái gọi là động tĩnh, hư thực… đều căn cứ vào học thuyết âm dương trong kinh Dịch mà ra và chỉ là cách nói cụ thể hóa, hình tượng hóa trong quyền thuật mà thôi. Về sau những người diễn tập lại lấy đó tôn lên làm tiêu chuẩn, tự mình thể nghiệm cái triết lý này trong việc diễn luyện của bản thân.

    Bất kể loại quyền thuật nào cũng nhấn mạnh việc làm khỏe thân mình là ý nghĩa trọng yếu thứ nhất, đó là phải duy trì cho được sự cân bằng âm dương trong cơ thể. Vì vậy dù là quyền “ngoại gia” hay quyền “nội gia” đều nhấn mạnh “Khí trầm đan điền”, hoặc “trong luyện tinh – khí – thần, ngoài luyện tấn pháp, bộ pháp, thân pháp, thủ cước pháp” hay “trong luyện hơi thở, ngoài luyện gân cốt”. Như thế âm bằng dương thuận, tinh thần ổn định. Âm dương điều hòa, tinh thần khoẻ mạnh, thân thể tráng kiện, thì bệnh nào mà sinh?

    Học thuyết âm dương không phải chỉ có quan hệ mật thiết với lý luận quyền thuật và việc rèn luyện võ thuật mà trong kỹ thuật đối kháng của võ thuật cũng không có chỗ nào không ngầm mang triết lý âm dương. Trong chiến đấu, bất luận là phòng thủ hay tiến công, cũng không rời xa sự biến hóa của âm dương. Trong “Quyền Kinh” có nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không” (Luyện quyền chẳng luyện nghệ, có đến tuổi già cũng phí công). Quyền là đạo vận động, là phương thuốc khỏe thân; thuật là phép đoạt người, là sự ảo diệu để thắng người”. Tuy nhiên sự ảo diệu từ đâu tới, thuật từ đâu mà được? Chính là từ âm dương biến hóa với nhau. Con đường cầu tài năng võ thuật tất theo con đường của âm dương, chính là nguồn gốc nảy sinh của diệu quyết.

    Sở dĩ âm cực dương sinh, dương cực âm sinh là vì trong âm có dương tiềm phục, trong dương có âm tiềm phục chưa hiện rõ ra. Khi âm đến hồi cực thịnh thì mầm dương mới đủ sức hiện lên, nghĩa là trong thái âm có cái mầm thiếu dương hiện lên và bắt đầu tăng trưởng, cũng như trong thái dương có mầm thiếu âm hiện lên và bắt đầu tăng trưởng. Và bởi cái lẽ âm dương tiềm phục ấy mà trên đời chẳng bao giờ có hiện tượng cô dương hay cô âm.

    Võ cổ truyền thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, kết hợp cương nhu, hư thực, công thủ, phản biến, mạnh yếu, nội ngoại, thể chất tinh thần…Luyện tập võ cổ truyền không chỉ là phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh, vận động thể chất giản đơn mà còn là hiện tượng văn hóa thần kỳ rèn luyện tinh thần cùng ý chí. Từ tư thế phòng thủ (âm), khi bị tấn công, tức khắc những chiêu thức chống trả được tung ra (dương), trong quá trình đáp trả, bị phản công thì những chiêu thức né, tránh, hóa giải lại trở về phòng thủ (âm) đồng thời biến thế phản đòn tích cực (dương). Cứ như thế thủ công, phản biến liên hoàn như một vòng tròn xoay chuyển. Có thể hiểu nguyên tắc võ thuật là trong công có thủ, trong thủ có công như âm trong dương và dương trong âm vậy.


    Theo: Vs: Trương Văn Bảo

    võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."

    Võ thuật cổ truyền việt nam là một môn võ rất đa dạng và phong phú, không phân biệt nguồn gốc xuất xứ miễn là có quá trình phát triển lâu dài ở Việt Nam có cùng một lý tưởng nghiên cứu, bảo lưu truyền bá có sáng tạo và thống nhất ý chí trên cơ sở dạy và học theo triết lý lấy việc rèn luyện đạo đức, tác phong làm chuẩn mực, làm thước đo, từng bước đưa võ thuật đến nghệ thuật và hướng tới là 1 môn thể thao phổ cập vĩnh hằng, mang đậm đà bản sắc dân tộc có lòng vị tha, có ý chí quyết thắng, biết yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sẵn sàng tiếp thu cái mới, phù hợp với khoa học và tiến bộ của nhân loại.

    vocotruyen small Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam



    Từ ngày có Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam (1991), bộ môn võ thuật cổ truyền đã củng cố và soạn thảo qui chế hoạt động chuyên môn, xây dựng một hệ thống đai, đẳng, cấp, tuyển chọn được 10 bài võ thống nhất trong cả nước và đã ứng dụng có hiệu quả trong việc quản lý, ổn định và định hướng thống nhất giáo trình huấn luyện.


    Ban ngành chuyên môn biên soạn và bổ sung Luật thi đấu đối kháng, Luật thi quyền ngày càng hoàn chỉnh, đã thực sự là thước đo tương đối chính xác cho các cuộc thi đấu ở địa phương cũng như toàn quốc. Hàng năm Liên đoàn Võ Thuật cổ truyền Việt Nam đều tổ chức các kỳ Hội nghị chuyên môn để thống nhất các nội dung quan trọng, để bổ sung điều chỉnh các kế hoạch tổng kết thực tiễn, xây dựng định hướng vi mô và vĩ mô, cùng với việc tổ chức các lớp trọng tài + giám khảo, các lớp sơ cấp cứu, trặc đả bấm huyệt đảm bảo hệ thống thi đấu 2 giải trong 1 năm (giải trẻ + giải vô địch) có hiệu quả cao và an toàn.


    Các cấp của LĐVTCT/VN đã thực hiện giáo trình huấn luyện theo qui chế chuyên môn của Liên đoàn, tổ chức các kỳ thi thăng cấp đai theo đúng hệ thống, đào tạo được những HLV, võ sư có năng lực, có đạo đức, phục vụ cho việc phát triển võ học cổ truyền Việt Nam.



    Liên đoàn LĐVTCT/VN đã cử HLV tham gia giảng dạy võ cổ truyền ở nước ngoài, cử các vận động viên tham dự Đại hội Thể thao các dân tộc Quốc tế và Thế giới.



    Đặc biệt trong năm 2002, bộ môn võ thuật cổ ttruyền được thi đấu chính thức ở các Đại hội TDTT toàn quốc, điều này đã khẳng định được sự phát triển vững chắc của bộ môn, và được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp.



    Tại TP.Hồ Chí Minh hiện có hơn 50 võ phái, 150 võ sư, chuẩn võ sư, 300 HLV các cấp, 50 trọng tài + giám khảo. Khoảng 15.000 môn sinh, đang tập luyện thường xuyên tại trên 100 điểm tập và CLB trong toàn thành phố. Ngoài những hoạt động của các Chi hội địa phương, Hội VTCT Thành phố đã tuyển chọn 12 bài võ đưa vào chương trình huấn luyện thống nhất và tổ chức các hoạt động thường xuyên.



    HỘI VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TP. HỒ CHÍ MINH

    Võ thuật cổ truyền: Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."

    Võ thuật cổ truyền việt nam là một môn võ rất đa dạng và phong phú, không phân biệt nguồn gốc xuất xứ miễn là có quá trình phát triển lâu dài ở Việt Nam có cùng một lý tưởng nghiên cứu, bảo lưu truyền bá có sáng tạo và thống nhất ý chí trên cơ sở dạy và học theo triết lý lấy việc rèn luyện đạo đức, tác phong làm chuẩn mực, làm thước đo, từng bước đưa võ thuật đến nghệ thuật và hướng tới là 1 môn thể thao phổ cập vĩnh hằng, mang đậm đà bản sắc dân tộc có lòng vị tha, có ý chí quyết thắng, biết yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sẵn sàng tiếp thu cái mới, phù hợp với khoa học và tiến bộ của nhân loại.

    vocotruyen small Những nét đặc trưng bộ môn Võ cổ truyền Việt Nam



    Từ ngày có Liên Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Việt Nam (1991), bộ môn võ thuật cổ truyền đã củng cố và soạn thảo qui chế hoạt động chuyên môn, xây dựng một hệ thống đai, đẳng, cấp, tuyển chọn được 10 bài võ thống nhất trong cả nước và đã ứng dụng có hiệu quả trong việc quản lý, ổn định và định hướng thống nhất giáo trình huấn luyện.


    Ban ngành chuyên môn biên soạn và bổ sung Luật thi đấu đối kháng, Luật thi quyền ngày càng hoàn chỉnh, đã thực sự là thước đo tương đối chính xác cho các cuộc thi đấu ở địa phương cũng như toàn quốc. Hàng năm Liên đoàn Võ Thuật cổ truyền Việt Nam đều tổ chức các kỳ Hội nghị chuyên môn để thống nhất các nội dung quan trọng, để bổ sung điều chỉnh các kế hoạch tổng kết thực tiễn, xây dựng định hướng vi mô và vĩ mô, cùng với việc tổ chức các lớp trọng tài + giám khảo, các lớp sơ cấp cứu, trặc đả bấm huyệt đảm bảo hệ thống thi đấu 2 giải trong 1 năm (giải trẻ + giải vô địch) có hiệu quả cao và an toàn.


    Các cấp của LĐVTCT/VN đã thực hiện giáo trình huấn luyện theo qui chế chuyên môn của Liên đoàn, tổ chức các kỳ thi thăng cấp đai theo đúng hệ thống, đào tạo được những HLV, võ sư có năng lực, có đạo đức, phục vụ cho việc phát triển võ học cổ truyền Việt Nam.



    Liên đoàn LĐVTCT/VN đã cử HLV tham gia giảng dạy võ cổ truyền ở nước ngoài, cử các vận động viên tham dự Đại hội Thể thao các dân tộc Quốc tế và Thế giới.



    Đặc biệt trong năm 2002, bộ môn võ thuật cổ ttruyền được thi đấu chính thức ở các Đại hội TDTT toàn quốc, điều này đã khẳng định được sự phát triển vững chắc của bộ môn, và được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp.



    Tại TP.Hồ Chí Minh hiện có hơn 50 võ phái, 150 võ sư, chuẩn võ sư, 300 HLV các cấp, 50 trọng tài + giám khảo. Khoảng 15.000 môn sinh, đang tập luyện thường xuyên tại trên 100 điểm tập và CLB trong toàn thành phố. Ngoài những hoạt động của các Chi hội địa phương, Hội VTCT Thành phố đã tuyển chọn 12 bài võ đưa vào chương trình huấn luyện thống nhất và tổ chức các hoạt động thường xuyên.



    HỘI VÕ THUẬT CỔ TRUYỀN TP. HỒ CHÍ MINH

    Ai về Bình Ðịnh quê tôi,
    Trước xem hát bội, nhì coi đi quyền.
    Cứ mỗi lần nói đến miền đất võ thì những câu ca dao trên chợt đến trong trí và một niềm xúc cảm dâng tràn...
    Bình Ðịnh là đâu mà phụ nữ cũng có thể đi quyền và đánh roi? Mời người Bình Ðịnh và nhất là người chưa biết Bình Ðịnh cùng về thăm một tỉnh miền trung với những áng văn thơ trác tuyệt và một vùng võ thuật kiêu hùng.

    Bình Ðịnh là một tỉnh ngày xưa tương đối trù phú, có diện tích chừng chín ngàn cây số vuông, thuộc miền trung Việt Nam, nằm dọc theo quốc lộ số 1; bắc giáp Quảng Ngãi, nam giáp Phú Yên, Phú Bổn, phía tây là vùng cao nguyên Kontum, Pleiku và mặt đông nhìn ra biển Nam Hải thuộc Thái Bình Dương.
    Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến miền Trung với nhiều rặng núi nhỏ đâm ngang ra biển. Trong đó Bình Ðịnh là một vùng núi non trùng điệp, địa thế hiểm trở, những rặng núi con của Trường Sơn thoai thoải về phía đông tạo địa thế Bình Ðịnh như một chiếc ngai vàng, tựa lưng vào núi, xoay mặt ra đầm Thị Nại. Theo truyền thuyết và phong thủy đây là vùng địa linh nhân kiệt. Thực hư chưa rõ đúng hay sai, nhưng sự thật vùng đất này đã sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt như Võ văn Dũng, Trần quang Diệu, Bùi thị Xuân, Mai xuân Thưởng, Tăng bạt Hổ... và nhất là Tây Sơn Tam Kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, trong đó Hồ Thơm - Nguyễn Huệ tức Quang Trung Hoàng Ðế, một đại anh hùng dân tộc, người đã chỉ huy toàn quân dân Việt đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh, đập tan mộng xâm lăng của đại cường quốc Mãn Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789.
    Nguyên đất Bình Ðịnh xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Năm 137 một thổ dân là Khu Liên chiếm đất này và tự xưng là Lâm Ấp Vương.
    Năm 982, vua Chiêm là Xá Lợi Ðà bị vua Lê Ðại Hành đánh bại ở Quảng Nam, chạy vào tiến chiếm đất này lập kinh đô Ðồ Bàn. Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh bại quân Chiêm, chiếm thành Ðồ Bàn đổi thành phủ Hoài Nhơn. Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn đổi Hoài Nhơn thành Qui Nhơn (1605). Ðến chúa Nguyễn Phúc Tấn đổi thành Qui Ninh (1651), nhưng sang chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên Qui Nhơn (1741).
    Năm 1771, ba vị anh hùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi nghĩa đánh chúa Nguyễn, năm năm sau (1776) Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Qui Nhơn làm kinh đô, sửa sang thành Ðồ Bàn làm Hoàng Ðế thành.
    Sau khi vua Quang Trung băng hà, lực lượng nhà Tây Sơn càng ngày càng yếu, trong khi đó, Nguyễn Ánh lại được người Pháp giúp đỡ. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm phủ Qui Nhơn và đổi tên thành phủ Bình Ðịnh. Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long, chỉnh đốn việc cai trị, đổi phủ Bình Ðịnh thành trấn Bình Ðịnh (1810).
    Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhà vua theo lối tổ chức của Thanh triều bên Trung Hoa, đổi trấn thành tỉnh, Bình Ðịnh trấn thành Bình Ðịnh tỉnh từ đấy (Xem bản đồ tỉnh Bình Ðịnh).
    Chúng ta hãy lắng nghe người học trò đa tình Bình Ðịnh ra Huế thi và rủ rê cô gái đất thần kinh:
    Mải vui Hương thủy Ngự Bình
    Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô.
    Chẳng lịch bằng kinh đô
    Bình Ðịnh không đồng khô cỏ cháy
    Năm dòng sông chảy,
    Sáu dãy non cao
    Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh.
    Những câu thơ của người học trò tự thuở xa xưa đã mô tả một vùng đất Bình Ðịnh hữu tình với những dòng sông, những dãy núi cao, tháp Chàm cổ, khiến chúng ta liên tưởng đến Hầm Hô, Ðồ Bàn, đầm Thị Nại. . . Ðầm này rất rộng do bán đảo Phương Mai bao bọc bên ngoài với hai cửa Cát Thử và Qui Nhơn. Từ xưa, thế kỷ 17 đã là cửa ngõ giao thương với các tỉnh trong nước cũng như nước ngoài và còn là một vị trí chiến lược, chiến thuật hiểm yếu. Bình Ðịnh là một tỉnh có đầy đủ nông lâm thủy sản . Ðặc sản có yến sào Qui Nhơn, trầm hương Bình Khê, nón ngựa Gò Găng, bột đậu xanh, bún Song thằng An Thái, nước mắm Gò Bồi, xoài tượng Phù Cát cùng nước dừa Bồng Sơn, Tam Quan ngọt ngào, tươi mát.
    Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
    Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
    Muốn ăn quít, ăn hồng,
    Theo cha mày mà về ngoài đó, (Thanh Nghệ)
    Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
    Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
    Thì theo tao, ở mãi trong này. (là Bình Ðịnh)
    Võ cổ truyền – Lịch sử Võ thuật Bình Định
    Đặc điểm
    1. Đặc điểm đầu tiên lớn nhất của võ thuật Bình Định là sự đa dạng. Đa dạng về những dòng võ ngay trên đất Bình Định và đa dạng về sự khác biệt trong kỹ thuật giữa các hệ phái mang tên Bình Định hoặc Tây Sơn trên toàn quốc.
    Tuy nhiên, sự đa dạng đó lại đặt trên cơ sở một số đặc điểm chung hầu hết các dòng võ ở Bình Định đều có. Chẳng hạn như một số bài bản được mặc nhiên coi là võ Bình Định như Ngọc trản ngân đài, Siêu Bát Quái, Roi Tấn Nhứt, Roi Ngũ Môn. Mặc dù đây chính là các bài bản của Võ Ta hay còn gọi là Võ Kinh, một môn võ của Đàng Trong và từng được dùng cho huấn luyện trong quân đội và thi võ cử trong thời nhà Nguyễn.
    Các câu vè có liên quan đến yếu quyết của võ thuật được lưu truyền ở Bình Định cũng là những câu vè của Võ Ta. Ví dụ: “Roi tiên quyền tiếp” (Xem Đấu Roi), “Song thủ ngũ hành vi bản. Lưỡng túc bát bộ vi căn”… Một câu vè khác nói lên sự thống nhất và liên đới giữa hai môn (Võ Kinh và võ thuật Bình Định) là “Roi Kinh quyền Bình Định”. Những kỹ thuật này không chỉ có riêng ở Võ Kinh và võ thuật Bình Định. Nó còn tồn tại ở các dòng võ ở các miền khác, chẳng hạn võ Tân Khánh Bà Trà ở Bình Dương – Đông Nam Bộ.
    Ngoài những kỹ thuật được coi là võ Ta nói trên, mỗi dòng võ đều chứa những đặc điểm riêng của mình. Đặc biệt nhất là những kỹ thuật thừa hưởng của nhà Tây Sơn. Ví dụ: Bài Hùng Kê quyền vốn được coi là của Nguyễn Lữ, bài quyền Yến Phi (thảo pháp Én bay) vốn được coi là của Nguyễn Huệ, các kỹ thuật về trống trận Tây Sơn… Mặc dù những kỹ thuật này không phổ biến bằng các kỹ thuật của Võ Ta, nhưng đây là điểm đặc sắc của riêng vùng đất Bình Định mà các vùng khác không hề có.
    Đặc biệt, trong thời gian gần đây có sự xuất hiện ra công chúng dòng võ chùa Long Phước. Theo trang web Võ Cổ Truyền, nhà sư Vạn Thanh (tên thật là Nguyễn Đông Hải) vốn là truyền nhân đời thứ 13 của môn phái Long Hổ Không hồng. Cũng theo trang web nói trên, kỹ thuật của môn võ này bao gồm trong “Phổ Đại Nam triều chi tướng thao” do tướng Tây Sơn Nguyễn Trung Như (Hư Linh Ẩn) truyền lại. Tập sách này gồm 2 bộ:
    “Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp” do Hư Minh, tổ của môn phái Long Hổ Không hồng ghi lại các bài bản từ thời nhà Lê trở về trước.
    “Tây Sơn danh tướng mộ hùng thao” do Nguyễn Trung Như ghi lại các bài bản võ thuật của thời Tây Sơn.
    Mức độ trung thực về mặt lịch sử của các tài liệu này rất cần được sự quan tâm nghiên cứu công phu của các nhà sử học.

    Vì có sự tương đồng về mặt văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, có một số dòng võ hoặc hệ phái tuyên bố có nguồn gốc từ Trung Quốc cũng lấy danh xưng võ Bình Định. Chẳng hạn như trường hợp của phái võ Bình Định gia tại Hà Nội, dòng Bình Định An Thái của võ sư Diệp Trường Phát. Việc công nhận hay công nhận danh xưng “Võ Bình Định” của các hệ phái này một thời từng là một đề tài tranh luận khá sôi nổi trong giới võ.
    Ngoài ra, ở vùng đất này cũng đã và đang có sự phổ biến của nhiều môn võ hiện đại trong và ngoài nước khác nhau. Đất Bình Định cũng đã từng rất nổi tiếng trong “làng đấm” (quyền Anh). Tuy nhiên, vì có sự rạch ròi trong ngôn ngữ sử dụng lẫn trong sự phân chia môn phái võ thuật hoặc bộ môn thể thao thi đấu nên chưa bao giờ các môn võ này được gọi với danh xưng “Võ Bình Định“.
    2. Về khía cạnh võ thuật, võ cổ truyền Bình Định thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu, giữa bên trong (tinh, khí, thần) với bên ngoài cơ thể (thủ, nhãn, chỉ và thân). Về võ lý, võ cổ truyền Bình Định vận dụng triệt để học thuyết âm – dương, lấy phép ngũ hành và phép bát quái làm nguyên lý cơ bản của “Song thủ ngũ hành vi bản”, “Lưỡng túc bát bộ vi căn” là cơ sở võ lý cho luyện tập bộ tay và bộ chân trong võ cổ truyền Bình Định: Tấn pháp trong bát quái và Thủ pháp trong Ngũ hành, có sự phối hợp cả hai phương diện ngoại công và nội công.
    3. Về khía cạnh đạo đức, ngoài những đức tính mà con người đề cao trong rèn luyện đạo đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đạo đức của người luyện õ còn thể hiện ở các mặt truyền thống: thượng võ, chống ngoại xâm; uống nước nhớ nguồn; trọng nhân nghĩa…
    4. Về nội dung, võ cổ truyền Bình Định vô cùng phong phú, đa dạng nhưng tựu trung có 4 nội dung cơ bản là: luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần. Quyền còn gọi là thảo bộ hay quyền tay không, bao gồm Cương quyền và Nhu quyền. Võ tay không chia thành 4 nhóm: Võ thể dục, võ tự vệ, võ tỷ thí và võ chiến đấu. Binh khí được dùng trong võ cổ truyền Bình Định bao gồm binh khí dài và binh khí ngắn. Loại binh khí rất cơ bản được lưu hành khá phổ biến ở Bình Định là côn (tiếng địa phương gọi là roi) (Xem Đấu Roi)với nhiều “phách roi” độc đáo chỉ có ở võ cổ truyền Bình Định: “Đâm so đũa”, “Đá văn roi”, “Phá vây”, “Roi đánh nghịch”… Nói về tận dụng vũ khí thô sơ chống giặc, Bình Định có “Bài kiếm 12″ nổi tiếng gồm 12 động tác được rút tỉa trong nhiều bài kiếm tiêu biểu của Bình Định để hình thành một cách ngắn gọn, dễ tập, dễ nhớ, được đưa vào luyện tập và thực hành chiến đấu đạt hiệu quả cao trong các lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở địa phương.
    Trong các bộ môn về quyền thuật, “Ngọc Trản” là bài quyền tiêu biểu của võ cổ truyền Bình Định, trải qua thời gian, nó vẫn sáng chói như một “chén ngọc” với những bí quyết võ công vô giá. Để thực hành được một cách nhuần nhuyễn, phải tính đến công sức luyện tập cả về thể chất và ý thức nhằm tạo được sự thống nhất thành một ý niệm duy nhất, như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó chính là bí quyết khổ luyện của lối quyền âm – dương trong Ngọc Trản công.
    Nguồn gốc

    Như đã trình bày, kỹ thuật phổ biến nhất trong võ thuật Bình Định là võ Ta, tức võ thuật của triều Nguyễn phổ biến ở Đàng Trong [cần dẫn nguồn]. Còn võ Ta thực sự được truyền vào và phổ biến ở vùng này từ thời nào lại là điều rất cần được nghiên cứu về mặt lịch sử.

    Sự ảnh hưởng của võ học thời Tây Sơn chỉ gói gọn trong một vài dòng võ và trong một vài bài bản riêng biệt không phổ biến, không nên xem võ thuật của Tây Sơn là nguồn gốc của tất cả các dòng phái võ thuật Bình Định.

    Mặc dù rất nhiều người học võ thuật Bình Định từng thọ giáo các danh sư có gốc từ Trung Quốc như Khách Bút, hoặc Tàu Sáu (Diệp Trường Phát). Tuy nhiên, những bài bản võ thuật phổ biến ở Bình Định không hề có trong các bài bản của võ thuật Trung Quốc kể cả danh từ lẫn kỹ thuật. Vì vậy, việc phát biểu của một số võ sư học võ Trung Quốc như “Võ Bình Định là võ Thiếu Lâm” hoặc “Võ Bình Định bắt nguồn từ võ Thiếu Lâm” (như ông Diệp Trường Phát đã từng phát biểu theo lời trích dẫn của Quách Trường Xuyên trong quyển “Võ Nhân Bình Định“) là không hề có cơ sở. [cần dẫn nguồn]
    Các dòng võ Bình Định

    Dòng họ Trương (xã Phù Mỹ, huyện Mỹ Hiệp): Ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường từ xứ Thanh Hà, Hải Dương vào khai sơn phá thạch ở vùng đất Tú Dương (thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, Bình Định) vào đầu thế kỷ 17 (khoảng năm 1605). Sau đó dồn đến định cư ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, Phù Mỹ, Bình Định cho đến ngày nay. Theo gia phả của dòng tộc để lại, dòng họ này có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ trong thời nhà Nguyễn và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ. Trong số đó có ông cử nhân võ Trương Trạch, thầy dạy của võ sư Trương Thanh Đăng, người sang lập ra võ đường Sa Long Cương ở Sài Gòn.

    Dòng họ Đinh (thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn): Ông Thủy tổ của dòng họ Đinh là Đinh Viết Hòe, sinh năm 1710 từ đất Ninh Bình phiêu bạt vào sinh cơ lập nghiệp tại ấp Thời Đôn (nay thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định) vào khoảng năm 1730 và lấy thêm vợ thứ (ông Hòe đã có vợ ở quê nhà) là bà Nguyễn Thị Quyền, sinh năm 1715 và sinh được 3 người con Đinh Văn Diệm, Đinh Văn Nhưng, Đinh Văn Triêm. Đinh Văn Nhưng (còn gọi là Ông Chảng) chính là thầy dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Hiện nay dòng họ này đã đổi sang họ Đào (sinh Đào tử Đinh) và tất cả các tài liệu, hiện vật đều bị tiêu huỷ sau khi phong trào Tây Sơn thất bại. Tài liệu duy nhất của dòng họ này truyền lại đến nay được biết là một tập tư liệu cổ do võ sư Phan Thọ cung cấp trong đó có ký tên Đào Thống.

    Dòng họ Trần (thôn Trường Định, xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn): là võ sư Trần Kim Hùng có nguồn gốc từ xứ Nghệ An, người dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Sau này, trong “Tây Sơn ngũ phụng thư” có Trần Thị Lan, bà Lan được ông nội là võ sư Trần Kim Hùng truyền dạy võ nghệ, bà có biệt tài về kiếm thuật và luyện thân lanh lẹ như chim én, nên tự hiệu là Ngọc Yến. Người chị của Trần Thị Lan là Trần Thị Huệ, vợ của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc.

    Roi Thuận Truyền(Xem Đấu roi) (thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn): “Roi Thuận Truyền” trước xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng đến đời ông Ba Ðề thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ Nhu là tên thật của Hồ Ngạnh, sinh năm 1891, mất năm 1976. Ông nguyên quán thôn Háo Ngãi, xã Bình An, huyện Tây Sơn, trú quán ở Thuận Truyền, xã Bình Thuận cùng huyện. Cha là ông Ðốc Năm, một võ quan của triều Nguyễn. Mẹ cũng là con nhà võ. Ngay từ lúc bé, ông đã được cha mẹ dạy võ gia truyền. Lớn lên, ông học roi của cao sư Ba Ðề, học nội công của ông Ðội Sẻ, tiếp đến học roi của ông Hồ Khiêm. Ðường roi kết hợp tinh hoa của nhiều thầy, lại thêm nội công nên cứng cáp và sâu hiểm vô cùng. Từ roi thế, roi đấu, roi chiến đến roi trận, ông đều tinh thông và độc đáo. Khoảng năm 1932, tiếng tăm ông đã vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú. Nghe danh, học trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết sớm, ông truyền nghề cho cháu nội là ông Hồ Sừng. Học trò lớp lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường Úc, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước được riêng dạy ngón võ bí truyền. Học trò lớp sau có Ðinh Văn Tuấn ở Qui Nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ vang cho làng võ Thuận Truyền. Hồ Ngạnh được gọi là “võ sư huyền thoại”.

    Quyền An Vinh (xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn): “Quyền An Vinh” có từ lâu, nhưng cũng chỉ biết từ đời ông Hương Mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa, cũng là bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi. Hương Mục Ngạc học quyền Bình Định (cô tổ của ông vốn là thầy dạy võ của nữ tướng Bùi Thị Xuân) rồi học thêm quyền Tàu của ông Khách Bút. Ông nổi tiếng nhờ tổng hợp được nhiều nguồn võ khác nhau, tạo nên tay quyền xuất sắc nhất trong làng võ thuật Bình Định đương thời. ông có ba người con: Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác đều tinh thông võ nghệ. Ông dạy nhiều học trò, có người nổi tiếng như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc về võ thuật mà còn gan dạ và có sức mạnh đáng kể, với tay không có thể vật ngã một con trâu đực đang sung sức. Bảy Lụt truyền nghề cho ông Phan Thọ. Sau này ông Phan Thọ còn học thêm võ trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp thu được cả tinh hoa quyền An Vinh từ mạch võ Hương Mục Ngạc lẫn võ chiến của Tây Sơn[cần dẫn nguồn].

    Quyền An Thái (xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn): An Thái vốn có những dòng võ truyền thống nổi tiếng nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng võ Bình định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái nói riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu. Người sáng lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát , sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người Tàu nhưng dòng dõi ba đời đều ở An thái, bà nội và mẹ ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia đình và bản thân Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi được 13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những cao sư Bắc phái Thiếu Lâm. Sau 15 năm ròng rã tầm sư học võ, ông Tàu Sáu lúc bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An Thái, mở trường dạy quyền Tàu, sở trường hai môn Hổ quyền và Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn đệ rất đông, không bao lâu phái quyền Tàu Thiếu Lâm của ông đã rải khắp miền đất võ và riêng ở An Thái, võ quyền truyền thống đã bị quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì thế sửa lại câu truyền tụng từ xưa ra “roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. [cần dẫn nguồn]

    Dân Bình Định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì xuất thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có người chỉ để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được cứng cáp thêm như Mười Mỹ. Sau này con của ông, võ sư Diệp Bảo Sanh viết quyển “Võ thuật Bình Định chân truyền” trong đó gọi ông là tổ sư của võ phái An Thái. Võ thuật phái An Thái được truyền vào Sài Gòn với tên gọi Bình Thái Đạo. Ngày nay môn phái này có chưởng môn là bà Diệp Lệ Bích (cháu nội của ông Diệp Trường Phát).
    Trường võ cử Bình Định

    Mặc dù sau khi dẹp được khởi nghĩa Tây Sơn, triều đình nhà Nguyễn đã có sự cấm đoán việc luyện võ cũng như việc sử dụng các loại binh khí sắc bén. Tuy nhiên, việc này chỉ diễn ra trong vòng vài chục năm. Sau đó để tận dụng nhân tài của miền đất võ trong việc chống Pháp, trường võ cử (thi Hương) Bình Định đã được mở lại.
    Trong tục ngữ ca dao

    Võ Bình định luôn luôn gắn liền với tên đất, tên người ở đây.Roi Kinh, Quyền Bình Định.Roi Thuận Truyền, Quyền An Vinh.Trai An Thái, Gái An Vinh.

    hoặcTiếng đồn An thái, Bình khêNhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo

    hoặcDư Ðành sức mạnh quá trâuVùng lên đánh ngã cả xâu triều đình

    Nổi tiếng nhất là câu ca dao sau:Ai về Bình định mà coiĐàn bà cũng biết múa roi, đi quyền

    Tuy nhiên, đôi lúc cũng có những cô gái học võ không chỉ để phòng thân mà muốn phát huy cái đẹp của võ truyền thống như trường hợp Thanh Tùng, hoặc còn đi xa hơn, thi thố với đời, trở thành cao thủ trong làng võ. Điển hình có bà Mân sống vào thời chúa Nguyễn, cô Quyền vào giữa thế kỷ 19 và sang đầu thế kỷ 20 lại có Tám Cảng.

    Bà Mân chưa phải là nhân vật lịch sử nhưng với tài võ nghệ, bà được dân Bình Định ca tụng qua bài vè Chú Lía dài 1434 câu thơ lục bát và được lưu truyền khắp các tỉnh miền Nam Trung phần.

    Theo bài vè, bà Mân ở gần vùng Truông Mây, nơi sào huyệt của một đảng cướp lớn do cha Hồ chú Nhẫn và sau có thêm chú Lía cầm đầu, nay thuộc xã Ân Đức huyện Hoài Ân. Một hôm hai tên Hồ, Nhẫn đem cả lực lượng hùng hậu đến bắt heo nhà bà, cả làng khiếp sợ không ai dám tiếp cứu:Lân la bốn chục theo ràyThẳng đường xuống xóm chật đầy đường quan

    Trong tay bà chỉ có cây roi ngắn nhưng với lòng can đảm và tự tin, bà xông ra cự địch với một đảng cướp mạnh khét tiếng trong vùng:Mụ Mân độ khoảng bốn haiLàu thông võ nghệ ít ai sánh bìThình lình chưa biết việc chiTiện tay mụ với tức thì đoản cônBước ra thấy rõ thiệt hơnMụ không thèm hỏi huơ côn đánh liền.

    Ai cũng tưởng phen này bà Mân bị nát thây vì hai tên Hồ, Nhẫn không những võ nghệ phi thường mà còn hung bạo chưa từng có. Nhưng không may cho chúng, thế võ của bà sâu hiểm vô cùng, áp đảo được ngay đối thủ:Cả ba vùng vẫy đua tranhMụ Mân quả thực liệt oanh ai tày

    Chỉ mới so tài ở hiệp đầu mà bọn cướp đã bị ngọn roi thần của bà cuốn người như bão táp, chúng phải đổi từ thế công sang thế thủ rồi tìm đường tháo lui:Phút thôi Hồ, Nhẫn cả haiĐuối tay kéo chạy như bay khác nào!

    Võ cổ truyền – Lịch sử Võ thuật Bình Định

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Ai về Bình Ðịnh quê tôi,
    Trước xem hát bội, nhì coi đi quyền.
    Cứ mỗi lần nói đến miền đất võ thì những câu ca dao trên chợt đến trong trí và một niềm xúc cảm dâng tràn...
    Bình Ðịnh là đâu mà phụ nữ cũng có thể đi quyền và đánh roi? Mời người Bình Ðịnh và nhất là người chưa biết Bình Ðịnh cùng về thăm một tỉnh miền trung với những áng văn thơ trác tuyệt và một vùng võ thuật kiêu hùng.

    Bình Ðịnh là một tỉnh ngày xưa tương đối trù phú, có diện tích chừng chín ngàn cây số vuông, thuộc miền trung Việt Nam, nằm dọc theo quốc lộ số 1; bắc giáp Quảng Ngãi, nam giáp Phú Yên, Phú Bổn, phía tây là vùng cao nguyên Kontum, Pleiku và mặt đông nhìn ra biển Nam Hải thuộc Thái Bình Dương.
    Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến miền Trung với nhiều rặng núi nhỏ đâm ngang ra biển. Trong đó Bình Ðịnh là một vùng núi non trùng điệp, địa thế hiểm trở, những rặng núi con của Trường Sơn thoai thoải về phía đông tạo địa thế Bình Ðịnh như một chiếc ngai vàng, tựa lưng vào núi, xoay mặt ra đầm Thị Nại. Theo truyền thuyết và phong thủy đây là vùng địa linh nhân kiệt. Thực hư chưa rõ đúng hay sai, nhưng sự thật vùng đất này đã sản sinh nhiều vị anh hùng hào kiệt như Võ văn Dũng, Trần quang Diệu, Bùi thị Xuân, Mai xuân Thưởng, Tăng bạt Hổ... và nhất là Tây Sơn Tam Kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, trong đó Hồ Thơm - Nguyễn Huệ tức Quang Trung Hoàng Ðế, một đại anh hùng dân tộc, người đã chỉ huy toàn quân dân Việt đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh, đập tan mộng xâm lăng của đại cường quốc Mãn Thanh vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789.
    Nguyên đất Bình Ðịnh xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Năm 137 một thổ dân là Khu Liên chiếm đất này và tự xưng là Lâm Ấp Vương.
    Năm 982, vua Chiêm là Xá Lợi Ðà bị vua Lê Ðại Hành đánh bại ở Quảng Nam, chạy vào tiến chiếm đất này lập kinh đô Ðồ Bàn. Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh bại quân Chiêm, chiếm thành Ðồ Bàn đổi thành phủ Hoài Nhơn. Trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn đổi Hoài Nhơn thành Qui Nhơn (1605). Ðến chúa Nguyễn Phúc Tấn đổi thành Qui Ninh (1651), nhưng sang chúa Nguyễn Phúc Khoát lấy lại tên Qui Nhơn (1741).
    Năm 1771, ba vị anh hùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi nghĩa đánh chúa Nguyễn, năm năm sau (1776) Nguyễn Nhạc xưng vương, lấy Qui Nhơn làm kinh đô, sửa sang thành Ðồ Bàn làm Hoàng Ðế thành.
    Sau khi vua Quang Trung băng hà, lực lượng nhà Tây Sơn càng ngày càng yếu, trong khi đó, Nguyễn Ánh lại được người Pháp giúp đỡ. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm phủ Qui Nhơn và đổi tên thành phủ Bình Ðịnh. Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu Gia Long, chỉnh đốn việc cai trị, đổi phủ Bình Ðịnh thành trấn Bình Ðịnh (1810).
    Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhà vua theo lối tổ chức của Thanh triều bên Trung Hoa, đổi trấn thành tỉnh, Bình Ðịnh trấn thành Bình Ðịnh tỉnh từ đấy (Xem bản đồ tỉnh Bình Ðịnh).
    Chúng ta hãy lắng nghe người học trò đa tình Bình Ðịnh ra Huế thi và rủ rê cô gái đất thần kinh:
    Mải vui Hương thủy Ngự Bình
    Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô.
    Chẳng lịch bằng kinh đô
    Bình Ðịnh không đồng khô cỏ cháy
    Năm dòng sông chảy,
    Sáu dãy non cao
    Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh.
    Những câu thơ của người học trò tự thuở xa xưa đã mô tả một vùng đất Bình Ðịnh hữu tình với những dòng sông, những dãy núi cao, tháp Chàm cổ, khiến chúng ta liên tưởng đến Hầm Hô, Ðồ Bàn, đầm Thị Nại. . . Ðầm này rất rộng do bán đảo Phương Mai bao bọc bên ngoài với hai cửa Cát Thử và Qui Nhơn. Từ xưa, thế kỷ 17 đã là cửa ngõ giao thương với các tỉnh trong nước cũng như nước ngoài và còn là một vị trí chiến lược, chiến thuật hiểm yếu. Bình Ðịnh là một tỉnh có đầy đủ nông lâm thủy sản . Ðặc sản có yến sào Qui Nhơn, trầm hương Bình Khê, nón ngựa Gò Găng, bột đậu xanh, bún Song thằng An Thái, nước mắm Gò Bồi, xoài tượng Phù Cát cùng nước dừa Bồng Sơn, Tam Quan ngọt ngào, tươi mát.
    Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
    Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
    Muốn ăn quít, ăn hồng,
    Theo cha mày mà về ngoài đó, (Thanh Nghệ)
    Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
    Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
    Thì theo tao, ở mãi trong này. (là Bình Ðịnh)
    Võ cổ truyền – Lịch sử Võ thuật Bình Định
    Đặc điểm
    1. Đặc điểm đầu tiên lớn nhất của võ thuật Bình Định là sự đa dạng. Đa dạng về những dòng võ ngay trên đất Bình Định và đa dạng về sự khác biệt trong kỹ thuật giữa các hệ phái mang tên Bình Định hoặc Tây Sơn trên toàn quốc.
    Tuy nhiên, sự đa dạng đó lại đặt trên cơ sở một số đặc điểm chung hầu hết các dòng võ ở Bình Định đều có. Chẳng hạn như một số bài bản được mặc nhiên coi là võ Bình Định như Ngọc trản ngân đài, Siêu Bát Quái, Roi Tấn Nhứt, Roi Ngũ Môn. Mặc dù đây chính là các bài bản của Võ Ta hay còn gọi là Võ Kinh, một môn võ của Đàng Trong và từng được dùng cho huấn luyện trong quân đội và thi võ cử trong thời nhà Nguyễn.
    Các câu vè có liên quan đến yếu quyết của võ thuật được lưu truyền ở Bình Định cũng là những câu vè của Võ Ta. Ví dụ: “Roi tiên quyền tiếp” (Xem Đấu Roi), “Song thủ ngũ hành vi bản. Lưỡng túc bát bộ vi căn”… Một câu vè khác nói lên sự thống nhất và liên đới giữa hai môn (Võ Kinh và võ thuật Bình Định) là “Roi Kinh quyền Bình Định”. Những kỹ thuật này không chỉ có riêng ở Võ Kinh và võ thuật Bình Định. Nó còn tồn tại ở các dòng võ ở các miền khác, chẳng hạn võ Tân Khánh Bà Trà ở Bình Dương – Đông Nam Bộ.
    Ngoài những kỹ thuật được coi là võ Ta nói trên, mỗi dòng võ đều chứa những đặc điểm riêng của mình. Đặc biệt nhất là những kỹ thuật thừa hưởng của nhà Tây Sơn. Ví dụ: Bài Hùng Kê quyền vốn được coi là của Nguyễn Lữ, bài quyền Yến Phi (thảo pháp Én bay) vốn được coi là của Nguyễn Huệ, các kỹ thuật về trống trận Tây Sơn… Mặc dù những kỹ thuật này không phổ biến bằng các kỹ thuật của Võ Ta, nhưng đây là điểm đặc sắc của riêng vùng đất Bình Định mà các vùng khác không hề có.
    Đặc biệt, trong thời gian gần đây có sự xuất hiện ra công chúng dòng võ chùa Long Phước. Theo trang web Võ Cổ Truyền, nhà sư Vạn Thanh (tên thật là Nguyễn Đông Hải) vốn là truyền nhân đời thứ 13 của môn phái Long Hổ Không hồng. Cũng theo trang web nói trên, kỹ thuật của môn võ này bao gồm trong “Phổ Đại Nam triều chi tướng thao” do tướng Tây Sơn Nguyễn Trung Như (Hư Linh Ẩn) truyền lại. Tập sách này gồm 2 bộ:
    “Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp” do Hư Minh, tổ của môn phái Long Hổ Không hồng ghi lại các bài bản từ thời nhà Lê trở về trước.
    “Tây Sơn danh tướng mộ hùng thao” do Nguyễn Trung Như ghi lại các bài bản võ thuật của thời Tây Sơn.
    Mức độ trung thực về mặt lịch sử của các tài liệu này rất cần được sự quan tâm nghiên cứu công phu của các nhà sử học.

    Vì có sự tương đồng về mặt văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, có một số dòng võ hoặc hệ phái tuyên bố có nguồn gốc từ Trung Quốc cũng lấy danh xưng võ Bình Định. Chẳng hạn như trường hợp của phái võ Bình Định gia tại Hà Nội, dòng Bình Định An Thái của võ sư Diệp Trường Phát. Việc công nhận hay công nhận danh xưng “Võ Bình Định” của các hệ phái này một thời từng là một đề tài tranh luận khá sôi nổi trong giới võ.
    Ngoài ra, ở vùng đất này cũng đã và đang có sự phổ biến của nhiều môn võ hiện đại trong và ngoài nước khác nhau. Đất Bình Định cũng đã từng rất nổi tiếng trong “làng đấm” (quyền Anh). Tuy nhiên, vì có sự rạch ròi trong ngôn ngữ sử dụng lẫn trong sự phân chia môn phái võ thuật hoặc bộ môn thể thao thi đấu nên chưa bao giờ các môn võ này được gọi với danh xưng “Võ Bình Định“.
    2. Về khía cạnh võ thuật, võ cổ truyền Bình Định thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu, giữa bên trong (tinh, khí, thần) với bên ngoài cơ thể (thủ, nhãn, chỉ và thân). Về võ lý, võ cổ truyền Bình Định vận dụng triệt để học thuyết âm – dương, lấy phép ngũ hành và phép bát quái làm nguyên lý cơ bản của “Song thủ ngũ hành vi bản”, “Lưỡng túc bát bộ vi căn” là cơ sở võ lý cho luyện tập bộ tay và bộ chân trong võ cổ truyền Bình Định: Tấn pháp trong bát quái và Thủ pháp trong Ngũ hành, có sự phối hợp cả hai phương diện ngoại công và nội công.
    3. Về khía cạnh đạo đức, ngoài những đức tính mà con người đề cao trong rèn luyện đạo đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đạo đức của người luyện õ còn thể hiện ở các mặt truyền thống: thượng võ, chống ngoại xâm; uống nước nhớ nguồn; trọng nhân nghĩa…
    4. Về nội dung, võ cổ truyền Bình Định vô cùng phong phú, đa dạng nhưng tựu trung có 4 nội dung cơ bản là: luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần. Quyền còn gọi là thảo bộ hay quyền tay không, bao gồm Cương quyền và Nhu quyền. Võ tay không chia thành 4 nhóm: Võ thể dục, võ tự vệ, võ tỷ thí và võ chiến đấu. Binh khí được dùng trong võ cổ truyền Bình Định bao gồm binh khí dài và binh khí ngắn. Loại binh khí rất cơ bản được lưu hành khá phổ biến ở Bình Định là côn (tiếng địa phương gọi là roi) (Xem Đấu Roi)với nhiều “phách roi” độc đáo chỉ có ở võ cổ truyền Bình Định: “Đâm so đũa”, “Đá văn roi”, “Phá vây”, “Roi đánh nghịch”… Nói về tận dụng vũ khí thô sơ chống giặc, Bình Định có “Bài kiếm 12″ nổi tiếng gồm 12 động tác được rút tỉa trong nhiều bài kiếm tiêu biểu của Bình Định để hình thành một cách ngắn gọn, dễ tập, dễ nhớ, được đưa vào luyện tập và thực hành chiến đấu đạt hiệu quả cao trong các lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở địa phương.
    Trong các bộ môn về quyền thuật, “Ngọc Trản” là bài quyền tiêu biểu của võ cổ truyền Bình Định, trải qua thời gian, nó vẫn sáng chói như một “chén ngọc” với những bí quyết võ công vô giá. Để thực hành được một cách nhuần nhuyễn, phải tính đến công sức luyện tập cả về thể chất và ý thức nhằm tạo được sự thống nhất thành một ý niệm duy nhất, như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó chính là bí quyết khổ luyện của lối quyền âm – dương trong Ngọc Trản công.
    Nguồn gốc

    Như đã trình bày, kỹ thuật phổ biến nhất trong võ thuật Bình Định là võ Ta, tức võ thuật của triều Nguyễn phổ biến ở Đàng Trong [cần dẫn nguồn]. Còn võ Ta thực sự được truyền vào và phổ biến ở vùng này từ thời nào lại là điều rất cần được nghiên cứu về mặt lịch sử.

    Sự ảnh hưởng của võ học thời Tây Sơn chỉ gói gọn trong một vài dòng võ và trong một vài bài bản riêng biệt không phổ biến, không nên xem võ thuật của Tây Sơn là nguồn gốc của tất cả các dòng phái võ thuật Bình Định.

    Mặc dù rất nhiều người học võ thuật Bình Định từng thọ giáo các danh sư có gốc từ Trung Quốc như Khách Bút, hoặc Tàu Sáu (Diệp Trường Phát). Tuy nhiên, những bài bản võ thuật phổ biến ở Bình Định không hề có trong các bài bản của võ thuật Trung Quốc kể cả danh từ lẫn kỹ thuật. Vì vậy, việc phát biểu của một số võ sư học võ Trung Quốc như “Võ Bình Định là võ Thiếu Lâm” hoặc “Võ Bình Định bắt nguồn từ võ Thiếu Lâm” (như ông Diệp Trường Phát đã từng phát biểu theo lời trích dẫn của Quách Trường Xuyên trong quyển “Võ Nhân Bình Định“) là không hề có cơ sở. [cần dẫn nguồn]
    Các dòng võ Bình Định

    Dòng họ Trương (xã Phù Mỹ, huyện Mỹ Hiệp): Ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường từ xứ Thanh Hà, Hải Dương vào khai sơn phá thạch ở vùng đất Tú Dương (thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, Bình Định) vào đầu thế kỷ 17 (khoảng năm 1605). Sau đó dồn đến định cư ở thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, Phù Mỹ, Bình Định cho đến ngày nay. Theo gia phả của dòng tộc để lại, dòng họ này có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân, cả văn lẫn võ trong thời nhà Nguyễn và hầu như đều theo nghiệp văn chương và nghiệp võ. Trong số đó có ông cử nhân võ Trương Trạch, thầy dạy của võ sư Trương Thanh Đăng, người sang lập ra võ đường Sa Long Cương ở Sài Gòn.

    Dòng họ Đinh (thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn): Ông Thủy tổ của dòng họ Đinh là Đinh Viết Hòe, sinh năm 1710 từ đất Ninh Bình phiêu bạt vào sinh cơ lập nghiệp tại ấp Thời Đôn (nay thuộc thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, Bình Định) vào khoảng năm 1730 và lấy thêm vợ thứ (ông Hòe đã có vợ ở quê nhà) là bà Nguyễn Thị Quyền, sinh năm 1715 và sinh được 3 người con Đinh Văn Diệm, Đinh Văn Nhưng, Đinh Văn Triêm. Đinh Văn Nhưng (còn gọi là Ông Chảng) chính là thầy dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Hiện nay dòng họ này đã đổi sang họ Đào (sinh Đào tử Đinh) và tất cả các tài liệu, hiện vật đều bị tiêu huỷ sau khi phong trào Tây Sơn thất bại. Tài liệu duy nhất của dòng họ này truyền lại đến nay được biết là một tập tư liệu cổ do võ sư Phan Thọ cung cấp trong đó có ký tên Đào Thống.

    Dòng họ Trần (thôn Trường Định, xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn): là võ sư Trần Kim Hùng có nguồn gốc từ xứ Nghệ An, người dạy võ cho ba anh em Tây Sơn. Sau này, trong “Tây Sơn ngũ phụng thư” có Trần Thị Lan, bà Lan được ông nội là võ sư Trần Kim Hùng truyền dạy võ nghệ, bà có biệt tài về kiếm thuật và luyện thân lanh lẹ như chim én, nên tự hiệu là Ngọc Yến. Người chị của Trần Thị Lan là Trần Thị Huệ, vợ của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc.

    Roi Thuận Truyền(Xem Đấu roi) (thôn Thuận Truyền, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn): “Roi Thuận Truyền” trước xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng đến đời ông Ba Ðề thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ Nhu là tên thật của Hồ Ngạnh, sinh năm 1891, mất năm 1976. Ông nguyên quán thôn Háo Ngãi, xã Bình An, huyện Tây Sơn, trú quán ở Thuận Truyền, xã Bình Thuận cùng huyện. Cha là ông Ðốc Năm, một võ quan của triều Nguyễn. Mẹ cũng là con nhà võ. Ngay từ lúc bé, ông đã được cha mẹ dạy võ gia truyền. Lớn lên, ông học roi của cao sư Ba Ðề, học nội công của ông Ðội Sẻ, tiếp đến học roi của ông Hồ Khiêm. Ðường roi kết hợp tinh hoa của nhiều thầy, lại thêm nội công nên cứng cáp và sâu hiểm vô cùng. Từ roi thế, roi đấu, roi chiến đến roi trận, ông đều tinh thông và độc đáo. Khoảng năm 1932, tiếng tăm ông đã vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú. Nghe danh, học trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết sớm, ông truyền nghề cho cháu nội là ông Hồ Sừng. Học trò lớp lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường Úc, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước được riêng dạy ngón võ bí truyền. Học trò lớp sau có Ðinh Văn Tuấn ở Qui Nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ vang cho làng võ Thuận Truyền. Hồ Ngạnh được gọi là “võ sư huyền thoại”.

    Quyền An Vinh (xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn): “Quyền An Vinh” có từ lâu, nhưng cũng chỉ biết từ đời ông Hương Mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa, cũng là bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi. Hương Mục Ngạc học quyền Bình Định (cô tổ của ông vốn là thầy dạy võ của nữ tướng Bùi Thị Xuân) rồi học thêm quyền Tàu của ông Khách Bút. Ông nổi tiếng nhờ tổng hợp được nhiều nguồn võ khác nhau, tạo nên tay quyền xuất sắc nhất trong làng võ thuật Bình Định đương thời. ông có ba người con: Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác đều tinh thông võ nghệ. Ông dạy nhiều học trò, có người nổi tiếng như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc về võ thuật mà còn gan dạ và có sức mạnh đáng kể, với tay không có thể vật ngã một con trâu đực đang sung sức. Bảy Lụt truyền nghề cho ông Phan Thọ. Sau này ông Phan Thọ còn học thêm võ trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp thu được cả tinh hoa quyền An Vinh từ mạch võ Hương Mục Ngạc lẫn võ chiến của Tây Sơn[cần dẫn nguồn].

    Quyền An Thái (xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn): An Thái vốn có những dòng võ truyền thống nổi tiếng nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng võ Bình định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái nói riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu. Người sáng lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát , sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người Tàu nhưng dòng dõi ba đời đều ở An thái, bà nội và mẹ ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia đình và bản thân Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi được 13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những cao sư Bắc phái Thiếu Lâm. Sau 15 năm ròng rã tầm sư học võ, ông Tàu Sáu lúc bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An Thái, mở trường dạy quyền Tàu, sở trường hai môn Hổ quyền và Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn đệ rất đông, không bao lâu phái quyền Tàu Thiếu Lâm của ông đã rải khắp miền đất võ và riêng ở An Thái, võ quyền truyền thống đã bị quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì thế sửa lại câu truyền tụng từ xưa ra “roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. [cần dẫn nguồn]

    Dân Bình Định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì xuất thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có người chỉ để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được cứng cáp thêm như Mười Mỹ. Sau này con của ông, võ sư Diệp Bảo Sanh viết quyển “Võ thuật Bình Định chân truyền” trong đó gọi ông là tổ sư của võ phái An Thái. Võ thuật phái An Thái được truyền vào Sài Gòn với tên gọi Bình Thái Đạo. Ngày nay môn phái này có chưởng môn là bà Diệp Lệ Bích (cháu nội của ông Diệp Trường Phát).
    Trường võ cử Bình Định

    Mặc dù sau khi dẹp được khởi nghĩa Tây Sơn, triều đình nhà Nguyễn đã có sự cấm đoán việc luyện võ cũng như việc sử dụng các loại binh khí sắc bén. Tuy nhiên, việc này chỉ diễn ra trong vòng vài chục năm. Sau đó để tận dụng nhân tài của miền đất võ trong việc chống Pháp, trường võ cử (thi Hương) Bình Định đã được mở lại.
    Trong tục ngữ ca dao

    Võ Bình định luôn luôn gắn liền với tên đất, tên người ở đây.Roi Kinh, Quyền Bình Định.Roi Thuận Truyền, Quyền An Vinh.Trai An Thái, Gái An Vinh.

    hoặcTiếng đồn An thái, Bình khêNhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo

    hoặcDư Ðành sức mạnh quá trâuVùng lên đánh ngã cả xâu triều đình

    Nổi tiếng nhất là câu ca dao sau:Ai về Bình định mà coiĐàn bà cũng biết múa roi, đi quyền

    Tuy nhiên, đôi lúc cũng có những cô gái học võ không chỉ để phòng thân mà muốn phát huy cái đẹp của võ truyền thống như trường hợp Thanh Tùng, hoặc còn đi xa hơn, thi thố với đời, trở thành cao thủ trong làng võ. Điển hình có bà Mân sống vào thời chúa Nguyễn, cô Quyền vào giữa thế kỷ 19 và sang đầu thế kỷ 20 lại có Tám Cảng.

    Bà Mân chưa phải là nhân vật lịch sử nhưng với tài võ nghệ, bà được dân Bình Định ca tụng qua bài vè Chú Lía dài 1434 câu thơ lục bát và được lưu truyền khắp các tỉnh miền Nam Trung phần.

    Theo bài vè, bà Mân ở gần vùng Truông Mây, nơi sào huyệt của một đảng cướp lớn do cha Hồ chú Nhẫn và sau có thêm chú Lía cầm đầu, nay thuộc xã Ân Đức huyện Hoài Ân. Một hôm hai tên Hồ, Nhẫn đem cả lực lượng hùng hậu đến bắt heo nhà bà, cả làng khiếp sợ không ai dám tiếp cứu:Lân la bốn chục theo ràyThẳng đường xuống xóm chật đầy đường quan

    Trong tay bà chỉ có cây roi ngắn nhưng với lòng can đảm và tự tin, bà xông ra cự địch với một đảng cướp mạnh khét tiếng trong vùng:Mụ Mân độ khoảng bốn haiLàu thông võ nghệ ít ai sánh bìThình lình chưa biết việc chiTiện tay mụ với tức thì đoản cônBước ra thấy rõ thiệt hơnMụ không thèm hỏi huơ côn đánh liền.

    Ai cũng tưởng phen này bà Mân bị nát thây vì hai tên Hồ, Nhẫn không những võ nghệ phi thường mà còn hung bạo chưa từng có. Nhưng không may cho chúng, thế võ của bà sâu hiểm vô cùng, áp đảo được ngay đối thủ:Cả ba vùng vẫy đua tranhMụ Mân quả thực liệt oanh ai tày

    Chỉ mới so tài ở hiệp đầu mà bọn cướp đã bị ngọn roi thần của bà cuốn người như bão táp, chúng phải đổi từ thế công sang thế thủ rồi tìm đường tháo lui:Phút thôi Hồ, Nhẫn cả haiĐuối tay kéo chạy như bay khác nào!

    Nhiều bạn vẫn thường nhịn đói trước khi tập thể dục, võ thuật hoặc thể thao vì những lý do hết sức đơn giản như là không có thời gian, ăn xong rồi lại làm biếng tập hoặc ăn xong sẽ khiến cảm giác buồn ngủ xuất hiện.v.v. Vô vàn lý do biện minh lý do không ăn trước khi tập được rất nhiều người tập từ trẻ đến người lớn tuổi đưa ra. Họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc ăn trước khi tập .

    Thực phẩm cần tránh
    Ngoài những dinh dưỡng bổ ích cho người tập luyện boxing, bạn cũng cần chú ý hạn chế những thực phẩm sau:
    Thức ăn chiên.
    Các loại thực phẩm có đường cao (sôcôla, kẹo, nước giải khát và bánh ngọt).
    Chất béo bão hòa.
    Đồ ăn nhanh.
    Thức ăn chế biến sẵn.
    Bạn không nên hạn chế mình hoàn toàn với một số loại thực phẩm nhất định. Nhưng hãy thận trọng hơn trong cách ăn của bạn. Đặc biệt nếu bạn nghiêm túc về các bài tập boxing. Rượu, bia cũng phải được tránh bằng mọi giá. Nếu bạn đang hướng tới mục tiêu trở thành một võ sĩ chuyên nghiệp. Hay luyện tập để đạt kết quả tốt nhất cho sức khỏe và ngoại hình.

    Dùng thức ăn trước khi tập luyện rất quan trọng, nó đem lại sự thoải mái và hiệu suất trong khi tập thể dục cho người tập. Dùng thức ăn trước khi tập thể dục sẽ giúp ngăn chặn các triệu chứng mất tập trung do đói trong quá trình tập và giữ cho bạn khỏi làm suy giảm năng lượng của bạn quá nhanh.

    Việc bạn quyết định sẽ ăn gì trước buổi tập thường phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu và sở thích, nhưng việc ăn gì nên được thiết kế theo cường độ và loại hình tập luyện bạn để phát huy tối đa hiệu quả. Và dưới đây là những sai lầm về vấn đề dùng thức ăn trước khi tập:

    Tập thể dục với dạ dày no

    Tập thể dục với dạ dày no không phải là lý tưởng. Khi bao tử đầy thức ăn, máu sẽ di chuyển tới các cơ quan tiêu hóa để trợ lực. Do đó nếu luyện tập khi đang no, máu sẽ chuyển từ các cơ quan tiêu hóa sang những cơ bắp đang luyện tập gây cản trở cho việc tiêu hóa. Ngoài ra, thực phẩm vẫn còn trong dạ dày của bạn trong quá trình tập luyện có thể gây ra đau bụng, buồn nôn, chuột rút.



    Lời khuyên cho bạn: Để chắc chắn rằng bạn có đủ năng lượng, giảm sự khó chịu trong dạ dày, bạn nên dùng một bữa ăn, bạn không cần dùng một bữa ăn đủ dinh dưỡng, bạn có thể ăn một chút đồ ăn nhẹ có nhiều protein và carbohydrate trước 30 phút đến 45 phút để tiêu hóa hết trước thức ăn trước khi bắt đầu tập luyện. Nếu bạn là người bận rộn, trước khi tập, bạn có thể ăn hoặc uống những loại thức ăn hoặc đồ uống lỏng, những loại này rất dễ tiêu hóa, khoảng từ 15 đến 30 phút. Mọi người đều có một chút khác nhau về vấn đề tiêu hóa, bạn nên thử nghiệm hoặc hỏi ý kiến bác sĩ để xác định được thời gian tốt nhất cho bạn.

    Dùng nhiều thức ăn nhiều chất béo và chất xơ

    Việc bạn dùng các thức ăn nhiều chất béo như những món chiên, xào.v.v. và dùng thức ăn nhiều chất xơ như: rau, giá, hẹ.. Các loại thực phẩm này sẽ làm chậm quá trình tiêu hóa, gây khó chịu, đầy hơi và còn trong dạ dày một thời gian dài. Bên cạnh đó, các chất này có thể gây ra chuột rút cho bạn.

    Lời khuyên cho bạn: Bạn có thể dùng một miếng bánh mì kết hợp với chút bơ đậu phộng sẽ giúp tiếp thêm sinh lực cho cơ thể, đặc biệt bạn sẽ không phải lo ngại về việc tăng cân. Dùng bánh mì sẽ cung cấp cho bạn nguồn năng lượng trong vòng một giờ tập luyện, nếu bạn muốn tập luyện nhiều thời gian hơn, bạn sẽ phải chọn một bữa ăn đủ protein hoặc bạn có thể kết hợp việc dùng bánh mì với dùng chuối. Một quả chuối có chứa các carbohydrate phức hợp, giúp kéo dài năng lượng cơ thể của bạn hơn.



    Dùng café

    Người châu Á nói chung và người Việt Nam ta nói riêng thường có thói quen dùng café trong các bữa ăn. Uống một ly café vào buổi sáng mỗi khi thức dậy để chuẩn bị cho một buổi tập thể dục sẽ giúp bạn cảm thấy tỉnh táo, thoái mái. Tuy nhiên, với các nghiên cứu của các nhà khoa học, việc dùng café cùng với bữa ăn trước khi tập thể dục là điều nên tránh. Chất caffeine có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng cho một số người. Những người rất nhạy cảm với những ảnh hưởng của nó có thể bị buồn nôn, run cơ và đau đầu. Caffeine là một chất lợi tiểu, và có thể dẫn đến mất nước, làm giảm hiệu suất tập luyện.

    Lời khuyên cho bạn: Thay vì dùng café, bạn có thể dùng một ít trái cây tươi như táo, dưa hấu, đào, nho, hoặc cam và một hộp sữa chua, xay nhuyễn tất cả nguyên liệu. Sinh tố sữa chua trái cây là bữa ăn nhẹ và mát mà bạn có thể uống khoảng 15 đến 30 phút trước khi tập thể dục. Sữa chua có chứa protein, trong khi trái cây sẽ cung cấp cho cơ thể bạn một nguồn năng lượng mới, khi cả hai kết hợp sẽ duy trì sự hưng phấn và ổn định lượng đường trong quá trình luyện tập của bạn.

    Bên cạnh việc dùng sinh tố trái cây, bạn có thể dùng nước tinh khiết. Uống nước trước khi tập là điều quan trọng nhất trong quá trình tập. Nước chiếm tới 70% trọng lượng của cơ thể. Phần lớn mọi người thường mắc sai lầm là chỉ uống nước sau khi tập thể thao mà quên rằng chúng ta cũng cần uống nước trước khi tập. Nửa lít nước trước khi tập là phù hợp. Quá trình đốt cháy năng lượng rất cần nước để tránh căng cơ, bong gân. Nếu có thể, bạn thêm chút nước chanh thì việc hấp thụ nước vào cơ thể sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta không nên uống những loại nước pha sẵn như soda hay nước ngọt, đặc biệt là bia rượu trước khi luyện tập.



    Về cơ bản, đây là những chú ý nho nhỏ cần biết trước khi luyện tập. Tất nhiên rằng chúng chỉ mang tính khái quát, còn tùy vào các loại hình thể thao, bạn sẽ có những cách ăn uống và các loại thức ăn khác nhau. Cấp độ luyện tập thể thao càng cao chế độ ăn uống càng phải mang đặc thù riêng cho phù hợp. Điều quan trọng nữa bạn phải cẩn thận lựa chọn những đồ ăn chất lượng đảm bảo, tươi ngon nhất để chuẩn bị cho một buổi tập đầy hiệu quả.

    Có thể bạn chưa biết

    Theo khuyến cáo của Học viện Y học Thể thao Mỹ dành cho mọi người trên thế giới, mọi người cần uống trên 500ml nước (2-3 ly) 1-2 giờ trước buổi tập; uống 200ml đến 300ml (1-2 ly) trước buổi tập 10 đến 20 phút. Trong khi tập, cứ 15-20 phút lại uống khoảng 150 ml đến 300ml ( 1-2 ly) để bù lại lượng mồ hôi bị mất. Nếu thời gian tập kéo dài hơn 90 phút, bạn nên uống 250 ml đến 300 ml (1-2 ly) bạn nên dùng nước có thêm đường và muối nhưng chứa không quá 30g đường trong 250ml) mỗi 10 – 15 phút. Sau buổi tập, nên cân lại, cứ sút nửa kg thì uống bù 2 ly nước; sụt 1kg thì uống 1250ml đến 1500ml (6-8 ly); sút 2 kg uống từ 2500ml đến 3000ml (12 đến 15 ly).

    Theo Khám phá võ thuật

    Tập luyện võ thuật có nên ăn bánh ngọt hay các đồ ăn nhanh không

    Posted at  tháng 7 29, 2019  |  in  Chia-sẻ  |  Read More»

    Nhiều bạn vẫn thường nhịn đói trước khi tập thể dục, võ thuật hoặc thể thao vì những lý do hết sức đơn giản như là không có thời gian, ăn xong rồi lại làm biếng tập hoặc ăn xong sẽ khiến cảm giác buồn ngủ xuất hiện.v.v. Vô vàn lý do biện minh lý do không ăn trước khi tập được rất nhiều người tập từ trẻ đến người lớn tuổi đưa ra. Họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc ăn trước khi tập .

    Thực phẩm cần tránh
    Ngoài những dinh dưỡng bổ ích cho người tập luyện boxing, bạn cũng cần chú ý hạn chế những thực phẩm sau:
    Thức ăn chiên.
    Các loại thực phẩm có đường cao (sôcôla, kẹo, nước giải khát và bánh ngọt).
    Chất béo bão hòa.
    Đồ ăn nhanh.
    Thức ăn chế biến sẵn.
    Bạn không nên hạn chế mình hoàn toàn với một số loại thực phẩm nhất định. Nhưng hãy thận trọng hơn trong cách ăn của bạn. Đặc biệt nếu bạn nghiêm túc về các bài tập boxing. Rượu, bia cũng phải được tránh bằng mọi giá. Nếu bạn đang hướng tới mục tiêu trở thành một võ sĩ chuyên nghiệp. Hay luyện tập để đạt kết quả tốt nhất cho sức khỏe và ngoại hình.

    Dùng thức ăn trước khi tập luyện rất quan trọng, nó đem lại sự thoải mái và hiệu suất trong khi tập thể dục cho người tập. Dùng thức ăn trước khi tập thể dục sẽ giúp ngăn chặn các triệu chứng mất tập trung do đói trong quá trình tập và giữ cho bạn khỏi làm suy giảm năng lượng của bạn quá nhanh.

    Việc bạn quyết định sẽ ăn gì trước buổi tập thường phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu và sở thích, nhưng việc ăn gì nên được thiết kế theo cường độ và loại hình tập luyện bạn để phát huy tối đa hiệu quả. Và dưới đây là những sai lầm về vấn đề dùng thức ăn trước khi tập:

    Tập thể dục với dạ dày no

    Tập thể dục với dạ dày no không phải là lý tưởng. Khi bao tử đầy thức ăn, máu sẽ di chuyển tới các cơ quan tiêu hóa để trợ lực. Do đó nếu luyện tập khi đang no, máu sẽ chuyển từ các cơ quan tiêu hóa sang những cơ bắp đang luyện tập gây cản trở cho việc tiêu hóa. Ngoài ra, thực phẩm vẫn còn trong dạ dày của bạn trong quá trình tập luyện có thể gây ra đau bụng, buồn nôn, chuột rút.



    Lời khuyên cho bạn: Để chắc chắn rằng bạn có đủ năng lượng, giảm sự khó chịu trong dạ dày, bạn nên dùng một bữa ăn, bạn không cần dùng một bữa ăn đủ dinh dưỡng, bạn có thể ăn một chút đồ ăn nhẹ có nhiều protein và carbohydrate trước 30 phút đến 45 phút để tiêu hóa hết trước thức ăn trước khi bắt đầu tập luyện. Nếu bạn là người bận rộn, trước khi tập, bạn có thể ăn hoặc uống những loại thức ăn hoặc đồ uống lỏng, những loại này rất dễ tiêu hóa, khoảng từ 15 đến 30 phút. Mọi người đều có một chút khác nhau về vấn đề tiêu hóa, bạn nên thử nghiệm hoặc hỏi ý kiến bác sĩ để xác định được thời gian tốt nhất cho bạn.

    Dùng nhiều thức ăn nhiều chất béo và chất xơ

    Việc bạn dùng các thức ăn nhiều chất béo như những món chiên, xào.v.v. và dùng thức ăn nhiều chất xơ như: rau, giá, hẹ.. Các loại thực phẩm này sẽ làm chậm quá trình tiêu hóa, gây khó chịu, đầy hơi và còn trong dạ dày một thời gian dài. Bên cạnh đó, các chất này có thể gây ra chuột rút cho bạn.

    Lời khuyên cho bạn: Bạn có thể dùng một miếng bánh mì kết hợp với chút bơ đậu phộng sẽ giúp tiếp thêm sinh lực cho cơ thể, đặc biệt bạn sẽ không phải lo ngại về việc tăng cân. Dùng bánh mì sẽ cung cấp cho bạn nguồn năng lượng trong vòng một giờ tập luyện, nếu bạn muốn tập luyện nhiều thời gian hơn, bạn sẽ phải chọn một bữa ăn đủ protein hoặc bạn có thể kết hợp việc dùng bánh mì với dùng chuối. Một quả chuối có chứa các carbohydrate phức hợp, giúp kéo dài năng lượng cơ thể của bạn hơn.



    Dùng café

    Người châu Á nói chung và người Việt Nam ta nói riêng thường có thói quen dùng café trong các bữa ăn. Uống một ly café vào buổi sáng mỗi khi thức dậy để chuẩn bị cho một buổi tập thể dục sẽ giúp bạn cảm thấy tỉnh táo, thoái mái. Tuy nhiên, với các nghiên cứu của các nhà khoa học, việc dùng café cùng với bữa ăn trước khi tập thể dục là điều nên tránh. Chất caffeine có thể có tác dụng phụ nghiêm trọng cho một số người. Những người rất nhạy cảm với những ảnh hưởng của nó có thể bị buồn nôn, run cơ và đau đầu. Caffeine là một chất lợi tiểu, và có thể dẫn đến mất nước, làm giảm hiệu suất tập luyện.

    Lời khuyên cho bạn: Thay vì dùng café, bạn có thể dùng một ít trái cây tươi như táo, dưa hấu, đào, nho, hoặc cam và một hộp sữa chua, xay nhuyễn tất cả nguyên liệu. Sinh tố sữa chua trái cây là bữa ăn nhẹ và mát mà bạn có thể uống khoảng 15 đến 30 phút trước khi tập thể dục. Sữa chua có chứa protein, trong khi trái cây sẽ cung cấp cho cơ thể bạn một nguồn năng lượng mới, khi cả hai kết hợp sẽ duy trì sự hưng phấn và ổn định lượng đường trong quá trình luyện tập của bạn.

    Bên cạnh việc dùng sinh tố trái cây, bạn có thể dùng nước tinh khiết. Uống nước trước khi tập là điều quan trọng nhất trong quá trình tập. Nước chiếm tới 70% trọng lượng của cơ thể. Phần lớn mọi người thường mắc sai lầm là chỉ uống nước sau khi tập thể thao mà quên rằng chúng ta cũng cần uống nước trước khi tập. Nửa lít nước trước khi tập là phù hợp. Quá trình đốt cháy năng lượng rất cần nước để tránh căng cơ, bong gân. Nếu có thể, bạn thêm chút nước chanh thì việc hấp thụ nước vào cơ thể sẽ dễ dàng hơn. Chúng ta không nên uống những loại nước pha sẵn như soda hay nước ngọt, đặc biệt là bia rượu trước khi luyện tập.



    Về cơ bản, đây là những chú ý nho nhỏ cần biết trước khi luyện tập. Tất nhiên rằng chúng chỉ mang tính khái quát, còn tùy vào các loại hình thể thao, bạn sẽ có những cách ăn uống và các loại thức ăn khác nhau. Cấp độ luyện tập thể thao càng cao chế độ ăn uống càng phải mang đặc thù riêng cho phù hợp. Điều quan trọng nữa bạn phải cẩn thận lựa chọn những đồ ăn chất lượng đảm bảo, tươi ngon nhất để chuẩn bị cho một buổi tập đầy hiệu quả.

    Có thể bạn chưa biết

    Theo khuyến cáo của Học viện Y học Thể thao Mỹ dành cho mọi người trên thế giới, mọi người cần uống trên 500ml nước (2-3 ly) 1-2 giờ trước buổi tập; uống 200ml đến 300ml (1-2 ly) trước buổi tập 10 đến 20 phút. Trong khi tập, cứ 15-20 phút lại uống khoảng 150 ml đến 300ml ( 1-2 ly) để bù lại lượng mồ hôi bị mất. Nếu thời gian tập kéo dài hơn 90 phút, bạn nên uống 250 ml đến 300 ml (1-2 ly) bạn nên dùng nước có thêm đường và muối nhưng chứa không quá 30g đường trong 250ml) mỗi 10 – 15 phút. Sau buổi tập, nên cân lại, cứ sút nửa kg thì uống bù 2 ly nước; sụt 1kg thì uống 1250ml đến 1500ml (6-8 ly); sút 2 kg uống từ 2500ml đến 3000ml (12 đến 15 ly).

    Theo Khám phá võ thuật

    About-Privacy Policy-Contact us
    Copyright © 2013 Võ thuật Cổ Truyền - Võ Cổ Truyền Việt Nam - tin tức liên đoàn Võ thuật cổ truyền. Distributed By Võ thuật cổ truyền Việt Nam | https://banhngot.vn by https://banhngot.vn/ cung cấp Giỏ quà tết Bình Dương
    Proudly Powered by Võ Cổ truyền Việt Nam Phát triển xây dựng nội sung Bánh ngọtViệt Nam Bánh kem Hương vị Việt #banhngotvn Xem nhiều mẫu bánh sinh nhật võ thuật Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương Xem nhiều Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương
    back to top