• Featured

    Chia sẻ thông tin kiến thức, phương pháp tập luyện, chế độ dinh dưỡng cần thiết võ cổ truyền

  • Featured

    Don't miss these 10 Things if you are going for Picnic.

  • Articles

    iPhone 6 Will Look Like

  • Articles

    Solar Powered UAVs To Replace Satellites

  • Lực có nghĩa là sức lực, sức mạnh tiềm ẩn bên trong cơ thể. Khái niệm về lực theo khoa học vật lý có phần rõ ràng dễ hiểu hơn khái niệm về lực trong võ thuật. Các môn phái võ thuật cổ truyền Đông Phương, dù cương hay nhu, nội gia hay ngoại gia quyền, muốn sử dụng chiêu thức có hiệu quả tất cả đều phải dùng lực. Thuật ngữ diễn tả cho khái niệm lực ấy trong võ thuật gọi là “kình”. Kình thường gắn liền với nhiều huyền thoại võ công của các cao thủ bởi tính cách hiệu quả kỳ bí của nó.

    Người xưa nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không”, ý nghĩa đó ngầm nhắc đến công phu của kình, một sức mạnh tiềm ẩn bên trong mà chỉ có ai dày công luyện tập mới đạt được kết quả. Nếu không có lực thì các chiêu thức võ thuật dù có tuyệt nghệ đến đâu cũng chỉ là đơn điệu thuần cơ học. Đó là lý do cho thấy có những bậc thầy sử dụng đòn thế tuy ít nhưng hiệu quả rất cao và độ sát thương gây cho đối phương không lường được là vì phát huy được lực trong dụng võ.



    Khái niệm về kình trong võ thuật cổ truyền Đông Phương chính là lực tạo ra do khí đi vào hệ cơ bắp trong một cơ chế sinh học đặc biệt và lực lại là hệ quả tất yếu của quá trình phát kình với các hiệu ứng mang tính vật lý, đó là tạo ra áp lực lên đối tượng và gây ra tác động ớ các mức độ và mục đích khác nhau. Nói một cách dễ hiểu là đòn đánh ra có một sức xuyên phá lớn làm cho đối phương bị chấn thương. Theo nhiều tài liệu võ thuật, có một số nguyên tắc cơ bản chung để phát huy lực pháp. Bất luận công việc gì, môn học nào, muốn có kết quả cũng đều đòi hỏi phải có công phu. Lý thuyết về sức mạnh của các chuyên gia võ học là sự phối hợp của nhiều yếu tố sau đây:

    - Khối lượng và điểm tiếp xúc: Vật tiến công có trọng lượng càng lớn, sức mạnh xúc tác càng cao và điểm tiếp xúc của vật càng nhỏ thì sức xuyên phá càng lớn.

    - Tập trung tinh thần: Đây là yếu tố không kém phần quan trọng bởi nếu tinh thần không tập trung được thì dễ bị tản lực khi ra đòn.

    - Sự thăng bàng: Giữ vững trọng tâm cơ thể khi phát đòn sẽ giúp cho lực tập trung không bị phát tán.

    - Kiểm soát hơi thở: Hơi thở có một vị trí quan trọng trong nguyên tắc phát lực, nhờ vào vận khí đúng lúc mà sức công phá của đòn tăng lên gấp bội và khả năng duy trì được sức bền.

    - Kết cấu cơ thể: Cơ thể có cấu trúc tốt sẽ thuận lợi trong việc luyện tập và phát huy hiệu quả phát lực, điều này do bẩm sinh hoặc do kết cấu giữa việc luyện tập và chế độ dinh dưỡng.

    - Gia tốc: Theo nguyên tắc vật lý, gia tốc tỷ lệ thuận với tốc độ, vì vậy đòn nào có gia tốc càng lớn thì sức tiêm kích của đòn ấy càng mạnh.

    Võ sư Trương Văn Bảo

    Lực pháp trong võ thuật ý nghãi và tầm quan trọng trong luyện võ

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Lực có nghĩa là sức lực, sức mạnh tiềm ẩn bên trong cơ thể. Khái niệm về lực theo khoa học vật lý có phần rõ ràng dễ hiểu hơn khái niệm về lực trong võ thuật. Các môn phái võ thuật cổ truyền Đông Phương, dù cương hay nhu, nội gia hay ngoại gia quyền, muốn sử dụng chiêu thức có hiệu quả tất cả đều phải dùng lực. Thuật ngữ diễn tả cho khái niệm lực ấy trong võ thuật gọi là “kình”. Kình thường gắn liền với nhiều huyền thoại võ công của các cao thủ bởi tính cách hiệu quả kỳ bí của nó.

    Người xưa nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không”, ý nghĩa đó ngầm nhắc đến công phu của kình, một sức mạnh tiềm ẩn bên trong mà chỉ có ai dày công luyện tập mới đạt được kết quả. Nếu không có lực thì các chiêu thức võ thuật dù có tuyệt nghệ đến đâu cũng chỉ là đơn điệu thuần cơ học. Đó là lý do cho thấy có những bậc thầy sử dụng đòn thế tuy ít nhưng hiệu quả rất cao và độ sát thương gây cho đối phương không lường được là vì phát huy được lực trong dụng võ.



    Khái niệm về kình trong võ thuật cổ truyền Đông Phương chính là lực tạo ra do khí đi vào hệ cơ bắp trong một cơ chế sinh học đặc biệt và lực lại là hệ quả tất yếu của quá trình phát kình với các hiệu ứng mang tính vật lý, đó là tạo ra áp lực lên đối tượng và gây ra tác động ớ các mức độ và mục đích khác nhau. Nói một cách dễ hiểu là đòn đánh ra có một sức xuyên phá lớn làm cho đối phương bị chấn thương. Theo nhiều tài liệu võ thuật, có một số nguyên tắc cơ bản chung để phát huy lực pháp. Bất luận công việc gì, môn học nào, muốn có kết quả cũng đều đòi hỏi phải có công phu. Lý thuyết về sức mạnh của các chuyên gia võ học là sự phối hợp của nhiều yếu tố sau đây:

    - Khối lượng và điểm tiếp xúc: Vật tiến công có trọng lượng càng lớn, sức mạnh xúc tác càng cao và điểm tiếp xúc của vật càng nhỏ thì sức xuyên phá càng lớn.

    - Tập trung tinh thần: Đây là yếu tố không kém phần quan trọng bởi nếu tinh thần không tập trung được thì dễ bị tản lực khi ra đòn.

    - Sự thăng bàng: Giữ vững trọng tâm cơ thể khi phát đòn sẽ giúp cho lực tập trung không bị phát tán.

    - Kiểm soát hơi thở: Hơi thở có một vị trí quan trọng trong nguyên tắc phát lực, nhờ vào vận khí đúng lúc mà sức công phá của đòn tăng lên gấp bội và khả năng duy trì được sức bền.

    - Kết cấu cơ thể: Cơ thể có cấu trúc tốt sẽ thuận lợi trong việc luyện tập và phát huy hiệu quả phát lực, điều này do bẩm sinh hoặc do kết cấu giữa việc luyện tập và chế độ dinh dưỡng.

    - Gia tốc: Theo nguyên tắc vật lý, gia tốc tỷ lệ thuận với tốc độ, vì vậy đòn nào có gia tốc càng lớn thì sức tiêm kích của đòn ấy càng mạnh.

    Võ sư Trương Văn Bảo

    Không hứng thú tập luyện: Một số người cho rằng, tập luyện chẳng có gì thú vị, thường phải đối mặt những thiết bị tập luyện, khô khốc, lạnh lùng. Các chuyên gia kiến nghị: nên tập luyện cùng với bạn bè và người thân, như cùng nhau xem phim hoặc ăn cơm vậy.

    Vội về hiệu quả: Rất nhiều người hy vọng chỉ cần tập luyện ít mà có thể thu được hiệu quả rõ rệt. Chuyên gia kiến nghị tiêu chuẩn tập luyện là mỗi tuần tập từ 3 tiếng rưỡi đến 4 tiếng đồng hồ để đề phòng lên cân. Nếu bạn muốn giảm béo, mỗi lần cần đi bộ 30 phút, một tuần 3 lần, như vậy, trong điều kịên vẫn giữ lượng ăn uống bình thường, muốn giảm 0,5 cân cần khoảng một tháng. Bởi vậy, muốn giảm béo càng nhanh, thì cần phải tăng lượng tập luyện.
    “Dũng sĩ điên cuồng”vào cuối tuần: Nếu bình thường bạn không đi tập, mà tập luyện hết mình trong 2 ngày vào cuối tuần, thì mục tiêu của bạn sẽ mãi mãi không thể thực hiện được, hơn nữa đến thứ 2 hàng tuần, bạn sẽ cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Kiểu”tập luyện” thái quá này chỉ có gây chấn thương cơ thể và dẫn đến mệt mỏi toàn thân mà thôi.


    Khởi động quá mạnh: Bất cứ tập luyện trên máy chạy trong nhà hay là trên thiết bị tập luyện tại trung tâm thể hình, một trong những sai lầm thường mắc phải là “đầu voi đuôi chuột”, tức tập luyện quá mạnh trong thời gian khởi động ngắn ngủi. Những cách tập luyện quá mạnh khi vừa khởi động này rất dễ làm cho cơ thể bị thương. Chuyên gia kiến nghị: phải đặt chương trình tập luyện lâu dài từ từ kiên trì và thiết thực cùng với những huấn luyện viên chuyên nghiệp.

    Những sai lầm thường bị bỏ qua trong tập luyện:

    Bỏ phần khởi động: Nếu không khởi động trước khi tập, thì chẳng khác nào sự vận động đột ngột trong khi ô-xy và máu chưa kịp đi tới các bộ phận cơ bắp trên cơ thể. Như vậy sẽ tăng thêm nguy cơ chấn thương cơ thể. Trong khi tập luyện chức năng tim phổi, thực ra là khiến nhịp tim tăng vọt, điều này hết sức nguy hiểm. Bởi vì trước khi tập luyện chính thức, phải dùng 5 đến 10 phút để khởi động, làm cho cả cơ thể đều “nóng” lên.



    Bỏ phần phục hồi sức sau tập luyện: Sau khi kết thúc tập luyện, không được ngừng lại đột ngột. Phục hồi sức sau tập luyện có thể giảm nguy cơ chấn thương cơ bắp. Nguyên nhân là phục hồi sức sau tập luyện đóng vai trò “cọ rửa” đối với chất A-xít Lác-tích trong cơ thể. Chuyên gia kiến nghị: trước khi kết thúc tập luyện, tốt nhất phải căn cứ theo tình hình cơ thể cá nhân, bỏ ra từ 5 đến 10 phút vận động nhẹ nhàng, để khiến nhịp tim trở lại bình thường.

    Bỏ qua phần bổ xung nước: cơ bắp co lại rất cần nước, cho nên nếu bạn không uống đủ nước, thì sẽ dễ dẫn đến cơ thể co giật hoặc đau. Trước khi tập luyện, trong khi tập luyện và sau khi tập luyện đều cần bổ sung nước. Nếu bạn không thuộc về thể chất này, thì không cần uống những nước uống đặc biệt. Đối với tuyệt đại đa số người mà nói, nước trắng là nước uống tốt nhất./.

    Phạm Đình Hoan

    Những sai lầm dễ mắc phải khi tập luyện võ thuật

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Không hứng thú tập luyện: Một số người cho rằng, tập luyện chẳng có gì thú vị, thường phải đối mặt những thiết bị tập luyện, khô khốc, lạnh lùng. Các chuyên gia kiến nghị: nên tập luyện cùng với bạn bè và người thân, như cùng nhau xem phim hoặc ăn cơm vậy.

    Vội về hiệu quả: Rất nhiều người hy vọng chỉ cần tập luyện ít mà có thể thu được hiệu quả rõ rệt. Chuyên gia kiến nghị tiêu chuẩn tập luyện là mỗi tuần tập từ 3 tiếng rưỡi đến 4 tiếng đồng hồ để đề phòng lên cân. Nếu bạn muốn giảm béo, mỗi lần cần đi bộ 30 phút, một tuần 3 lần, như vậy, trong điều kịên vẫn giữ lượng ăn uống bình thường, muốn giảm 0,5 cân cần khoảng một tháng. Bởi vậy, muốn giảm béo càng nhanh, thì cần phải tăng lượng tập luyện.
    “Dũng sĩ điên cuồng”vào cuối tuần: Nếu bình thường bạn không đi tập, mà tập luyện hết mình trong 2 ngày vào cuối tuần, thì mục tiêu của bạn sẽ mãi mãi không thể thực hiện được, hơn nữa đến thứ 2 hàng tuần, bạn sẽ cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Kiểu”tập luyện” thái quá này chỉ có gây chấn thương cơ thể và dẫn đến mệt mỏi toàn thân mà thôi.


    Khởi động quá mạnh: Bất cứ tập luyện trên máy chạy trong nhà hay là trên thiết bị tập luyện tại trung tâm thể hình, một trong những sai lầm thường mắc phải là “đầu voi đuôi chuột”, tức tập luyện quá mạnh trong thời gian khởi động ngắn ngủi. Những cách tập luyện quá mạnh khi vừa khởi động này rất dễ làm cho cơ thể bị thương. Chuyên gia kiến nghị: phải đặt chương trình tập luyện lâu dài từ từ kiên trì và thiết thực cùng với những huấn luyện viên chuyên nghiệp.

    Những sai lầm thường bị bỏ qua trong tập luyện:

    Bỏ phần khởi động: Nếu không khởi động trước khi tập, thì chẳng khác nào sự vận động đột ngột trong khi ô-xy và máu chưa kịp đi tới các bộ phận cơ bắp trên cơ thể. Như vậy sẽ tăng thêm nguy cơ chấn thương cơ thể. Trong khi tập luyện chức năng tim phổi, thực ra là khiến nhịp tim tăng vọt, điều này hết sức nguy hiểm. Bởi vì trước khi tập luyện chính thức, phải dùng 5 đến 10 phút để khởi động, làm cho cả cơ thể đều “nóng” lên.



    Bỏ phần phục hồi sức sau tập luyện: Sau khi kết thúc tập luyện, không được ngừng lại đột ngột. Phục hồi sức sau tập luyện có thể giảm nguy cơ chấn thương cơ bắp. Nguyên nhân là phục hồi sức sau tập luyện đóng vai trò “cọ rửa” đối với chất A-xít Lác-tích trong cơ thể. Chuyên gia kiến nghị: trước khi kết thúc tập luyện, tốt nhất phải căn cứ theo tình hình cơ thể cá nhân, bỏ ra từ 5 đến 10 phút vận động nhẹ nhàng, để khiến nhịp tim trở lại bình thường.

    Bỏ qua phần bổ xung nước: cơ bắp co lại rất cần nước, cho nên nếu bạn không uống đủ nước, thì sẽ dễ dẫn đến cơ thể co giật hoặc đau. Trước khi tập luyện, trong khi tập luyện và sau khi tập luyện đều cần bổ sung nước. Nếu bạn không thuộc về thể chất này, thì không cần uống những nước uống đặc biệt. Đối với tuyệt đại đa số người mà nói, nước trắng là nước uống tốt nhất./.

    Phạm Đình Hoan

    Người học võ trọng tinh thần thượng võ. Chính khí là một trong những yếu tố làm nên thượng võ. Người thượng võ có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, bất khuất, kiên cường, uy dũng, liêm sỉ, chính trực… Khoa học quân sự nhận định: Hỏa lực, quân số, kỹ thuật tác chiến chỉ giữ được nửa phần quyết định chiến trường, phân nửa còn lại thuộc về chính khí, có dám quyết chiến và làm chủ trận đánh hay không. Võ thuật cũng như khoa học quân sự: Thể lực, kỹ chiến thuật là một nửa, phân nửa còn lại là tinh thần bất khuất.

    b0abbd2394vd07.jpg Chính khí

    Ảnh minh họa

    Lịch sử chứng minh những võ tướng trung kiên, chân thực đều là người chính khí. Đặng Đức Siêu (1751 – 1810) trong bài văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu có viết: “…Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí…” (tân khổ là cay đắng, có nghĩa là thuốc độc. Uống thuốc độc chết để bảo toàn chính khí).

    Võ thuật tồn tại qua bao thời kỳ, bao thế hệ, có lúc mưa dồn sóng dập nhưng vẫn uy vũ trường tồn giữa trời cao, biển rộng, đất dày bởi trong võ có chính khí. Để được chính khí người học võ tinh tấn rèn luyện, sửa thân tâm chính trực, có ý chí và lý tưởng.

    1. VÕ TƯỚNG TRẦN BÌNH TRỌNG: TINH THẦN BẤT KHUẤT

    Trần Bình Trọng (1259 – 1285), danh tướng đời Trần, sinh tại xã Bảo Thái, nay là huyện Thanh Xuân tỉnh Thanh Hóa, có lòng dũng liệt hơn người. Ngày 21 tháng Giêng năm Ất Dậu (Trùng Hưng thứ I), ông cầm quân đánh giặc, bị bắt rồi hy sinh khi chặn giặc ở bãi Thiên Mạc trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, được truy phong tước Bảo Nghĩa Vương.

    Sử chép: Trần Bình Trọng bị bắt, tướng Nguyên là Thoát Hoan biết ông là tướng tài, tìm mọi cách khai thác, dụ hàng nhưng ông kiên quyết không khuất phục. Khi được hỏi có muốn làm vương đất Bắc không, Trần Bình Trọng đã khẳng khái trả lời: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Trần Bình Trọng bị quân Nguyên giết, năm đó ông 26 tuổi.

    Phan Kế Bính trong “Truyện Hưng Đạo” có thơ vịnh tinh thần bất khuất của danh tướng Trần Bình Trọng như sau:

    Giỏi thay Trần Bình Trọng!
    Dòng dõi Lê Đại Hành,
    Đánh giặc dư tài mạnh,
    Thờ vua một tiết trung,
    Bắc vương sống mà nhục,
    Nam quỷ thác cũng vinh,
    Cứng cỏi lòng trung nghĩa,
    Ngàn thu tỏ đại danh.

    2. VÕ TƯỚNG HOÀNG DIỆU: QUYẾT TỬ VỚI HÀ THÀNH

    Hoàng Diệu (1828 – 1882), người quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi bị Pháp tấn công năm 1882. Tên thật của ông là Hoàng Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai, sinh ngày mồng 10 tháng 2 năm Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mạng thứ X (1828) tại làng Quang Đài, huyện Diên Phước (sau đổi là huyện Điện Bàn), tỉnh Quảng Nam. Ông thi đỗ Cử nhân khoa Mậu Thân, nhằm niên hiệu Tự Đức nguyên niên năm 20 tuổi. Khoa Quý Sửu niên hiệu Tự Đức thứ VI, ông đỗ Phó bảng.

    Sau khi chiếm được Nam bộ, Pháp chuẩn bị tấn công Bắc bộ. Vua Tự Đức giao cho Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình – 1880) với chức hàm Binh bộ thượng thư kiêm cả việc Thương chính. Từ năm 1880 – 1882 ông đã ba lần dâng sớ xin triều đình chi viện để củng cố phòng tuyến chống giặc tại Hà Nội, nhưng không nhận được hồi âm từ Huế.

    Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882 tức ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, Đại tá Henri Rivière cho 4 tàu chiến áp sát thành Hà Nội, hạ tối hậu thư yêu cầu Hoàng Diệu giải giới binh linh, và hẹn 8 giờ sáng hôm ấy các quan văn võ, Tổng đốc, Tuần vũ, Bố chánh, Án sát, Đề đốc và chánh phó Lãnh binh trong thành Hà Nội phải đến nộp mình tại dinh của Henri Rivière nhưng Hoàng Diệu không nghe theo.

    8 giờ 15 phút quân Pháp bắt đầu tấn công, tàu chiến bắn yểm trợ cho 450 quân và thân binh đổ bộ chiếm thành Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu và quân dân trong thành chống giữ rất anh dũng, quyết tâm sống chết với Hà thành. Sự kháng cự quyết liệt đó đã gây nhiều thiệt hại nặng cho đối phương, Từ sự việc kho thuốc súng trong thành bị nổ gây nhiều đám cháy lớn, làm quân sĩ hoang mang cùng với sự chênh lệch về tương quan lực lượng, hỏa lực giữa đôi bên nên chỉ hơn hai giờ sau thì thành Hà Nội bị chiếm.

    Trong tình thế tuyệt vọng, dù lực lượng binh lính trong thành ngày càng yếu đi nhưng Tổng đốc Hoàng Diệu vẫn cùng quân sĩ chống lại đến giây phút cuối cùng. Khi không còn khả năng chống trả, Hoàng Diệu ra lệnh cho binh sĩ giải tán để tránh thương vong, một mình ông vào hành cung cắn ngón tay lấy máu thảo tờ di biểu tạ tội với Vua Tự Đức, rồi ra trước Võ miếu nơi cửa Bắc dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi.

    Di biểu viết: “Tướng lược phi trường, tử quí sanh nhi vô ích. Thành vong mạc cứu, túng nhiên tử hữu dư cô… Cô trung nhi thệ dữ Long thành, nguyện trùng tiên thần Nguyễn Tri Phương ư địa hạ. Sổ hàng huyết lệ, vạn lý quân môn, nguyện nhật nguyệt chi chi chiêu minh, biểu thần xích tâm nhi dĩ”. Có nghĩa là: “Làm tướng bất tài, thần tự nghĩ sống cũng vô ích, dẫu biết rằng thành mất mà có chết cũng còn có tội… Một mình thề với Long thành, thần nguyện theo gương Nguyễn Tri Phương ngày trước mà xuống nơi suối vàng. Vài dòng huyết lệ, cửa rồng muôn dặm, xin mặt trời mặt trăng soi tỏ tấm lòng son”.

    Tổng đốc Hoàng Diệu chết theo thành Hà Nội, người dân Bắc Hà và cả nước vô cùng khâm phục cảm thương; ông được thờ trong miếu Trung Nghĩa ở Huế và miếu Tam Trung ở Hà Nội. Để tưởng nhớ Hoàng Diệu, tại đền Trung Liệt trên gò Đống Đa cùng với Nguyễn Tri Phương có câu đối hai bên cổng:
    Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa
    Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên
    (Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất,
    Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh)

    Đương thời, trước tấm gương trung nghĩa sáng chói của Hoàng Diệu, danh sĩ Ba Giai tức Nguyễn Văn Giai ở Bắc Hà đã ví Hoàng Diệu với vị đại thần Nam Tống bên Trung Hoa là Văn Thiên Tường, và hết lời tán dương công nghiệp của Hoàng Diệu trong tác phẩm “Hà thành thất thủ chính khí ca”, có lời lẽ đau buồn thống thiết.

    Một cơn gió thảm mưa sầu,
    Nấu nung gan sắt, dãi dầu lòng son.
    Chữ trung còn chút cỏn con,
    Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây.
    Trời cao, biển rộng, đất dày,
    Núi Nùng, Sông Nhị, chốn này làm ghi.

    Hình ảnh Võ cổ truyền trong lịch sử Việt Nam ngàn đời soi bóng, thiên cổ lưu danh; dẫu có phải trải qua bao nhiêu cơn gió thảm mưa sầu, bao nhiêu lần bị vong tình bội nghĩa nhưng vẫn là hồn thiêng của tổ quốc, là máu xương của dân tộc. Chính khí không thể vay mượn, không thể giả danh, không thể cưỡng dụng.
    Những đặc trưng của võ cổ truyền

    1- 👉Tính thượng võ:

    Là tinh thần võ hiệp cao thượng được chắt lọc và phát triển thành nguyên lý ứng xử của giới võ học, dần dần trở thành nguyên lý ứng xử bao trùm của người Bình Định. Tinh thần thượng võ gắn liền với lòng yêu chuộng nhân đạo, tôn thờ đại nghĩa, không câu chấp tiểu tiết.

    Có thể đọc thấy điều đó qua nghĩa cử của Lía, một chàng trai nghèo đứng lên từ bùn đen của thân phận, buộc phải kiếm sống bằng nghề đạo chích. Nhưng không như kẻ cướp tầm thường, Lía trượng nghĩa ngay cả trong một hành vi mà xã hội vốn khinh rẻ: chỉ cướp những nhà giàu gian ác, của lấy được mang chia đều cho nhà nghèo khó, không yêu cầu đánh đổi một điều gì. Việc làm của Lía đã khiến xã hội phải nghĩ lại. Sau khởi nghĩa của Lía gần trăm năm là khởi nghĩa Tây Sơn, lại xuất hiện những “toán cướp” theo cách gọi của chính quyền phong kiến. Các giáo sĩ phương Tây đã ghi lại với sự ngạc nhiên không giấu diếm về bọn cướp lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo. Hiện tượng này không chỉ riêng Bình Định mới có, nhưng xét về thời điểm lịch sử, bối cảnh lịch sử và ảnh hưởng xã hội thì đây quả là cái có sớm, cái riêng, cái độc đáo của Bình Định.

    Tính thượng võ của người Bình Định biểu hiện rất đa dạng. Có khi trong cùng một thời, cùng một hoàn cảnh, nhưng quan niệm mỗi người một khác nhau, dẫn đến hành xử khác nhau. Cùng là bề tôi triều Tây Sơn, nhưng cách trả lời câu hỏi cuộc đời của mỗi người một khác. Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân , Nguyễn Quang Thuỳ và một số tướng sĩ khác bị giặc bắt, đã chọn cái chết hiên ngang giữa pháp trường chứ không đầu hàng Nguyễn Ánh. Nguyễn Văn Tuyết và vợ là Trần Thị Lan (cháu gái võ sư Trần Kim Hùng) phò vua Cảnh Thịnh chạy loạn, chiến đấu đến hơi thở cuối và hy sinh anh dũng trong vòng vây giặc. Võ Văn Dũng vượt ngục ôm ấp mưu đồ khôi phục triều Tây Sơn. Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Lộc kẻ dong ngựa ẩn thân chốn sơn khê, người lui về cầm cày nơi thảo dã. Một số võ tướng xuống tóc tu hành. Mỗi người một cách, song bất cứ sự lựa chọn nào cũng đều toát lên lòng ưu dân ái quốc, dũng khí sẵn sàng xả thân cho đại nghĩa, sự trung thành với lý tưởng, thuỷ chung với anh em bè bạn. Ở họ tuyệt đối không có tư tưởng tham sống sợ chết, hám lợi cầu vinh.

    Sau thời Tây Sơn, lãnh tụ Cần Vương Mai Xuân Thưởng ra pháp trường còn xé vạt áo, cắn ngón tay lấy máu chép bài thơ tuyệt mệnh: Chết nào có sợ chết như chơi/ Chết bởi vì dân, chết bởi đời/ Chết hiếu chi nài xương thịt nát/ Chết trung đâu kể cổ đầu rơi... Hương mục Ngạc mặc áo vải, ăn rau vườn bên dải sông Kôn, một bữa kia đọc thư của bạn là tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo, cảm khái chuyện sinh dân đại nạn liền vụt dậy gọi trai tráng đôi bờ kẻ thước người côn tham gia phong trào chống thuế để bảo vệ nhân dân bị đàn áp. Phan Thọ, Đỗ Hượt thượng đài đánh thắng võ sĩ Nam Hàn; chúng cho xe đưa quà cáp tới nhà dỗ dành thế nào cũng từ chối hợp tác, cương quyết không truyền bí quyết võ thuật của tổ tiên, dân tộc cho giặc.

    Võ nhân Bình Định, võ nhân Tây Sơn là vậy. Hành trạng có khác nhau, kết cục có khác nhau, nhưng trước câu hỏi lớn của lịch sử, tất cả có chung một câu trả lời: thực hiện đạo lý làm Người.

    2- 👉Tính dân gian:

    Thiên nhiên hàm chứa trong nó cả sự thách thức to lớn lẫn những bài học vô tận để con người quan sát, học hỏi và đúc kết thành kinh nghiệm thích nghi và tồn tại. Nguồn gốc dân gian còn in dấu trong võ cụ như cung tên, chỉa ba, bồ cào, côn (gậy), búa rìu... cho phép ta hình dung võ đã ra đời từ con đường chinh phục thiên nhiên và lao động để sinh tồn. Các thế võ dựa vào thao tác lao động: leo trèo, săn bắt hoặc mô phỏng động tác các loài động vật: bài Hùng kê quyền của Nguyễn Lữ mô phỏng từ đòn gà chọi, bài Song phượng kiếm của nữ tướng Bùi Thị Xuân mô phỏng điệu múa chim phượng; bài roi Thái Sơn bắt chước tư thế, động tác của tám con vật là rắn, lân, tê giác, thỏ, mèo, trâu, gà, hổ.

    Một số bài quyền khác cũng xuất phát từ các thế giao tranh của các con vật và dùng tên của chúng đặt luôn cho bài võ như Xà quyền (võ rắn), Hầu quyền (võ khỉ), Hùng kê quyền (võ gà chọi)...

    3 - 👉Tính bác học:

    Võ Bình Định nói chung và võ Tây Sơn nói riêng được xây dựng trên nền tảng học thuyết âm dương. Các môn quyền thuật cấu tạo bằng cương quyền và nhu quyền. Các môn binh khí được đúc kết và nâng cao trên cơ sở các động tác sử dụng các công cụ lao động sản xuất, là kết quả của một quá trình sàng lọc, lựa chọn rất công phu.

    Hai cuốn Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ (thời kỳ trước Tây Sơn) và Tây Sơn binh pháp của Huỳnh Văn Thuận (thời kỳ Tây Sơn) được xem là võ kinh của Bình Định. Các tác giả của hai cuốn võ kinh này khi biên soạn có tham khảo và kế thừa Tôn Ngô binh pháp của Tôn Tử và Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo, nhưng cốt yếu là đúc kết các nguyên lý và phép tắc của võ học Bình Định thời họ sống. Ngoài hai bộ sách chỉ còn thấy nhắc trong các thư tịch này, tại các làng võ và các gia đình võ thuật ở Bình Định, Tây Sơn còn lưu giữ khá nhiều tư liệu về võ kinh, võ lý, võ đạo, võ thuật, võ y và võ nhạc. Trong nhiều tài liệu chép tay còn có cả hình vẽ đặc tả tư thế của võ nhân kèm theo lời thiệu. Mỗi bài thiệu là một thảo võ hoàn chỉnh gồm nhiều thế liên hoàn được ghi lại dưới dạng thơ ngắn, dễ nhớ, dễ thuộc. Và riêng các bài thiệu đã là một phần di sản vô giá của võ cổ truyền Bình Định.

    4 - 👉Tính nghệ thuật:

    Nói đến võ thuật, là nói đến sự tổng hòa giữa sức mạnh và vẻ đẹp cơ thể, giữa trí lực và thần sắc, kết quả của sự lựa chọn, sàng lọc để duy trì tinh hoa nghề võ.

    Một đặc điểm của võ Bình Định - Tây Sơn cổ truyền là khi đánh, giữ cho chân không rời khỏi mặt đất - “túc bất ly địa”. Đây cũng có thể coi là một trong những điểm làm nên cái riêng, tiêu chí phân biệt võ Bình Định – Tây Sơn với các dòng võ khác.

    Võ Bình Định, Tây Sơn gắn liền với các bài thiệu và nhạc võ. Những bài thiệu võ không đơn giản chỉ dùng để thuyết minh cho từng phân thế võ trong bài thảo, mà ẩn trong đó là những hàm ý sâu xa của các bậc tiền nhân để lại cho đời sau, không phải ai cũng nhận ra và hiểu được. Nếu lời thiệu giúp võ sinh đánh không lạc chiêu thức, thì nhạc võ trong luyện tập điều hoà tiết tấu của chiêu thức. Trong trận mạc, nhạc võ là tiếng núi sông kêu gọi ba quân tiến bước, là hiệu lệnh thúc giục tướng sĩ xung phong phá luỹ công thành, là khúc hoan ca mừng chiến thắng. Tất cả cung bậc bi tráng - hào hùng, khoan thai - bão táp truyền thẳng vào trái tim khối óc người nghe. Đặc biệt môn kỳ võ (múa cờ) ngoài tác dụng điều khiển trận đánh theo hiệu lệnh của người chỉ huy, còn có hiệu quả thẩm mỹ rất lớn. Lá cờ phấp phới trước hàng quân như niềm kiêu hãnh thiêng liêng, thổi bùng ngọn lửa tình yêu quê hương đất nước trong mỗi người. Ngày nay, nhạc võ và kỳ võ đã trở thành những tiết mục trình diễn mang tính nghệ thuật cao, được xếp vào danh mục “đặc sản văn hoá” của Đất Võ, lôi cuốn và làm rung động biết bao thế hệ.
    Võ sư Trương Văn Bảo

    Chính khí - tinh thần thượng võ

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Người học võ trọng tinh thần thượng võ. Chính khí là một trong những yếu tố làm nên thượng võ. Người thượng võ có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, bất khuất, kiên cường, uy dũng, liêm sỉ, chính trực… Khoa học quân sự nhận định: Hỏa lực, quân số, kỹ thuật tác chiến chỉ giữ được nửa phần quyết định chiến trường, phân nửa còn lại thuộc về chính khí, có dám quyết chiến và làm chủ trận đánh hay không. Võ thuật cũng như khoa học quân sự: Thể lực, kỹ chiến thuật là một nửa, phân nửa còn lại là tinh thần bất khuất.

    b0abbd2394vd07.jpg Chính khí

    Ảnh minh họa

    Lịch sử chứng minh những võ tướng trung kiên, chân thực đều là người chính khí. Đặng Đức Siêu (1751 – 1810) trong bài văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu có viết: “…Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí…” (tân khổ là cay đắng, có nghĩa là thuốc độc. Uống thuốc độc chết để bảo toàn chính khí).

    Võ thuật tồn tại qua bao thời kỳ, bao thế hệ, có lúc mưa dồn sóng dập nhưng vẫn uy vũ trường tồn giữa trời cao, biển rộng, đất dày bởi trong võ có chính khí. Để được chính khí người học võ tinh tấn rèn luyện, sửa thân tâm chính trực, có ý chí và lý tưởng.

    1. VÕ TƯỚNG TRẦN BÌNH TRỌNG: TINH THẦN BẤT KHUẤT

    Trần Bình Trọng (1259 – 1285), danh tướng đời Trần, sinh tại xã Bảo Thái, nay là huyện Thanh Xuân tỉnh Thanh Hóa, có lòng dũng liệt hơn người. Ngày 21 tháng Giêng năm Ất Dậu (Trùng Hưng thứ I), ông cầm quân đánh giặc, bị bắt rồi hy sinh khi chặn giặc ở bãi Thiên Mạc trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, được truy phong tước Bảo Nghĩa Vương.

    Sử chép: Trần Bình Trọng bị bắt, tướng Nguyên là Thoát Hoan biết ông là tướng tài, tìm mọi cách khai thác, dụ hàng nhưng ông kiên quyết không khuất phục. Khi được hỏi có muốn làm vương đất Bắc không, Trần Bình Trọng đã khẳng khái trả lời: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Trần Bình Trọng bị quân Nguyên giết, năm đó ông 26 tuổi.

    Phan Kế Bính trong “Truyện Hưng Đạo” có thơ vịnh tinh thần bất khuất của danh tướng Trần Bình Trọng như sau:

    Giỏi thay Trần Bình Trọng!
    Dòng dõi Lê Đại Hành,
    Đánh giặc dư tài mạnh,
    Thờ vua một tiết trung,
    Bắc vương sống mà nhục,
    Nam quỷ thác cũng vinh,
    Cứng cỏi lòng trung nghĩa,
    Ngàn thu tỏ đại danh.

    2. VÕ TƯỚNG HOÀNG DIỆU: QUYẾT TỬ VỚI HÀ THÀNH

    Hoàng Diệu (1828 – 1882), người quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi bị Pháp tấn công năm 1882. Tên thật của ông là Hoàng Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai, sinh ngày mồng 10 tháng 2 năm Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mạng thứ X (1828) tại làng Quang Đài, huyện Diên Phước (sau đổi là huyện Điện Bàn), tỉnh Quảng Nam. Ông thi đỗ Cử nhân khoa Mậu Thân, nhằm niên hiệu Tự Đức nguyên niên năm 20 tuổi. Khoa Quý Sửu niên hiệu Tự Đức thứ VI, ông đỗ Phó bảng.

    Sau khi chiếm được Nam bộ, Pháp chuẩn bị tấn công Bắc bộ. Vua Tự Đức giao cho Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình – 1880) với chức hàm Binh bộ thượng thư kiêm cả việc Thương chính. Từ năm 1880 – 1882 ông đã ba lần dâng sớ xin triều đình chi viện để củng cố phòng tuyến chống giặc tại Hà Nội, nhưng không nhận được hồi âm từ Huế.

    Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882 tức ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, Đại tá Henri Rivière cho 4 tàu chiến áp sát thành Hà Nội, hạ tối hậu thư yêu cầu Hoàng Diệu giải giới binh linh, và hẹn 8 giờ sáng hôm ấy các quan văn võ, Tổng đốc, Tuần vũ, Bố chánh, Án sát, Đề đốc và chánh phó Lãnh binh trong thành Hà Nội phải đến nộp mình tại dinh của Henri Rivière nhưng Hoàng Diệu không nghe theo.

    8 giờ 15 phút quân Pháp bắt đầu tấn công, tàu chiến bắn yểm trợ cho 450 quân và thân binh đổ bộ chiếm thành Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu và quân dân trong thành chống giữ rất anh dũng, quyết tâm sống chết với Hà thành. Sự kháng cự quyết liệt đó đã gây nhiều thiệt hại nặng cho đối phương, Từ sự việc kho thuốc súng trong thành bị nổ gây nhiều đám cháy lớn, làm quân sĩ hoang mang cùng với sự chênh lệch về tương quan lực lượng, hỏa lực giữa đôi bên nên chỉ hơn hai giờ sau thì thành Hà Nội bị chiếm.

    Trong tình thế tuyệt vọng, dù lực lượng binh lính trong thành ngày càng yếu đi nhưng Tổng đốc Hoàng Diệu vẫn cùng quân sĩ chống lại đến giây phút cuối cùng. Khi không còn khả năng chống trả, Hoàng Diệu ra lệnh cho binh sĩ giải tán để tránh thương vong, một mình ông vào hành cung cắn ngón tay lấy máu thảo tờ di biểu tạ tội với Vua Tự Đức, rồi ra trước Võ miếu nơi cửa Bắc dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi.

    Di biểu viết: “Tướng lược phi trường, tử quí sanh nhi vô ích. Thành vong mạc cứu, túng nhiên tử hữu dư cô… Cô trung nhi thệ dữ Long thành, nguyện trùng tiên thần Nguyễn Tri Phương ư địa hạ. Sổ hàng huyết lệ, vạn lý quân môn, nguyện nhật nguyệt chi chi chiêu minh, biểu thần xích tâm nhi dĩ”. Có nghĩa là: “Làm tướng bất tài, thần tự nghĩ sống cũng vô ích, dẫu biết rằng thành mất mà có chết cũng còn có tội… Một mình thề với Long thành, thần nguyện theo gương Nguyễn Tri Phương ngày trước mà xuống nơi suối vàng. Vài dòng huyết lệ, cửa rồng muôn dặm, xin mặt trời mặt trăng soi tỏ tấm lòng son”.

    Tổng đốc Hoàng Diệu chết theo thành Hà Nội, người dân Bắc Hà và cả nước vô cùng khâm phục cảm thương; ông được thờ trong miếu Trung Nghĩa ở Huế và miếu Tam Trung ở Hà Nội. Để tưởng nhớ Hoàng Diệu, tại đền Trung Liệt trên gò Đống Đa cùng với Nguyễn Tri Phương có câu đối hai bên cổng:
    Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa
    Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên
    (Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất,
    Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh)

    Đương thời, trước tấm gương trung nghĩa sáng chói của Hoàng Diệu, danh sĩ Ba Giai tức Nguyễn Văn Giai ở Bắc Hà đã ví Hoàng Diệu với vị đại thần Nam Tống bên Trung Hoa là Văn Thiên Tường, và hết lời tán dương công nghiệp của Hoàng Diệu trong tác phẩm “Hà thành thất thủ chính khí ca”, có lời lẽ đau buồn thống thiết.

    Một cơn gió thảm mưa sầu,
    Nấu nung gan sắt, dãi dầu lòng son.
    Chữ trung còn chút cỏn con,
    Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây.
    Trời cao, biển rộng, đất dày,
    Núi Nùng, Sông Nhị, chốn này làm ghi.

    Hình ảnh Võ cổ truyền trong lịch sử Việt Nam ngàn đời soi bóng, thiên cổ lưu danh; dẫu có phải trải qua bao nhiêu cơn gió thảm mưa sầu, bao nhiêu lần bị vong tình bội nghĩa nhưng vẫn là hồn thiêng của tổ quốc, là máu xương của dân tộc. Chính khí không thể vay mượn, không thể giả danh, không thể cưỡng dụng.
    Những đặc trưng của võ cổ truyền

    1- 👉Tính thượng võ:

    Là tinh thần võ hiệp cao thượng được chắt lọc và phát triển thành nguyên lý ứng xử của giới võ học, dần dần trở thành nguyên lý ứng xử bao trùm của người Bình Định. Tinh thần thượng võ gắn liền với lòng yêu chuộng nhân đạo, tôn thờ đại nghĩa, không câu chấp tiểu tiết.

    Có thể đọc thấy điều đó qua nghĩa cử của Lía, một chàng trai nghèo đứng lên từ bùn đen của thân phận, buộc phải kiếm sống bằng nghề đạo chích. Nhưng không như kẻ cướp tầm thường, Lía trượng nghĩa ngay cả trong một hành vi mà xã hội vốn khinh rẻ: chỉ cướp những nhà giàu gian ác, của lấy được mang chia đều cho nhà nghèo khó, không yêu cầu đánh đổi một điều gì. Việc làm của Lía đã khiến xã hội phải nghĩ lại. Sau khởi nghĩa của Lía gần trăm năm là khởi nghĩa Tây Sơn, lại xuất hiện những “toán cướp” theo cách gọi của chính quyền phong kiến. Các giáo sĩ phương Tây đã ghi lại với sự ngạc nhiên không giấu diếm về bọn cướp lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo. Hiện tượng này không chỉ riêng Bình Định mới có, nhưng xét về thời điểm lịch sử, bối cảnh lịch sử và ảnh hưởng xã hội thì đây quả là cái có sớm, cái riêng, cái độc đáo của Bình Định.

    Tính thượng võ của người Bình Định biểu hiện rất đa dạng. Có khi trong cùng một thời, cùng một hoàn cảnh, nhưng quan niệm mỗi người một khác nhau, dẫn đến hành xử khác nhau. Cùng là bề tôi triều Tây Sơn, nhưng cách trả lời câu hỏi cuộc đời của mỗi người một khác. Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân , Nguyễn Quang Thuỳ và một số tướng sĩ khác bị giặc bắt, đã chọn cái chết hiên ngang giữa pháp trường chứ không đầu hàng Nguyễn Ánh. Nguyễn Văn Tuyết và vợ là Trần Thị Lan (cháu gái võ sư Trần Kim Hùng) phò vua Cảnh Thịnh chạy loạn, chiến đấu đến hơi thở cuối và hy sinh anh dũng trong vòng vây giặc. Võ Văn Dũng vượt ngục ôm ấp mưu đồ khôi phục triều Tây Sơn. Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Lộc kẻ dong ngựa ẩn thân chốn sơn khê, người lui về cầm cày nơi thảo dã. Một số võ tướng xuống tóc tu hành. Mỗi người một cách, song bất cứ sự lựa chọn nào cũng đều toát lên lòng ưu dân ái quốc, dũng khí sẵn sàng xả thân cho đại nghĩa, sự trung thành với lý tưởng, thuỷ chung với anh em bè bạn. Ở họ tuyệt đối không có tư tưởng tham sống sợ chết, hám lợi cầu vinh.

    Sau thời Tây Sơn, lãnh tụ Cần Vương Mai Xuân Thưởng ra pháp trường còn xé vạt áo, cắn ngón tay lấy máu chép bài thơ tuyệt mệnh: Chết nào có sợ chết như chơi/ Chết bởi vì dân, chết bởi đời/ Chết hiếu chi nài xương thịt nát/ Chết trung đâu kể cổ đầu rơi... Hương mục Ngạc mặc áo vải, ăn rau vườn bên dải sông Kôn, một bữa kia đọc thư của bạn là tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo, cảm khái chuyện sinh dân đại nạn liền vụt dậy gọi trai tráng đôi bờ kẻ thước người côn tham gia phong trào chống thuế để bảo vệ nhân dân bị đàn áp. Phan Thọ, Đỗ Hượt thượng đài đánh thắng võ sĩ Nam Hàn; chúng cho xe đưa quà cáp tới nhà dỗ dành thế nào cũng từ chối hợp tác, cương quyết không truyền bí quyết võ thuật của tổ tiên, dân tộc cho giặc.

    Võ nhân Bình Định, võ nhân Tây Sơn là vậy. Hành trạng có khác nhau, kết cục có khác nhau, nhưng trước câu hỏi lớn của lịch sử, tất cả có chung một câu trả lời: thực hiện đạo lý làm Người.

    2- 👉Tính dân gian:

    Thiên nhiên hàm chứa trong nó cả sự thách thức to lớn lẫn những bài học vô tận để con người quan sát, học hỏi và đúc kết thành kinh nghiệm thích nghi và tồn tại. Nguồn gốc dân gian còn in dấu trong võ cụ như cung tên, chỉa ba, bồ cào, côn (gậy), búa rìu... cho phép ta hình dung võ đã ra đời từ con đường chinh phục thiên nhiên và lao động để sinh tồn. Các thế võ dựa vào thao tác lao động: leo trèo, săn bắt hoặc mô phỏng động tác các loài động vật: bài Hùng kê quyền của Nguyễn Lữ mô phỏng từ đòn gà chọi, bài Song phượng kiếm của nữ tướng Bùi Thị Xuân mô phỏng điệu múa chim phượng; bài roi Thái Sơn bắt chước tư thế, động tác của tám con vật là rắn, lân, tê giác, thỏ, mèo, trâu, gà, hổ.

    Một số bài quyền khác cũng xuất phát từ các thế giao tranh của các con vật và dùng tên của chúng đặt luôn cho bài võ như Xà quyền (võ rắn), Hầu quyền (võ khỉ), Hùng kê quyền (võ gà chọi)...

    3 - 👉Tính bác học:

    Võ Bình Định nói chung và võ Tây Sơn nói riêng được xây dựng trên nền tảng học thuyết âm dương. Các môn quyền thuật cấu tạo bằng cương quyền và nhu quyền. Các môn binh khí được đúc kết và nâng cao trên cơ sở các động tác sử dụng các công cụ lao động sản xuất, là kết quả của một quá trình sàng lọc, lựa chọn rất công phu.

    Hai cuốn Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ (thời kỳ trước Tây Sơn) và Tây Sơn binh pháp của Huỳnh Văn Thuận (thời kỳ Tây Sơn) được xem là võ kinh của Bình Định. Các tác giả của hai cuốn võ kinh này khi biên soạn có tham khảo và kế thừa Tôn Ngô binh pháp của Tôn Tử và Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo, nhưng cốt yếu là đúc kết các nguyên lý và phép tắc của võ học Bình Định thời họ sống. Ngoài hai bộ sách chỉ còn thấy nhắc trong các thư tịch này, tại các làng võ và các gia đình võ thuật ở Bình Định, Tây Sơn còn lưu giữ khá nhiều tư liệu về võ kinh, võ lý, võ đạo, võ thuật, võ y và võ nhạc. Trong nhiều tài liệu chép tay còn có cả hình vẽ đặc tả tư thế của võ nhân kèm theo lời thiệu. Mỗi bài thiệu là một thảo võ hoàn chỉnh gồm nhiều thế liên hoàn được ghi lại dưới dạng thơ ngắn, dễ nhớ, dễ thuộc. Và riêng các bài thiệu đã là một phần di sản vô giá của võ cổ truyền Bình Định.

    4 - 👉Tính nghệ thuật:

    Nói đến võ thuật, là nói đến sự tổng hòa giữa sức mạnh và vẻ đẹp cơ thể, giữa trí lực và thần sắc, kết quả của sự lựa chọn, sàng lọc để duy trì tinh hoa nghề võ.

    Một đặc điểm của võ Bình Định - Tây Sơn cổ truyền là khi đánh, giữ cho chân không rời khỏi mặt đất - “túc bất ly địa”. Đây cũng có thể coi là một trong những điểm làm nên cái riêng, tiêu chí phân biệt võ Bình Định – Tây Sơn với các dòng võ khác.

    Võ Bình Định, Tây Sơn gắn liền với các bài thiệu và nhạc võ. Những bài thiệu võ không đơn giản chỉ dùng để thuyết minh cho từng phân thế võ trong bài thảo, mà ẩn trong đó là những hàm ý sâu xa của các bậc tiền nhân để lại cho đời sau, không phải ai cũng nhận ra và hiểu được. Nếu lời thiệu giúp võ sinh đánh không lạc chiêu thức, thì nhạc võ trong luyện tập điều hoà tiết tấu của chiêu thức. Trong trận mạc, nhạc võ là tiếng núi sông kêu gọi ba quân tiến bước, là hiệu lệnh thúc giục tướng sĩ xung phong phá luỹ công thành, là khúc hoan ca mừng chiến thắng. Tất cả cung bậc bi tráng - hào hùng, khoan thai - bão táp truyền thẳng vào trái tim khối óc người nghe. Đặc biệt môn kỳ võ (múa cờ) ngoài tác dụng điều khiển trận đánh theo hiệu lệnh của người chỉ huy, còn có hiệu quả thẩm mỹ rất lớn. Lá cờ phấp phới trước hàng quân như niềm kiêu hãnh thiêng liêng, thổi bùng ngọn lửa tình yêu quê hương đất nước trong mỗi người. Ngày nay, nhạc võ và kỳ võ đã trở thành những tiết mục trình diễn mang tính nghệ thuật cao, được xếp vào danh mục “đặc sản văn hoá” của Đất Võ, lôi cuốn và làm rung động biết bao thế hệ.
    Võ sư Trương Văn Bảo

    Võ đức là phẩm chất cao quý của người học võ, dạy võ; là hành trang không thể thiếu của người dụng võ. Cổ nhân dạy rằng: “Tập võ chi Đạo có thể được cường thân, mẫn trí. Một người tập võ thì được cường thân, một nhà tập võ thì được cường tộc. Đường lối của võ thuật trước tiên là phải trọng võ đức, muốn có võ đức phải hiểu rõ công lý, muốn hiểu rõ công lý thì phải có học vấn.” Võ thuật là môn học của khoa học, nghệ thuật, văn hoá truyền thống…

    Võ là khoa học, nghệ thuật vì võ dạy cho con người pháp luyện thân tăng cường sức khoẻ, ngăn ngừa bệnh tật theo khoa học giáo dục thể chất, cùng nghệ thuật thần kỳ nuôi dưỡng tinh, khí, thần và nghệ thuật tự vệ, chiến đấu. Khoa học võ thuật đích thực có các nguyên lý cấu thành và liên hệ mật thiết với những khoa học tương cận như vật lý học, sinh học, y học, quân sự…, đặc biệt là triết học Đông phương.


    Võ là văn hóa truyền thống vì võ dạy cho người học biết nuôi dưỡng nhân tính, rèn luyện nhân cách, tu dưỡng đạo đức làm người. Việc luyện tập võ thuật là một cuộc trường chinh để tự thắng chính mình, trên tinh thần giản dị, khiêm tốn, điềm đạm, đạt đến Chân-Thiện-Mỹ trong cuộc sống. Võ thuật không chỉ là loại hình vận động thể dục thể thao giản đơn mà còn là văn hoá thượng võ tôn sư trọng đạo. Đó là võ đức. Chỉ có những ai không đi hết trọn con đường mới phải tự quảng cáo, khoe khoang, biện bạch.

    Tuy đặc thù võ thuật là chiến đấu nhưng tập võ còn là phương pháp tốt để nâng cao sức khỏe, qua đó học được nhiều đức tính quý báu như bền bỉ, chịu đựng, nhanh nhẹn, mưu trí, gan dạ và nhất là đỉnh cao người học võ khiêm tốn, điềm đạm, giản dị, giàu lòng vị tha, nhân ái. Có rất nhiều thuật làm cho thân thể khỏe mạnh, biết được một thuật đủ để khỏe mạnh và sống lâu. Võ thuật là một trong các nghệ thuật đó.

    Các môn phái võ cổ truyền có mục đích, tôn chỉ, môn qui, những điều tâm niệm để giáo dục võ sinh. Không phản thầy, phế đạo. Không bất hiếu, bất trung. Không bất nhân, bất nghĩa. Võ thuật khởi đầu bằng lễ và kết thúc cũng bằng lễ. Khi diễn quyền, bắt đầu bằng bái tổ (Tam bộ bái tổ, nhị bộ kính sư, hồi thân lập trụ…) và kết thúc cũng bằng bái tổ (Thối hồi đơn phụng quang châu; Chân theo xà tấn kiếm hầu tổ sư). Đó là thông điệp mà các bậc chân sư gửi vào bài võ để nói lên tinh thần đạo đức trong võ thuật.

    Người học võ cần chọn người hiền đức làm thầy, bản thân mình thì khiêm hư hiếu học, tôn kính sư trưởng, phát huy võ đức. Lòng tâm niệm: “Một chữ truyền trao cũng là thầy mà nửa chữ truyền trao cũng là thầy”. Nếu làm được những điều cao đẹp ấy thì thật là tôn quý biết chừng nào. Nhưng thực tế cuộc sống và tôn chỉ võ đức đôi khi bị vùi dập bởi dòng sống cuộc đời như dòng sông cuồn cuộn, lôi cuốn những lý tưởng cao đẹp nhận chìm lẫn trong hôi tanh của bùn đất. Bởi vậy mới thấy những cảnh tranh giành quyền lợi, thủ đoạn luồn cúi bất minh mưu cầu một chút hư danh, ảo giác, vọng ngữ khoe khoang những điều không đúng với thực chất của mình, xa rời liêm sỉ, bỏ thực cầu hư.

    Trong binh pháp cũng đề cao võ đức “Bổn đức tôn đạo – dùng đức làm nền gốc, lấy đạo làm cao quý: An mục an ư nhẫn nhục; tiên mạc tiên ư tu đức; lạc mạc lạc ư hiếu thiện; thần mạc thần ư chí thành… nghĩa là chẳng có gì yên bằng nhẫn nhục, chẳng có gì cần trước hơn là tu đức, chẳng gì vui bằng mến điều lành, chẳng có gì mầu nhiệm hơn lòng chí thành…” (Thái Công Binh pháp)

    “Dùng mưu trí hàng phục thiên hạ mà thiên hạ chịu khuất phục mưu trí của mình thì mưu trí ấy cũng chưa phải là tối thắng. Dùng hình pháp để chế ngự thiên hạ mà thiên hạ chịu theo hình pháp của mình thì hình pháp ấy cũng chẳng có gì hay. Dùng mưu trí hay hình pháp đều chẳng phải là điều hay nhất trong những điều hay. Ngày xưa Thánh Võ giữ thế mà chẳng vây thành, chẳng đánh lũy, chẳng bày trận, đó là nhờ nương náu ở chỗ hư không. Un đúc trong thế không tranh mà được vậy”. (Binh Thư Yếu Lược – Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)

    Tài năng của tướng súy là “Đạo chi dĩ đức; tề chi dĩ lễ; tri kỳ cơ hàn; sát kỳ lao khổ; thử chi vị nhân tướng… Dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ nghi để sắp đặt yên ổn cho người, hiểu biết việc đói rét của họ, đó là hạng tướng có lòng nhân ái…” (Binh pháp – Khổng Minh Gia Cát Lượng)

    Sách Luận ngữ chép: “Làm việc chánh dùng lấy đức ví như sao Bắc Thần đứng một chỗ mà các vì sao khác đều qui chầu tất cả” và Trương Cửu Thành thì: “Người biết đạo tất không khoe, người biết nghĩa tất không tham, người biết đức tất không thích tiếng tăm lừng lẫy”.

    Với võ thuật cổ truyền, giữ được lòng tự trọng dân tộc Việt Nam là giữ được tinh thần võ đức cao cả.

    Cảm nhận về võ đức

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Võ đức là phẩm chất cao quý của người học võ, dạy võ; là hành trang không thể thiếu của người dụng võ. Cổ nhân dạy rằng: “Tập võ chi Đạo có thể được cường thân, mẫn trí. Một người tập võ thì được cường thân, một nhà tập võ thì được cường tộc. Đường lối của võ thuật trước tiên là phải trọng võ đức, muốn có võ đức phải hiểu rõ công lý, muốn hiểu rõ công lý thì phải có học vấn.” Võ thuật là môn học của khoa học, nghệ thuật, văn hoá truyền thống…

    Võ là khoa học, nghệ thuật vì võ dạy cho con người pháp luyện thân tăng cường sức khoẻ, ngăn ngừa bệnh tật theo khoa học giáo dục thể chất, cùng nghệ thuật thần kỳ nuôi dưỡng tinh, khí, thần và nghệ thuật tự vệ, chiến đấu. Khoa học võ thuật đích thực có các nguyên lý cấu thành và liên hệ mật thiết với những khoa học tương cận như vật lý học, sinh học, y học, quân sự…, đặc biệt là triết học Đông phương.


    Võ là văn hóa truyền thống vì võ dạy cho người học biết nuôi dưỡng nhân tính, rèn luyện nhân cách, tu dưỡng đạo đức làm người. Việc luyện tập võ thuật là một cuộc trường chinh để tự thắng chính mình, trên tinh thần giản dị, khiêm tốn, điềm đạm, đạt đến Chân-Thiện-Mỹ trong cuộc sống. Võ thuật không chỉ là loại hình vận động thể dục thể thao giản đơn mà còn là văn hoá thượng võ tôn sư trọng đạo. Đó là võ đức. Chỉ có những ai không đi hết trọn con đường mới phải tự quảng cáo, khoe khoang, biện bạch.

    Tuy đặc thù võ thuật là chiến đấu nhưng tập võ còn là phương pháp tốt để nâng cao sức khỏe, qua đó học được nhiều đức tính quý báu như bền bỉ, chịu đựng, nhanh nhẹn, mưu trí, gan dạ và nhất là đỉnh cao người học võ khiêm tốn, điềm đạm, giản dị, giàu lòng vị tha, nhân ái. Có rất nhiều thuật làm cho thân thể khỏe mạnh, biết được một thuật đủ để khỏe mạnh và sống lâu. Võ thuật là một trong các nghệ thuật đó.

    Các môn phái võ cổ truyền có mục đích, tôn chỉ, môn qui, những điều tâm niệm để giáo dục võ sinh. Không phản thầy, phế đạo. Không bất hiếu, bất trung. Không bất nhân, bất nghĩa. Võ thuật khởi đầu bằng lễ và kết thúc cũng bằng lễ. Khi diễn quyền, bắt đầu bằng bái tổ (Tam bộ bái tổ, nhị bộ kính sư, hồi thân lập trụ…) và kết thúc cũng bằng bái tổ (Thối hồi đơn phụng quang châu; Chân theo xà tấn kiếm hầu tổ sư). Đó là thông điệp mà các bậc chân sư gửi vào bài võ để nói lên tinh thần đạo đức trong võ thuật.

    Người học võ cần chọn người hiền đức làm thầy, bản thân mình thì khiêm hư hiếu học, tôn kính sư trưởng, phát huy võ đức. Lòng tâm niệm: “Một chữ truyền trao cũng là thầy mà nửa chữ truyền trao cũng là thầy”. Nếu làm được những điều cao đẹp ấy thì thật là tôn quý biết chừng nào. Nhưng thực tế cuộc sống và tôn chỉ võ đức đôi khi bị vùi dập bởi dòng sống cuộc đời như dòng sông cuồn cuộn, lôi cuốn những lý tưởng cao đẹp nhận chìm lẫn trong hôi tanh của bùn đất. Bởi vậy mới thấy những cảnh tranh giành quyền lợi, thủ đoạn luồn cúi bất minh mưu cầu một chút hư danh, ảo giác, vọng ngữ khoe khoang những điều không đúng với thực chất của mình, xa rời liêm sỉ, bỏ thực cầu hư.

    Trong binh pháp cũng đề cao võ đức “Bổn đức tôn đạo – dùng đức làm nền gốc, lấy đạo làm cao quý: An mục an ư nhẫn nhục; tiên mạc tiên ư tu đức; lạc mạc lạc ư hiếu thiện; thần mạc thần ư chí thành… nghĩa là chẳng có gì yên bằng nhẫn nhục, chẳng có gì cần trước hơn là tu đức, chẳng gì vui bằng mến điều lành, chẳng có gì mầu nhiệm hơn lòng chí thành…” (Thái Công Binh pháp)

    “Dùng mưu trí hàng phục thiên hạ mà thiên hạ chịu khuất phục mưu trí của mình thì mưu trí ấy cũng chưa phải là tối thắng. Dùng hình pháp để chế ngự thiên hạ mà thiên hạ chịu theo hình pháp của mình thì hình pháp ấy cũng chẳng có gì hay. Dùng mưu trí hay hình pháp đều chẳng phải là điều hay nhất trong những điều hay. Ngày xưa Thánh Võ giữ thế mà chẳng vây thành, chẳng đánh lũy, chẳng bày trận, đó là nhờ nương náu ở chỗ hư không. Un đúc trong thế không tranh mà được vậy”. (Binh Thư Yếu Lược – Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)

    Tài năng của tướng súy là “Đạo chi dĩ đức; tề chi dĩ lễ; tri kỳ cơ hàn; sát kỳ lao khổ; thử chi vị nhân tướng… Dùng đức để đem đường cho người, dùng lễ nghi để sắp đặt yên ổn cho người, hiểu biết việc đói rét của họ, đó là hạng tướng có lòng nhân ái…” (Binh pháp – Khổng Minh Gia Cát Lượng)

    Sách Luận ngữ chép: “Làm việc chánh dùng lấy đức ví như sao Bắc Thần đứng một chỗ mà các vì sao khác đều qui chầu tất cả” và Trương Cửu Thành thì: “Người biết đạo tất không khoe, người biết nghĩa tất không tham, người biết đức tất không thích tiếng tăm lừng lẫy”.

    Với võ thuật cổ truyền, giữ được lòng tự trọng dân tộc Việt Nam là giữ được tinh thần võ đức cao cả.

    Văn không võ, văn thành nhu nhược;
    Võ không văn, võ thuộc bạo tàn…

    Cách nói ấy của người xưa mục đích giáo dục người học hoàn thiện mình trên tinh thần nhân văn – thượng võ.

    Sự học xưa nay là tỏ rõ đức, hoàn thiện nhân cách (Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại chỉ ư chí thiện). Nhân, Nghĩa là sức mạnh. Trong lòng nhân từ có sức mạnh (Nhân tất hữu dũng). Thấy việc nghĩa không làm không phải là người có dũng lược (Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã). Không khuất phục trước quyền uy bạo lực (Uy vũ bất năng khuất). Tinh thần người học võ là thượng võ, nhân văn. Người thượng võ hòa ái, khiêm tốn, khoan dung, độ lượng, xả thân vì đại nghĩa, chính đại quang minh…
    Người học văn, kẻ sĩ, tinh thần bất khuất, thà chết không chịu nhục, không làm nô lệ (Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục); Điều không ngay thẳng không làm (Tịch bất chính bất tọa). Những người học văn hành xử đúng đạo, sức mạnh có thừa. (Văn dĩ tải đạo).

    Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm;
    Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
    (Nguyễn Đình Chiểu)


    Biểu trưng của Liên đoàn VTCT Việt Nam đao, kiếm và quyển sách (văn, võ song toàn)

    Người học võ đạt đỉnh cao, thái độ ung dung, tao nhã, tinh thần an nhiên tự tại, chí cực điềm đạm, như con tuấn mã phi hằng ngàn dặm đường không biết mỏi, như chim bằng bay từ biển Bắc sang biển Nam, không gặp hạt ngô đồng không ăn, không gặp giếng nước ngọt không uống. Những người ấy tinh thần vô úy và hành xử rất khiêm cung, văn hóa.

    “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”
    (Trần Bình Trọng)

    Song, cuộc đời dâu bể khôn lường (Thế sự phù trầm nan tri liệu). Có những việc người đời không nhịn được, bởi vậy kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gươm đứng dậy vươn mình xốc đánh (Thất phu kiến nhục, bạt kiếm nhi khởi, đỉnh thân nhi đấu). Đấng trượng phu thì hóa giải như dùng nước khử lửa, nước thì làm lợi cho vạn vật mà không tranh…(Thiện thượng nhược thủy; Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh…) Vì vậy, học là một việc mà làm theo được những điều hay lẽ phải đã học là một việc khác. Từ đó, trần thế có kẻ tiểu nhân, có người quân tử; có kẻ phản tặc, có người ái quốc; có kẻ vong tình bội nghĩa, có người son sắt thủy chung. Có người học văn nhưng khiếp nhược bán rẻ lương tâm; có người học võ mà làm đạo tặc, học võ đạo nhưng hành xử vô đạo. Bởi vậy, các bậc chân sư trưởng thượng mới giáo huấn môn đệ mình bằng ý tưởng: Văn không võ, văn thành nhu nhược; Võ không văn, võ thuộc bạo tàn…

    Nhưng cũng chỉ là quan niệm tương đối mà thôi.
    Võ sư Trương Văn Bảo

    Đôi điều về Văn võ – Võ văn

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Văn không võ, văn thành nhu nhược;
    Võ không văn, võ thuộc bạo tàn…

    Cách nói ấy của người xưa mục đích giáo dục người học hoàn thiện mình trên tinh thần nhân văn – thượng võ.

    Sự học xưa nay là tỏ rõ đức, hoàn thiện nhân cách (Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại chỉ ư chí thiện). Nhân, Nghĩa là sức mạnh. Trong lòng nhân từ có sức mạnh (Nhân tất hữu dũng). Thấy việc nghĩa không làm không phải là người có dũng lược (Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã). Không khuất phục trước quyền uy bạo lực (Uy vũ bất năng khuất). Tinh thần người học võ là thượng võ, nhân văn. Người thượng võ hòa ái, khiêm tốn, khoan dung, độ lượng, xả thân vì đại nghĩa, chính đại quang minh…
    Người học văn, kẻ sĩ, tinh thần bất khuất, thà chết không chịu nhục, không làm nô lệ (Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục); Điều không ngay thẳng không làm (Tịch bất chính bất tọa). Những người học văn hành xử đúng đạo, sức mạnh có thừa. (Văn dĩ tải đạo).

    Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm;
    Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
    (Nguyễn Đình Chiểu)


    Biểu trưng của Liên đoàn VTCT Việt Nam đao, kiếm và quyển sách (văn, võ song toàn)

    Người học võ đạt đỉnh cao, thái độ ung dung, tao nhã, tinh thần an nhiên tự tại, chí cực điềm đạm, như con tuấn mã phi hằng ngàn dặm đường không biết mỏi, như chim bằng bay từ biển Bắc sang biển Nam, không gặp hạt ngô đồng không ăn, không gặp giếng nước ngọt không uống. Những người ấy tinh thần vô úy và hành xử rất khiêm cung, văn hóa.

    “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”
    (Trần Bình Trọng)

    Song, cuộc đời dâu bể khôn lường (Thế sự phù trầm nan tri liệu). Có những việc người đời không nhịn được, bởi vậy kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gươm đứng dậy vươn mình xốc đánh (Thất phu kiến nhục, bạt kiếm nhi khởi, đỉnh thân nhi đấu). Đấng trượng phu thì hóa giải như dùng nước khử lửa, nước thì làm lợi cho vạn vật mà không tranh…(Thiện thượng nhược thủy; Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh…) Vì vậy, học là một việc mà làm theo được những điều hay lẽ phải đã học là một việc khác. Từ đó, trần thế có kẻ tiểu nhân, có người quân tử; có kẻ phản tặc, có người ái quốc; có kẻ vong tình bội nghĩa, có người son sắt thủy chung. Có người học văn nhưng khiếp nhược bán rẻ lương tâm; có người học võ mà làm đạo tặc, học võ đạo nhưng hành xử vô đạo. Bởi vậy, các bậc chân sư trưởng thượng mới giáo huấn môn đệ mình bằng ý tưởng: Văn không võ, văn thành nhu nhược; Võ không văn, võ thuộc bạo tàn…

    Nhưng cũng chỉ là quan niệm tương đối mà thôi.
    Võ sư Trương Văn Bảo

    Võ đạo là cái đạo của người học võ, cái đạo của con người sống trong trời, đất, được thể hiện một cách sinh động qua bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế-xã hội và cốt cách con nhà võ, cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu tâm, dưỡng tính gắn với các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng ngay từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt lìa đời.


    Hơn thế nữa, võ đạo trong võ cổ truyền Bình Định được hun đúc qua bao đời và trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được thể hiện khá rõ nét, cụ thể:



    1. Truyền thống thượng võ, chống ngoại xâm

    Mỗi con người chúng ta đều gắn liền với quê hương, xứ sở, luôn tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, xứ sở mình, và đều mang trong mình dòng máu của cha ông, của dân tộc.

    Mỗi khi đất nước có họa ngoại xâm, thì mọi người già trẻ trai gái đều hăng hái tập luyện võ nghệ, sử dụng các loại binh khí, các miếng võ bí truyền và ai có súng dùng súng, ai không có súng thì gươm, giáo, mác, gậy, gộc, đồng lòng chung sức nhất tề đánh đuổi quân thù và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh đến hơi thở cuối cùng, nhưng khi quân thù bại trận thì dân ta rất mực khoan hồng, độ lượng, hành sự đúng mực trượng phu.
    Truyền thống đó được hun đúc qua 4000 năm lịch sử đấu tranh oanh liệt, chống ngoại xâm, chống bất công, áp bức, cường quyền, cùng nhau chung lưng đấu cật, chia ngọt sẻ bùi, đoàn kết xây dựng cuộc sống và bảo tồn giống nòi Lạc Việt.

    Từ đó, cho dù ở phương trời nào, chúng ta cũng nhớ về cội nguồn, tổ tiên, luôn tự hào về các bậc tiền nhân đã dày công dựng nước, giữ nước, đánh đuổi quân thù, thu phục giang sơn về một mối, trong đó có các võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống võ hào hùng của dân tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn.

    2. Truyền thống uống nước nhớ nguồn

    Dân tộc ta có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Nhắc lại chuyện xưa: khi Nguyển Ánh lên ngôi, đã hủy diệt toàn bộ thành quả của nhà Tây Sơn, trong đó có sự nghiệp võ học lẫy lừng của nhà Tây Sơn, nhưng người dân Bình Định, nhất là các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhân sĩ, trí thức, các võ sư, võ sĩ, đã một lòng một dạ trung thành với những di sản và tinh hoa võ học chân truyền của nhà Tây Sơn, vẫn tôn thờ vị hoàng đế Quang Trung. Nhiều người khi được dụ hàng để được hưởng ân sủng, chức tước, bổng lộc của nhà Nguyễn, đều từ chối và quyết tâm chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng, lưu lại tiếng thơm cho muôn đời sau.

    Nhiều nhà thi đỗ tiến sĩ, cử nhân võ nhưng không ra làm quan mà vẫn trung thành với “chủ cũ” đã tìm mọi cách để tập hợp tư liệu, biên soạn lại sách, giáo trình, các bài thiệu, các bài thuốc võ, bí mật truyền bá, lưu truyền cho các thế hệ mai sau, khỏi mất gốc, nhờ vậy, mà võ cổ truyền Bình Định không bị mai một, bế tắc mà còn ăn sâu bén rễ và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định.

    Người Bình Định, từ người có võ công cao cường, đến người hiểu biết võ nghệ chút ít đều luôn một lòng tôn kính giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng võ cổ truyền Bình Định, ra sức truyền bá và bảo tồn võ đạo, võ lý, võ y, võ thuật, võ nhạc và những tinh hoa độc đáo của tổ tiên, tiếp tục truyền lại cho các thế hệ mai sau.

    3. Truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa

    Đây là truyền thống cực kỳ quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân “đất võ”. Trong lĩnh vực võ học, người học võ trước tiên phải là người có bản lĩnh, luôn lấy tâm đạo để chế ngự tà đạo, phải có cốt cách diện mạo của con nhà võ. “Tâm đạo” là nói đến tu luyện tư duy đạo đức làm người, sống phải cao thượng, trung với nước, hiếu với dân. Trung thực với môn phái, truyền dạy những điều hay, việc nghĩa. Một võ sĩ chân chính là một công dân tốt. Còn “Tà đạo” là sự đam mê tửu sắc, dâm ô trụy lạc, rượu chè say sưa, gây lộn đánh người, phá rối xã hội, bất chấp kỷ cương phép nước. Đây là những điều cấm kỵ đối với môn sinh học võ cổ truyền Bình Định. Ngoài ra, người võ sĩ đạo còn phải được truyền thụ thuần thục về tâm pháp và thực hiện nghiêm túc những điều cần làm và cấm làm:

    - Phải giữ gìn bản thân luôn trong sáng, thuần khiết.

    - Phải chuyên cần tập luyện võ công suốt đời và trung thành với môn phái.

    - Phải phát huy và truyền dạy võ công của môn phái theo “chính đạo”.

    - Không phản thầy, hại bạn, hà hiếp người khác.

    - Không khoe mình, chê người.

    - Không có tư tưởng thắng thì làm “vua”, thua thì làm “giặc”.

    Khi thâu nhận võ sinh, người thầy bao giờ cũng chú trọng tướng diện, cử chỉ, lời nói, cung cách xử sự, nhân thân, lai lịch của người học trò để truyền dạy hay từ chối không truyền dạy, hoặc chỉ truyền dạy một ít thảo thức thông thường (ngay cả người thân trong dòng họ cũng vậy). Sau khi được thử thách để tuyển chọn, môn sinh phải lễ cúng tổ và được thử thách về sức chịu đựng, sự kiên trì, gan dạ, về đạo đức, tư cách, về sự trung thành với môn phái, tuân thủ môn quy, đặc biệt là sự tôn sư trọng đạo. Lễ cúng tổ được tổ chức trang nghiêm và theo nghi thức võ cổ truyền Bình Định, người thầy đứng lên đọc văn tế ông Tổ nghề võ. Sau khi cúng Tổ, đệ tử làm lễ khởi động tay chân…

    Người xưa thường nói: “Đệ tử tầm Sư dị, Sư tầm đệ tử nan” – người muốn học võ, nghe thầy giỏi tìm đến không khó; thầy muốn truyền dạy võ thuật cho đệ tử không phải dễ, bởi lẽ thầy phải “chọn mặt gửi vàng”, phải chọn người có đạo đức trong sáng, hành động đúng mực trượng phu.

    Mỗi bài tập đều có phần “lễ Tổ” và “bái Tổ”. Bái Tổ chính là thể hiện sự tôn kính tổ tiên, môn phái, kính thầy, yêu quý đồng môn. Những người giỏi võ cuộc sống thường rất bình dị, tài võ nghệ chỉ tiềm ẩn bên trong con người giàu lòng vị tha, khiêm tốn, ít khi lộ diện ra bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có các đức tính như: Tín-Nghĩa-Hiệp-Dũng, đây chính là tinh thần và mục đích của người võ sĩ đạo chân chính. Chữ “Tín” ở đây muốn nói lên từ cái tâm của con nhà võ, lời nói phải đi đôi với hành động, không đem võ ra “bán” theo dạng võ Sơn Đông. Không hại người, không ỷ mạnh hiếp yếu, luôn bảo tồn võ đạo, uy tín môn đồ, mọi việc đều xử sự một cách trong sáng, chính nghĩa, không làm điều phi nghĩa, thất nhân, thất đức – đó là “nghĩa”. Còn “hiệp”, “dũng” là những đức tính không thể thiếu được của con nhà võ, luôn sẵn sàng diệt gian, trừ ác, thấy sự bất bình không khoanh tay đứng nhìn.

    Hay nói cách khác, ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi cần thiết, người có võ công càng cao thì đức tính lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo, không đánh người “dưới ngựa” hoặc truy thù đến cùng, nhưng một khi đã ra đòn thì phải hạ thủ.

    Nói tóm lại, võ đạo chính là đạo đức trong sáng, đức tính cao cả, tâm hồn hỷ xả của con người có võ, người có võ mà thiếu đạo đức thì sẽ trở thành một tai họa không thể lường hết được và sự nguy hại không những cho bản thân, gia đình mà cho cả xã hội nữa.

    Chính vì vậy mà võ cổ truyền Bình Định luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp chấn hưng nền võ học chân truyền, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai góp phần hình thành con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

    Võ đạo của võ cổ truyền Bình Định

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in    |  Read More»

    Võ đạo là cái đạo của người học võ, cái đạo của con người sống trong trời, đất, được thể hiện một cách sinh động qua bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế-xã hội và cốt cách con nhà võ, cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu tâm, dưỡng tính gắn với các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng ngay từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt lìa đời.


    Hơn thế nữa, võ đạo trong võ cổ truyền Bình Định được hun đúc qua bao đời và trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được thể hiện khá rõ nét, cụ thể:



    1. Truyền thống thượng võ, chống ngoại xâm

    Mỗi con người chúng ta đều gắn liền với quê hương, xứ sở, luôn tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, xứ sở mình, và đều mang trong mình dòng máu của cha ông, của dân tộc.

    Mỗi khi đất nước có họa ngoại xâm, thì mọi người già trẻ trai gái đều hăng hái tập luyện võ nghệ, sử dụng các loại binh khí, các miếng võ bí truyền và ai có súng dùng súng, ai không có súng thì gươm, giáo, mác, gậy, gộc, đồng lòng chung sức nhất tề đánh đuổi quân thù và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh đến hơi thở cuối cùng, nhưng khi quân thù bại trận thì dân ta rất mực khoan hồng, độ lượng, hành sự đúng mực trượng phu.
    Truyền thống đó được hun đúc qua 4000 năm lịch sử đấu tranh oanh liệt, chống ngoại xâm, chống bất công, áp bức, cường quyền, cùng nhau chung lưng đấu cật, chia ngọt sẻ bùi, đoàn kết xây dựng cuộc sống và bảo tồn giống nòi Lạc Việt.

    Từ đó, cho dù ở phương trời nào, chúng ta cũng nhớ về cội nguồn, tổ tiên, luôn tự hào về các bậc tiền nhân đã dày công dựng nước, giữ nước, đánh đuổi quân thù, thu phục giang sơn về một mối, trong đó có các võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống võ hào hùng của dân tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn.

    2. Truyền thống uống nước nhớ nguồn

    Dân tộc ta có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Nhắc lại chuyện xưa: khi Nguyển Ánh lên ngôi, đã hủy diệt toàn bộ thành quả của nhà Tây Sơn, trong đó có sự nghiệp võ học lẫy lừng của nhà Tây Sơn, nhưng người dân Bình Định, nhất là các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhân sĩ, trí thức, các võ sư, võ sĩ, đã một lòng một dạ trung thành với những di sản và tinh hoa võ học chân truyền của nhà Tây Sơn, vẫn tôn thờ vị hoàng đế Quang Trung. Nhiều người khi được dụ hàng để được hưởng ân sủng, chức tước, bổng lộc của nhà Nguyễn, đều từ chối và quyết tâm chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng, lưu lại tiếng thơm cho muôn đời sau.

    Nhiều nhà thi đỗ tiến sĩ, cử nhân võ nhưng không ra làm quan mà vẫn trung thành với “chủ cũ” đã tìm mọi cách để tập hợp tư liệu, biên soạn lại sách, giáo trình, các bài thiệu, các bài thuốc võ, bí mật truyền bá, lưu truyền cho các thế hệ mai sau, khỏi mất gốc, nhờ vậy, mà võ cổ truyền Bình Định không bị mai một, bế tắc mà còn ăn sâu bén rễ và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định.

    Người Bình Định, từ người có võ công cao cường, đến người hiểu biết võ nghệ chút ít đều luôn một lòng tôn kính giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng võ cổ truyền Bình Định, ra sức truyền bá và bảo tồn võ đạo, võ lý, võ y, võ thuật, võ nhạc và những tinh hoa độc đáo của tổ tiên, tiếp tục truyền lại cho các thế hệ mai sau.

    3. Truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa

    Đây là truyền thống cực kỳ quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân “đất võ”. Trong lĩnh vực võ học, người học võ trước tiên phải là người có bản lĩnh, luôn lấy tâm đạo để chế ngự tà đạo, phải có cốt cách diện mạo của con nhà võ. “Tâm đạo” là nói đến tu luyện tư duy đạo đức làm người, sống phải cao thượng, trung với nước, hiếu với dân. Trung thực với môn phái, truyền dạy những điều hay, việc nghĩa. Một võ sĩ chân chính là một công dân tốt. Còn “Tà đạo” là sự đam mê tửu sắc, dâm ô trụy lạc, rượu chè say sưa, gây lộn đánh người, phá rối xã hội, bất chấp kỷ cương phép nước. Đây là những điều cấm kỵ đối với môn sinh học võ cổ truyền Bình Định. Ngoài ra, người võ sĩ đạo còn phải được truyền thụ thuần thục về tâm pháp và thực hiện nghiêm túc những điều cần làm và cấm làm:

    - Phải giữ gìn bản thân luôn trong sáng, thuần khiết.

    - Phải chuyên cần tập luyện võ công suốt đời và trung thành với môn phái.

    - Phải phát huy và truyền dạy võ công của môn phái theo “chính đạo”.

    - Không phản thầy, hại bạn, hà hiếp người khác.

    - Không khoe mình, chê người.

    - Không có tư tưởng thắng thì làm “vua”, thua thì làm “giặc”.

    Khi thâu nhận võ sinh, người thầy bao giờ cũng chú trọng tướng diện, cử chỉ, lời nói, cung cách xử sự, nhân thân, lai lịch của người học trò để truyền dạy hay từ chối không truyền dạy, hoặc chỉ truyền dạy một ít thảo thức thông thường (ngay cả người thân trong dòng họ cũng vậy). Sau khi được thử thách để tuyển chọn, môn sinh phải lễ cúng tổ và được thử thách về sức chịu đựng, sự kiên trì, gan dạ, về đạo đức, tư cách, về sự trung thành với môn phái, tuân thủ môn quy, đặc biệt là sự tôn sư trọng đạo. Lễ cúng tổ được tổ chức trang nghiêm và theo nghi thức võ cổ truyền Bình Định, người thầy đứng lên đọc văn tế ông Tổ nghề võ. Sau khi cúng Tổ, đệ tử làm lễ khởi động tay chân…

    Người xưa thường nói: “Đệ tử tầm Sư dị, Sư tầm đệ tử nan” – người muốn học võ, nghe thầy giỏi tìm đến không khó; thầy muốn truyền dạy võ thuật cho đệ tử không phải dễ, bởi lẽ thầy phải “chọn mặt gửi vàng”, phải chọn người có đạo đức trong sáng, hành động đúng mực trượng phu.

    Mỗi bài tập đều có phần “lễ Tổ” và “bái Tổ”. Bái Tổ chính là thể hiện sự tôn kính tổ tiên, môn phái, kính thầy, yêu quý đồng môn. Những người giỏi võ cuộc sống thường rất bình dị, tài võ nghệ chỉ tiềm ẩn bên trong con người giàu lòng vị tha, khiêm tốn, ít khi lộ diện ra bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có các đức tính như: Tín-Nghĩa-Hiệp-Dũng, đây chính là tinh thần và mục đích của người võ sĩ đạo chân chính. Chữ “Tín” ở đây muốn nói lên từ cái tâm của con nhà võ, lời nói phải đi đôi với hành động, không đem võ ra “bán” theo dạng võ Sơn Đông. Không hại người, không ỷ mạnh hiếp yếu, luôn bảo tồn võ đạo, uy tín môn đồ, mọi việc đều xử sự một cách trong sáng, chính nghĩa, không làm điều phi nghĩa, thất nhân, thất đức – đó là “nghĩa”. Còn “hiệp”, “dũng” là những đức tính không thể thiếu được của con nhà võ, luôn sẵn sàng diệt gian, trừ ác, thấy sự bất bình không khoanh tay đứng nhìn.

    Hay nói cách khác, ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi cần thiết, người có võ công càng cao thì đức tính lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo, không đánh người “dưới ngựa” hoặc truy thù đến cùng, nhưng một khi đã ra đòn thì phải hạ thủ.

    Nói tóm lại, võ đạo chính là đạo đức trong sáng, đức tính cao cả, tâm hồn hỷ xả của con người có võ, người có võ mà thiếu đạo đức thì sẽ trở thành một tai họa không thể lường hết được và sự nguy hại không những cho bản thân, gia đình mà cho cả xã hội nữa.

    Chính vì vậy mà võ cổ truyền Bình Định luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp chấn hưng nền võ học chân truyền, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai góp phần hình thành con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

    Võ thuật không chỉ là môn học về kỹ thuật luyện tập chiến đấu, không chỉ là một môn nghệ thuật mà còn là môn khoa học nữa. Bởi vì hình thức của nó được xây dựng từ các lý thuyết căn bản của khoa học tự nhiên như vật lý học, sinh học đồng thời nội dung của nó chứa đựng lý thuyết của khoa học xã hội như triết học, nhân văn….. Tính triết lý và nhân văn đó chính là nét để khu biệt võ thuật với các môn thể thao khác. Bởi lẽ người ta chỉ gọi là Nhu đạo (Judo), Không thủ đạo (Karate), Hiệp khí đạo (Aikido), Thái cực đạo (Teakowndo) chứ không ai gọi là bóng đá đạo, cầu lông đạo hay quần vợt đạo bao giờ cả. Chữ “Đạo” trong võ được xã hội hóa và ăn sâu trong máu thịt các dân tộc có nền võ học lâu đời như Nhật bản, Trung quốc, Triều tiên, Việt nam …… Như vậy, võ học được hình thành từ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức, tất cả mọi chuyển động cơ học của các kỹ thuật tay chân đều ngầm chứa nội dung mang tính đạo lý và nhân bản sâu sắc. Suy cho cùng, trong sâu xa võ có hai phần: thuật và đạo. Thuật chỉ đủ để giúp người ta biết võ. Còn đạo mới đưa người ta đến tận cùng của cái biết võ mà hành võ. Đạo chính là đẳng cấp cao nhất mà người tập võ chân chính phải phấn đấu đạt đến.



    Tiếng “Đạo“ của người phương Đông – nơi nhu cầu và tài nghệ con người được nghệ thuật hóa và triết học hóa tới cao độ. Quả thật, chưa có một từ ngữ tương đương nào của người phương Tây có thể dịch thoát, vì đạo ngoài ý nghĩa là “con đường“, là “thông lộ” còn bao hàm cả ý nghĩa về tôn giáo, luân lý và nghệ thuật. Ví dụ : Uống trà là nhu cầu thông thường, nhưng biết cách thưởng thức trà và những ý nghĩa thanh cao của việc uống trà kết bạn, giúp ích xã hội thì đó là Trà Đạo. Ngắm nghía và thưởng ngoạn hoa là thú vui thông thường trong cuộc sống, nhưng biết cách thưởng ngoạn như 1 nghệ thuật và nâng cao nữa về đạo lý giúp ích cho cuộc sống thì là Hoa đạo… vv…..

    Khác võ thuật Trung Hoa cũng như Việt Nam nặng về xuất thế và cố giữ vị thế độc lập với chính trị, võ thuật Nhật Bản có truyền thống hội nhập ngay vào mọi sinh hoạt chính trị để hình thành một giai cấp trong xã hội Nhật Bản đó chính là tầng lớp Samourai (Võ Sĩ Đạo). Người Võ Sĩ Đạo được huấn luyện ngay từ nhỏ những kỹ thuật chiến đấu tay không và vũ khí rất lành nghề và quan trọng nhất vẫn là rèn luyện tinh thần Nhật Võ Đạo với những điều luật được ghi chép rõ ràng. Tinh thần đó tạo nên nét đặc trưng của người Võ Sĩ Đạo, bao gồm 5 đức tính tính chính (sự ngay thẳng, đức can đãm, lòng nhân từ, đức lễ phép, đức tự kiểm) và 3 đức tính phụ (đức vâng lời, đức trung tín, đức yêu việc).

    Xưa nay các môn võ phương Đông dù khác nhau ở chiêu thức, nhưng đều có điểm giống nhau ở môn qui: không phản môn, phản thầy; không khoe tài, không ỷ lực hiếp người; không háo sắc, loạn dâm; không thắng vui, thua buồn… Tuy nhiên, người Nhật Bản có điểm khác biệt cơ bản các dân tộc ở quốc gia châu Á khác như Việt Nam, Trung Quốc và nhất là tại các nước Tây phương, chính ở chỗ quan niệm về học võ của họ. Người Nhật Bản đến võ đường với mục đích cao quí là học tập và rèn luyện cái “Đạo” trong võ học, còn đòn thế và cách thi triển chỉ là thứ yếu. Trong khi ở Việt Nam người ta đi học võ với mục đích rất “tầm thường” và thiên về mục đích cá nhân. Họ đi học võ để tự vệ, học để giữ gìn sức khỏe bản thân, rèn luyện để chữa bệnh, để làm việc nghĩa hiệp bênh vực kẻ yếu, có khi chỉ vì bạn bè rủ rê cho vui ……“Trà như ẩn sĩ, rượu như hào sĩ, võ như lực sĩ. Rượu để kết bạn, trà để hưởng tĩnh, võ để luyện thần “

    Người ta thường nói “võ nghệ “ hay “võ thuật” với hàm ý trong võ có nghệ thuật hay võ là một nghệ thuật đặc biệt nhằm chiến thắng hoặc chinh phục một đối thủ nào đó . Nhưng, người ta còn gọi là “võ đạo” , đó là một sự tôn xưng một khi võ thuật đã đạt được cái vi diệu, cái lẽ tối thượng của nó. Khi đó nó đã tự phát lộ được khả năng soi sáng, khả năng giác ngộ, để con người không chỉ vượt thắng đối thủ, vượt thắng ngoại giới, mà cái chính là “vượt thắng chính mình”, tự hoàn thiện nhân cách, tự soi sáng tâm linh mình qua một quá trình rèn luyện gian khổ, qua hành trên con đường chông gai để đạt tới đạo .Đạo ấy của võ cũng giống như đạo Thiền, là quá trình tự khai sáng. Tổ sư Phật giáo thiền tông Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) tương truyền vừa là người khai sáng đạo thiền vừa là người khai sáng môn võ Thiếu Lâm. Hành trình khai sáng ấy trải qua suốt 9 năm trời ông “diện bích” – quay mặt vào vách đá trong hang động trên đỉnh núi Tung Sơn để Tham Thiền nhập định, lấy cái tĩnh mở thông cho cái động, lấy sự tịnh tâm làm đích cho mọi hoạt động của mình sau này, dù đó là hoạt động tôn giáo hay võ thuật.

    Có ai bước vào nghề võ mà không vài lần nghe thầy dạy bảo: “Khi mới học võ, tôi chỉ có mong muốn là nắm được đòn thế cao siêu. Lên được đai đen, đai đỏ, tôi lại muốn mình phải thật giỏi để đánh thắng người khác. Nhưng bây giờ, mục đích lớn nhất của tôi chính là phải chiến thắng chính bản thân mình”. Trên các bức tường của võ đường hay treo đại tự “Nhẫn”. Bởi chính đó là nền tảng hun đúc nên tinh thần thượng võ. Chuyện võ kể rằng: Có một đại cung thủ đã đạt đến mức độ thượng thừa có thể “bách bộ xuyên dương”, đi trăm bước ngoảnh đầu lại bắn trúng lá liễu. Cả đời cung thủ này chỉ có một tâm nguyện duy nhất là tìm người để được thua. Ngày kia, theo lời chỉ dẫn của giới võ lâm, anh quyết lên ngọn Hoa sơn thi thố tài năng với một đại sư lừng danh đã ẩn tu. Vị đại sư đồng ý cùng anh leo lên một mỏm đá cheo leo cao nhất. Giữa cuồng phong gào rít, cung thủ chỉ đứng không đã muốn té, nói gì giương cung, lắp tên thi bắn đại bàng. Cuối cùng anh chịu thua và chuyển cung cho vị đại sư trổ tài. Thật bất ngờ, đại sư lại vứt cung xuống vực rồi bình thản nói: “Tôi đã bỏ tiền ra mua được một con đại bàng thật đẹp, thì khổ chi phải leo lên tận đây chịu nguy hiểm để bắn nữa…”. Như tuyết rơi giữa mùa hè. Như tia chớp lóe sáng ngay buổi bình minh. Đầu óc cuồng mê bất bại của cung thủ ngỡ ngàng đại ngộ! Anh lặng lẽ xuống núi, bẻ cung, ngồi thiền và viết ra dòng chữ “Dụng ý bất dụng lực”.

    Như vậy thì con đường cũa võ khá gần gũi và thân mật với con đường của người làm nghệ thuật, nó đều khởi từ tâm và qua một quá trình vận động lại trở về tâm, theo một đường xoáy trôn ốc nào đó. Có lẽ người điển hình cho sự hợp nhất hòa đồng giữa Đạo, Võ và Thơ là Lý Bạch. Là một thi hào bậc nhất , luôn đứng ở Top Ten các thi sĩ mọi thời đại, Lý Bạch cũng là một kiếm sỹ lừng danh , một đạo sỹ bí ẩn của Trung quốc.

    Và cũng để nói rằng, ở đời tự vượt thắng mình là con đường gian khó biết bao, và con đường ấy dẫn tới “hòa nhi bất đồmg” – hòa mà không đồng – là dẫn tới những cá tính nghệ thuật của nghệ sỹ, dù là kiếm sỹ hay thi sĩ. Hòa với người, hòa với Đại Ngã, nhưng “bất đồng”– vẫn là mình như một cá tính sáng tạo, một cái gì không lặp lại, như những đường kiếm biến ảo, dù nó vẫn theo lực hướng tâm. Ngày nay, nhiều môn võ được đưa ra thi đấu quốc tế tranh thắng thua. Mặt tích cực của nó là giúp người luyện võ tinh thần phấn đấu, rèn luyện sức khỏe, võ thuật. Nhưng nếu chỉ chú tâm vào chiến tích thấy được, e dễ rơi vào cuồng vọng thắng người mà quên mất phải tự thắng chính mình, sự chiến thắng thượng thừa nhất của người luyện võ.

    Võ thuật & Đạo làm người: võ đạo

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Võ thuật không chỉ là môn học về kỹ thuật luyện tập chiến đấu, không chỉ là một môn nghệ thuật mà còn là môn khoa học nữa. Bởi vì hình thức của nó được xây dựng từ các lý thuyết căn bản của khoa học tự nhiên như vật lý học, sinh học đồng thời nội dung của nó chứa đựng lý thuyết của khoa học xã hội như triết học, nhân văn….. Tính triết lý và nhân văn đó chính là nét để khu biệt võ thuật với các môn thể thao khác. Bởi lẽ người ta chỉ gọi là Nhu đạo (Judo), Không thủ đạo (Karate), Hiệp khí đạo (Aikido), Thái cực đạo (Teakowndo) chứ không ai gọi là bóng đá đạo, cầu lông đạo hay quần vợt đạo bao giờ cả. Chữ “Đạo” trong võ được xã hội hóa và ăn sâu trong máu thịt các dân tộc có nền võ học lâu đời như Nhật bản, Trung quốc, Triều tiên, Việt nam …… Như vậy, võ học được hình thành từ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức, tất cả mọi chuyển động cơ học của các kỹ thuật tay chân đều ngầm chứa nội dung mang tính đạo lý và nhân bản sâu sắc. Suy cho cùng, trong sâu xa võ có hai phần: thuật và đạo. Thuật chỉ đủ để giúp người ta biết võ. Còn đạo mới đưa người ta đến tận cùng của cái biết võ mà hành võ. Đạo chính là đẳng cấp cao nhất mà người tập võ chân chính phải phấn đấu đạt đến.



    Tiếng “Đạo“ của người phương Đông – nơi nhu cầu và tài nghệ con người được nghệ thuật hóa và triết học hóa tới cao độ. Quả thật, chưa có một từ ngữ tương đương nào của người phương Tây có thể dịch thoát, vì đạo ngoài ý nghĩa là “con đường“, là “thông lộ” còn bao hàm cả ý nghĩa về tôn giáo, luân lý và nghệ thuật. Ví dụ : Uống trà là nhu cầu thông thường, nhưng biết cách thưởng thức trà và những ý nghĩa thanh cao của việc uống trà kết bạn, giúp ích xã hội thì đó là Trà Đạo. Ngắm nghía và thưởng ngoạn hoa là thú vui thông thường trong cuộc sống, nhưng biết cách thưởng ngoạn như 1 nghệ thuật và nâng cao nữa về đạo lý giúp ích cho cuộc sống thì là Hoa đạo… vv…..

    Khác võ thuật Trung Hoa cũng như Việt Nam nặng về xuất thế và cố giữ vị thế độc lập với chính trị, võ thuật Nhật Bản có truyền thống hội nhập ngay vào mọi sinh hoạt chính trị để hình thành một giai cấp trong xã hội Nhật Bản đó chính là tầng lớp Samourai (Võ Sĩ Đạo). Người Võ Sĩ Đạo được huấn luyện ngay từ nhỏ những kỹ thuật chiến đấu tay không và vũ khí rất lành nghề và quan trọng nhất vẫn là rèn luyện tinh thần Nhật Võ Đạo với những điều luật được ghi chép rõ ràng. Tinh thần đó tạo nên nét đặc trưng của người Võ Sĩ Đạo, bao gồm 5 đức tính tính chính (sự ngay thẳng, đức can đãm, lòng nhân từ, đức lễ phép, đức tự kiểm) và 3 đức tính phụ (đức vâng lời, đức trung tín, đức yêu việc).

    Xưa nay các môn võ phương Đông dù khác nhau ở chiêu thức, nhưng đều có điểm giống nhau ở môn qui: không phản môn, phản thầy; không khoe tài, không ỷ lực hiếp người; không háo sắc, loạn dâm; không thắng vui, thua buồn… Tuy nhiên, người Nhật Bản có điểm khác biệt cơ bản các dân tộc ở quốc gia châu Á khác như Việt Nam, Trung Quốc và nhất là tại các nước Tây phương, chính ở chỗ quan niệm về học võ của họ. Người Nhật Bản đến võ đường với mục đích cao quí là học tập và rèn luyện cái “Đạo” trong võ học, còn đòn thế và cách thi triển chỉ là thứ yếu. Trong khi ở Việt Nam người ta đi học võ với mục đích rất “tầm thường” và thiên về mục đích cá nhân. Họ đi học võ để tự vệ, học để giữ gìn sức khỏe bản thân, rèn luyện để chữa bệnh, để làm việc nghĩa hiệp bênh vực kẻ yếu, có khi chỉ vì bạn bè rủ rê cho vui ……“Trà như ẩn sĩ, rượu như hào sĩ, võ như lực sĩ. Rượu để kết bạn, trà để hưởng tĩnh, võ để luyện thần “

    Người ta thường nói “võ nghệ “ hay “võ thuật” với hàm ý trong võ có nghệ thuật hay võ là một nghệ thuật đặc biệt nhằm chiến thắng hoặc chinh phục một đối thủ nào đó . Nhưng, người ta còn gọi là “võ đạo” , đó là một sự tôn xưng một khi võ thuật đã đạt được cái vi diệu, cái lẽ tối thượng của nó. Khi đó nó đã tự phát lộ được khả năng soi sáng, khả năng giác ngộ, để con người không chỉ vượt thắng đối thủ, vượt thắng ngoại giới, mà cái chính là “vượt thắng chính mình”, tự hoàn thiện nhân cách, tự soi sáng tâm linh mình qua một quá trình rèn luyện gian khổ, qua hành trên con đường chông gai để đạt tới đạo .Đạo ấy của võ cũng giống như đạo Thiền, là quá trình tự khai sáng. Tổ sư Phật giáo thiền tông Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) tương truyền vừa là người khai sáng đạo thiền vừa là người khai sáng môn võ Thiếu Lâm. Hành trình khai sáng ấy trải qua suốt 9 năm trời ông “diện bích” – quay mặt vào vách đá trong hang động trên đỉnh núi Tung Sơn để Tham Thiền nhập định, lấy cái tĩnh mở thông cho cái động, lấy sự tịnh tâm làm đích cho mọi hoạt động của mình sau này, dù đó là hoạt động tôn giáo hay võ thuật.

    Có ai bước vào nghề võ mà không vài lần nghe thầy dạy bảo: “Khi mới học võ, tôi chỉ có mong muốn là nắm được đòn thế cao siêu. Lên được đai đen, đai đỏ, tôi lại muốn mình phải thật giỏi để đánh thắng người khác. Nhưng bây giờ, mục đích lớn nhất của tôi chính là phải chiến thắng chính bản thân mình”. Trên các bức tường của võ đường hay treo đại tự “Nhẫn”. Bởi chính đó là nền tảng hun đúc nên tinh thần thượng võ. Chuyện võ kể rằng: Có một đại cung thủ đã đạt đến mức độ thượng thừa có thể “bách bộ xuyên dương”, đi trăm bước ngoảnh đầu lại bắn trúng lá liễu. Cả đời cung thủ này chỉ có một tâm nguyện duy nhất là tìm người để được thua. Ngày kia, theo lời chỉ dẫn của giới võ lâm, anh quyết lên ngọn Hoa sơn thi thố tài năng với một đại sư lừng danh đã ẩn tu. Vị đại sư đồng ý cùng anh leo lên một mỏm đá cheo leo cao nhất. Giữa cuồng phong gào rít, cung thủ chỉ đứng không đã muốn té, nói gì giương cung, lắp tên thi bắn đại bàng. Cuối cùng anh chịu thua và chuyển cung cho vị đại sư trổ tài. Thật bất ngờ, đại sư lại vứt cung xuống vực rồi bình thản nói: “Tôi đã bỏ tiền ra mua được một con đại bàng thật đẹp, thì khổ chi phải leo lên tận đây chịu nguy hiểm để bắn nữa…”. Như tuyết rơi giữa mùa hè. Như tia chớp lóe sáng ngay buổi bình minh. Đầu óc cuồng mê bất bại của cung thủ ngỡ ngàng đại ngộ! Anh lặng lẽ xuống núi, bẻ cung, ngồi thiền và viết ra dòng chữ “Dụng ý bất dụng lực”.

    Như vậy thì con đường cũa võ khá gần gũi và thân mật với con đường của người làm nghệ thuật, nó đều khởi từ tâm và qua một quá trình vận động lại trở về tâm, theo một đường xoáy trôn ốc nào đó. Có lẽ người điển hình cho sự hợp nhất hòa đồng giữa Đạo, Võ và Thơ là Lý Bạch. Là một thi hào bậc nhất , luôn đứng ở Top Ten các thi sĩ mọi thời đại, Lý Bạch cũng là một kiếm sỹ lừng danh , một đạo sỹ bí ẩn của Trung quốc.

    Và cũng để nói rằng, ở đời tự vượt thắng mình là con đường gian khó biết bao, và con đường ấy dẫn tới “hòa nhi bất đồmg” – hòa mà không đồng – là dẫn tới những cá tính nghệ thuật của nghệ sỹ, dù là kiếm sỹ hay thi sĩ. Hòa với người, hòa với Đại Ngã, nhưng “bất đồng”– vẫn là mình như một cá tính sáng tạo, một cái gì không lặp lại, như những đường kiếm biến ảo, dù nó vẫn theo lực hướng tâm. Ngày nay, nhiều môn võ được đưa ra thi đấu quốc tế tranh thắng thua. Mặt tích cực của nó là giúp người luyện võ tinh thần phấn đấu, rèn luyện sức khỏe, võ thuật. Nhưng nếu chỉ chú tâm vào chiến tích thấy được, e dễ rơi vào cuồng vọng thắng người mà quên mất phải tự thắng chính mình, sự chiến thắng thượng thừa nhất của người luyện võ.

    Người có võ rất coi trọng lễ và giữ lễ. Trong thời đại giao lưu, hội nhập; khi các mối quan hệ xã hội trở nên mong manh, các giá trị truyền thống dễ bị lung lay, biến dạng, cả hoà tan; xem ra chỉ có võ là còn giữ truyền thống “tôn sư trọng đạo”, là còn trọng lễ và giữ lễ.

    Với con nhà võ, nơi tập võ không phải là Câu Lạc Bộ như nhiều người nghĩ, mà là một Võ đường, Đạo đường; người Nhật gọi là Dojo (Jo là nơi, Do là đạo đức. Dojo là nơi trui rèn đạo đức).


    “Học lễ” là nội dung được thực hành liên tục, kiên định, nhất quán trong suốt quá trình dạy võ và học võ. Ngày đầu tiên đi học võ, người học phải trải qua thủ tục “Bái sư nhập môn”. Tuy không rườm rà như ngày trước, nhưng phép tắc thì phải duy trì: người học thắp cây hương trên bàn thờ Tổ, được gặp mặt Thầy, được giới thiệu với vị Huấn luyện viên trực tiếp huấn luyện, đặc biệt được hướng dẫn để biết phép tắc và những qui định của Võ đường… Bởi vì nơi tập là một Đạo đường, nên mỗi lần vào ra, người học phải cúi chào. Bất cứ lúc nào gặp thầy, bạn, huynh đệ, đều phải cúi chào. Bắt đầu và kết thúc một buổi tập, môn sinh phải chào Tổ, chào Thầy. Bắt đầu và kết thúc một trận đấu tập, hai đối thủ phải cúi chào nhau. Bắt đầu và kết thúc một bài quyền bao giờ cũng là cái chào. Bài tập đầu tiên trong cuộc đời học võ là bài chào. Trong Võ đường, và qua các kỳ kiểm tra, người học võ được đánh giá dựa trên hai tiêu chuẩn: thành tựu công phu và phẩm chất đạo đức, được thể hiện qua cung cách quan hệ, ứng xử với mọi người… Với những ai hiểu, thì đó không chỉ là hình thức mà còn bao hàm cả nội dung. Với những người học còn nhỏ tuổi, chưa kịp hiểu, thì cứ kiên trì thực hành lễ, một ngày kia tất sẽ ngộ ra ý nghĩa bên sau mỗi cái chào.

    Người học võ chân chính không coi cái chào là lễ, mà là hình thức của lễ, cách thể hiện lễ. Cái chào ngầm chứa nội dung vô cùng quan trọng, vốn là kim chỉ nam của người học võ, đó là cái đạo của võ và đạo đức của người học võ, gọi chung là Võ đạo. Cái chào chỉ như bóng điện, Võ đạo mới là dòng điện. Không có dòng điện, bóng điện không thể toả sáng; không có tinh thần Võ đạo, cái chào chỉ còn là động tác gật đầu.

    Cũng như quá trình tích tụ năng lượng để thắp sáng bóng đèn, quá trình học võ là quá trình tu dưỡng phẩm chất, đạo đức làm nền tảng cho hành vi ứng xử trong các mối quan hệ xã hội. Tuỳ theo từng mối quan hệ xã hội mà hành vi ứng xử khác nhau. Ví dụ, đối với cha mẹ khác đối với thầy, với bạn; đối với người thân, khác với kẻ sơ; với ân nhân khác với kẻ thù; cung cách đi dự đám cưới khác với dự đám ma… Nhưng dù sắc thái có khác nhau thế nào, thì tất cả đều được hình thành trên một nguyên tắc chung. Nói cách khác, nội dung ứng xử thì tuỳ từng mối quan hệ; nhưng nguyên tắc ứng xử thì chung nhất.

    Người đời thường coi trọng hình thức của lễ, nội dung của lễ, nhưng con nhà võ còn coi trọng nền tảng, nguyên tắc của lễ.

    Nguyên tắc đó là:

    Nhân ái và tôn trọng

    Nói tôn trọng là tôn trọng quyền tồn tại, quyền sống, quyền làm người, quyền làm người không giống ai. Trong đời sống xã hội, vị trí mỗi người tuy chẳng giống nhau, nhưng nhân cách làm người thì không khác nhau – ai cũng sinh ra và lớn lên bằng trái tim của mẹ; ai cũng bình đẳng trước thượng đế và trước cái chết. Có tinh thần tôn trọng, người tập võ không hạ mình trước bất cứ ai, không phân biệt ai hơn ai; không tâng bốc người trên, không miệt thị người dưới. Tôn trọng con người, tôn trọng mình, tôn trọng đối thủ, đó là một trong những phẩm chất hàng đầu của người học võ.

    Nhân ái là mục đích cuối cùng của người học võ, nó giúp định hướng hành vi của người học võ. Dù nghĩ gì, làm gì, nói gì, xử sự thế nào, tất cả đều phải nhằm mục đích làm sao cho con người tốt hơn, cho mình tốt hơn, cho đời đẹp hơn. Nếu không vì lòng nhân ái, hành động của người học võ không khác chi hành động của tên cướp, nhưng nếu vì lòng nhân ái, hành động của anh ta sẽ là hành động anh hùng – “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (Nguyễn Trãi).

    Khiêm tốn và nhún nhường

    Thói kiêu căng tự mãn là kẻ thù lớn nhất của người học võ. Sự hiểu biết không bao giờ có giới hạn. Ai không thấy thiếu sẽ không thêm được gì. Ai không biết ẩn mình sẽ không bay cao. Cái thùng đã đầy thì không còn chứa được nữa. Muốn nhảy lên cao thì phải rùn thấp. Muốn vượt qua xà phải biết uốn mình. Với người học võ, đức khiêm tốn không làm cho mình bé lại mà giúp mình có sức mạnh đi xa về trước; không làm cho mình thấp hơn đối thủ mà làm cho đối thủ không cao hơn mình. Đức khiêm tốn còn thể hiện đạo đức của người học võ: yêu người, vì người, “đi trước về sau”, “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người”.

    Niềm tin và bản lĩnh

    Ở đời, không ai có tất cả, không ai không có tất cả. Con gà trống gáy một tiếng, cả làng thức dậy, nhưng không đẻ được trứng; con gà mái đẻ được trứng, nhưng không làm kinh động được ai. Ông nông dân lấy vợ, sinh con, lao động cực nhọc nuôi sống gia đình, nhưng không làm được nhạc. Ông nhạc sĩ tài danh sáng tác cả pho nhạc hay làm rung động trái tim bao thế hệ, nhưng không có vợ con, không cuốc nổi một luống đất. Thật vô lý nếu ông nông dân nọ mặc cảm vì không sáng tác được nhạc; hoặc ông nhạc sĩ kia đau buồn vì không làm tròn thiên chức lấy vợ, sinh con. Cho nên, học võ là học để biết mình là ai, biết cách hun đúc mình, hoàn thiện mình, có niềm tin và tự hào về mình. Mất niềm tin là tự đánh mất vũ khí của mình. Niềm tin, đối với người trí thức, đó là sức mạnh nội tâm; đối với bậc thiền sư, đó là tinh thần vô uý; đối với người học võ, đó là dũng khí của người chiến sĩ. Mất niềm tin, con người hoặc rơi vào tự ti, trầm cảm; hoặc trở nên hung hăng, gây hấn. Chỉ có bản lĩnh, có niềm tin, người học võ mới có sức mạnh để thể hiện cái đức nhân ái, khiêm tốn, nhún nhường, và tôn trọng người khác.

    Nhân ái và tôn trọng, khiêm tốn và nhún nhường, bản lĩnh và niềm tin, đó không chỉ là nền tảng của mọi hành vi ứng xử, mà còn là nền tảng của tinh thần Hoà Hợp. Mục đích tối thượng của người học võ là thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người với tinh thần: cộng tác, cộng đồng, cộng hưởng, cùng hưởng… trong xã hội; thái hoà trong gia đình, và an lạc trong bản thân. Đây là điểm thanh niên chúng ta đang thiếu, thậm chí thiếu trầm trọng. Thanh niên chúng ta thiếu cái thuận mà thừa cái nghịch, thiếu cái hoà mà thừa cái bất hoà, thiếu đoàn kết mà thừa chia rẽ. Tôi từng nghe nói: “Một người Việt Nam và một người Nhật, thì người Nhật không bằng người Việt Nam. Ba người Việt Nam và ba người Nhật, thì ba người Việt Nam không bằng ba người Nhật”. Ấy là cách khẳng định thói xấu bất hợp tác, mất đoàn kết của người mình đó thôi. Vì sao ư? Có chi đâu, là vì chúng ta thiếu cái đức tôn trọng, yêu thương, khiêm tốn, bản lãnh và một sức mạnh nội tâm. Ở đời, phàm kẻ nào không có sức mạnh nội tâm, không có bản lĩnh, kẻ đó sẽ không nói được tiếng xin lỗi, xin cám ơn, xin vui lòng, xin nhận trách nhiệm… Và chắc chắn kẻ đó không thể thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người.

    Tất nhiên, ở trường học và trong gia đình, ai cũng mong muốn dạy con em mình biết lễ phép, biết cách ăn ở, cách đối nhân xử thế. Nhiều trường học nêu cả khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở cổng trường và trong các lớp học. Nhưng xem ra, chỉ có võ là dạy cái lễ cho người học hiệu quả nhất. Nói vậy là vì, chỉ có võ mới có chương trình học vừa cả võ vừa cả lễ; nội dung kiểm tra lên đai đẳng cũng bao gồm cả lễ và võ. Ngoài ra, việc thực hiện chương trình “học lễ” xuyên suốt, nhất quán, và triệt để. Đặc biệt, võ coi trọng đào luyện cái gốc song song với cái ngọn, nội dung song song với hình thức, nền tảng song song với biểu hiện – coi trọng việc giáo dục cho người học tinh thần nhân ái, tôn trọng con người, khiêm tốn, niềm tin, và bản lĩnh, song song với việc dạy cho các em cách đối nhân xử thế, cách quan hệ ứng xử cho phải phép, phải đạo với mọi người.

    Tiếc rằng, hiện nay nhiều người hiểu không đúng về võ. Họ cho võ là đánh nhau, là vai u thịt bắp, là mặt rổ mặt rạch… Họ không hề hiểu võ là một hình thái nghệ thuật, là công cụ giáo dục đạo làm người; học võ là học đạo làm người. Thêm vào đó, cũng vì có nhiều người dạy võ chỉ dừng lại ở mức “võ thuật” mà chưa đạt tới được mức “võ lý” và “võ đạo” – chỉ dạy cho người học cách đánh mà không dạy cho họ đánh ai, đánh thế nào, bảo vệ ai, bảo vệ cái gì… Đã thế, trong xu thế thị trường hoá, thương mại hoá, thể thao hoá, võ bị xếp ngang hàng với các môn thể thao khác. Người ta chạy theo thành tích, huy chương mà quên mất sứ mệnh giáo dục; chạy theo hư danh mà quên đi thực chất. Tất nhiên, võ cũng là một môn thể thao, nhưng không phải đơn thuần chỉ là một môn thể thao. Võ là môn thể thao truyền thống. Nó vừa phải làm nhiệm vụ đào tạo những vận động viên xuất sắc cho thể thao nước nhà, vừa phải hoàn thành sứ mệnh dạy cho người học sức khoẻ, phẩm chất đạo đức, đối nhân xử thế.

    Hẳn chúng ta đều biết, “Tinh thần Nhật Bản”, “Sức mạnh Nhật Bản” được hun đúc bởi ba dòng sữa: Thần đạo Shinto, Phật giáo Thiền tông, và Tinh thần Võ đạo. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, võ là một trong hai dòng suối tạo nên Sức mạnh Việt Nam – “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững. Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa. Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng. Rất hiên ngang mà nhân ái chan hoà” (Huy Cận). Từ Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… các bậc khai quốc, công thần đều xuất thân từ con nhà võ. Nhiều trong các triều đại ấy đều có trường dạy võ, chương trình học võ, và các kỳ thi võ (Tú tài, Cử nhân, Tiến sĩ). Rõ ràng, cùng với văn, võ đã góp phần hun đúc nguyên khí quốc gia, sức mạnh dân tộc; góp phần đào luyện con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có sức mạnh, niềm tin, và khí phách; được thử lửa qua suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm và xây dựng đất nước.

    Ngày nay, đất nước ta hoà bình, thống nhất, thịnh vượng. Chúng ta có nhiều bạn bè, nhiều đối tác khắp năm châu. Chúng ta đang hân hoan vươn ra biển lớn. Nhưng nhìn lại, xem ra dòng suối võ ngày nào không còn chảy nữa! Không biết nó tắt từ thời nào? Vì sao tắt? Có cần khơi thông không? Làm thế nào khơi thông trở lại để võ tiếp tục góp phần mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước? Rất cần các công trình nghiên cứu nghiêm túc, các hội nghị khoa học để làm sáng tỏ những vấn đề ấy.

    Thiết nghĩ, dù đứng trước kẻ thù hay đứng trước đối tác làm ăn, mỗi dân tộc, mỗi con người đều phải cần có sức mạnh, niềm tin, và khí phách. Thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, thì không thể đánh thắng ngoại xâm; thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, cũng không thể làm ăn sòng phẳng với người.
    Sưu tầm

    Dạy võ là dạy đạo làm người võ cổ truyền

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Người có võ rất coi trọng lễ và giữ lễ. Trong thời đại giao lưu, hội nhập; khi các mối quan hệ xã hội trở nên mong manh, các giá trị truyền thống dễ bị lung lay, biến dạng, cả hoà tan; xem ra chỉ có võ là còn giữ truyền thống “tôn sư trọng đạo”, là còn trọng lễ và giữ lễ.

    Với con nhà võ, nơi tập võ không phải là Câu Lạc Bộ như nhiều người nghĩ, mà là một Võ đường, Đạo đường; người Nhật gọi là Dojo (Jo là nơi, Do là đạo đức. Dojo là nơi trui rèn đạo đức).


    “Học lễ” là nội dung được thực hành liên tục, kiên định, nhất quán trong suốt quá trình dạy võ và học võ. Ngày đầu tiên đi học võ, người học phải trải qua thủ tục “Bái sư nhập môn”. Tuy không rườm rà như ngày trước, nhưng phép tắc thì phải duy trì: người học thắp cây hương trên bàn thờ Tổ, được gặp mặt Thầy, được giới thiệu với vị Huấn luyện viên trực tiếp huấn luyện, đặc biệt được hướng dẫn để biết phép tắc và những qui định của Võ đường… Bởi vì nơi tập là một Đạo đường, nên mỗi lần vào ra, người học phải cúi chào. Bất cứ lúc nào gặp thầy, bạn, huynh đệ, đều phải cúi chào. Bắt đầu và kết thúc một buổi tập, môn sinh phải chào Tổ, chào Thầy. Bắt đầu và kết thúc một trận đấu tập, hai đối thủ phải cúi chào nhau. Bắt đầu và kết thúc một bài quyền bao giờ cũng là cái chào. Bài tập đầu tiên trong cuộc đời học võ là bài chào. Trong Võ đường, và qua các kỳ kiểm tra, người học võ được đánh giá dựa trên hai tiêu chuẩn: thành tựu công phu và phẩm chất đạo đức, được thể hiện qua cung cách quan hệ, ứng xử với mọi người… Với những ai hiểu, thì đó không chỉ là hình thức mà còn bao hàm cả nội dung. Với những người học còn nhỏ tuổi, chưa kịp hiểu, thì cứ kiên trì thực hành lễ, một ngày kia tất sẽ ngộ ra ý nghĩa bên sau mỗi cái chào.

    Người học võ chân chính không coi cái chào là lễ, mà là hình thức của lễ, cách thể hiện lễ. Cái chào ngầm chứa nội dung vô cùng quan trọng, vốn là kim chỉ nam của người học võ, đó là cái đạo của võ và đạo đức của người học võ, gọi chung là Võ đạo. Cái chào chỉ như bóng điện, Võ đạo mới là dòng điện. Không có dòng điện, bóng điện không thể toả sáng; không có tinh thần Võ đạo, cái chào chỉ còn là động tác gật đầu.

    Cũng như quá trình tích tụ năng lượng để thắp sáng bóng đèn, quá trình học võ là quá trình tu dưỡng phẩm chất, đạo đức làm nền tảng cho hành vi ứng xử trong các mối quan hệ xã hội. Tuỳ theo từng mối quan hệ xã hội mà hành vi ứng xử khác nhau. Ví dụ, đối với cha mẹ khác đối với thầy, với bạn; đối với người thân, khác với kẻ sơ; với ân nhân khác với kẻ thù; cung cách đi dự đám cưới khác với dự đám ma… Nhưng dù sắc thái có khác nhau thế nào, thì tất cả đều được hình thành trên một nguyên tắc chung. Nói cách khác, nội dung ứng xử thì tuỳ từng mối quan hệ; nhưng nguyên tắc ứng xử thì chung nhất.

    Người đời thường coi trọng hình thức của lễ, nội dung của lễ, nhưng con nhà võ còn coi trọng nền tảng, nguyên tắc của lễ.

    Nguyên tắc đó là:

    Nhân ái và tôn trọng

    Nói tôn trọng là tôn trọng quyền tồn tại, quyền sống, quyền làm người, quyền làm người không giống ai. Trong đời sống xã hội, vị trí mỗi người tuy chẳng giống nhau, nhưng nhân cách làm người thì không khác nhau – ai cũng sinh ra và lớn lên bằng trái tim của mẹ; ai cũng bình đẳng trước thượng đế và trước cái chết. Có tinh thần tôn trọng, người tập võ không hạ mình trước bất cứ ai, không phân biệt ai hơn ai; không tâng bốc người trên, không miệt thị người dưới. Tôn trọng con người, tôn trọng mình, tôn trọng đối thủ, đó là một trong những phẩm chất hàng đầu của người học võ.

    Nhân ái là mục đích cuối cùng của người học võ, nó giúp định hướng hành vi của người học võ. Dù nghĩ gì, làm gì, nói gì, xử sự thế nào, tất cả đều phải nhằm mục đích làm sao cho con người tốt hơn, cho mình tốt hơn, cho đời đẹp hơn. Nếu không vì lòng nhân ái, hành động của người học võ không khác chi hành động của tên cướp, nhưng nếu vì lòng nhân ái, hành động của anh ta sẽ là hành động anh hùng – “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (Nguyễn Trãi).

    Khiêm tốn và nhún nhường

    Thói kiêu căng tự mãn là kẻ thù lớn nhất của người học võ. Sự hiểu biết không bao giờ có giới hạn. Ai không thấy thiếu sẽ không thêm được gì. Ai không biết ẩn mình sẽ không bay cao. Cái thùng đã đầy thì không còn chứa được nữa. Muốn nhảy lên cao thì phải rùn thấp. Muốn vượt qua xà phải biết uốn mình. Với người học võ, đức khiêm tốn không làm cho mình bé lại mà giúp mình có sức mạnh đi xa về trước; không làm cho mình thấp hơn đối thủ mà làm cho đối thủ không cao hơn mình. Đức khiêm tốn còn thể hiện đạo đức của người học võ: yêu người, vì người, “đi trước về sau”, “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người”.

    Niềm tin và bản lĩnh

    Ở đời, không ai có tất cả, không ai không có tất cả. Con gà trống gáy một tiếng, cả làng thức dậy, nhưng không đẻ được trứng; con gà mái đẻ được trứng, nhưng không làm kinh động được ai. Ông nông dân lấy vợ, sinh con, lao động cực nhọc nuôi sống gia đình, nhưng không làm được nhạc. Ông nhạc sĩ tài danh sáng tác cả pho nhạc hay làm rung động trái tim bao thế hệ, nhưng không có vợ con, không cuốc nổi một luống đất. Thật vô lý nếu ông nông dân nọ mặc cảm vì không sáng tác được nhạc; hoặc ông nhạc sĩ kia đau buồn vì không làm tròn thiên chức lấy vợ, sinh con. Cho nên, học võ là học để biết mình là ai, biết cách hun đúc mình, hoàn thiện mình, có niềm tin và tự hào về mình. Mất niềm tin là tự đánh mất vũ khí của mình. Niềm tin, đối với người trí thức, đó là sức mạnh nội tâm; đối với bậc thiền sư, đó là tinh thần vô uý; đối với người học võ, đó là dũng khí của người chiến sĩ. Mất niềm tin, con người hoặc rơi vào tự ti, trầm cảm; hoặc trở nên hung hăng, gây hấn. Chỉ có bản lĩnh, có niềm tin, người học võ mới có sức mạnh để thể hiện cái đức nhân ái, khiêm tốn, nhún nhường, và tôn trọng người khác.

    Nhân ái và tôn trọng, khiêm tốn và nhún nhường, bản lĩnh và niềm tin, đó không chỉ là nền tảng của mọi hành vi ứng xử, mà còn là nền tảng của tinh thần Hoà Hợp. Mục đích tối thượng của người học võ là thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người với tinh thần: cộng tác, cộng đồng, cộng hưởng, cùng hưởng… trong xã hội; thái hoà trong gia đình, và an lạc trong bản thân. Đây là điểm thanh niên chúng ta đang thiếu, thậm chí thiếu trầm trọng. Thanh niên chúng ta thiếu cái thuận mà thừa cái nghịch, thiếu cái hoà mà thừa cái bất hoà, thiếu đoàn kết mà thừa chia rẽ. Tôi từng nghe nói: “Một người Việt Nam và một người Nhật, thì người Nhật không bằng người Việt Nam. Ba người Việt Nam và ba người Nhật, thì ba người Việt Nam không bằng ba người Nhật”. Ấy là cách khẳng định thói xấu bất hợp tác, mất đoàn kết của người mình đó thôi. Vì sao ư? Có chi đâu, là vì chúng ta thiếu cái đức tôn trọng, yêu thương, khiêm tốn, bản lãnh và một sức mạnh nội tâm. Ở đời, phàm kẻ nào không có sức mạnh nội tâm, không có bản lĩnh, kẻ đó sẽ không nói được tiếng xin lỗi, xin cám ơn, xin vui lòng, xin nhận trách nhiệm… Và chắc chắn kẻ đó không thể thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người.

    Tất nhiên, ở trường học và trong gia đình, ai cũng mong muốn dạy con em mình biết lễ phép, biết cách ăn ở, cách đối nhân xử thế. Nhiều trường học nêu cả khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở cổng trường và trong các lớp học. Nhưng xem ra, chỉ có võ là dạy cái lễ cho người học hiệu quả nhất. Nói vậy là vì, chỉ có võ mới có chương trình học vừa cả võ vừa cả lễ; nội dung kiểm tra lên đai đẳng cũng bao gồm cả lễ và võ. Ngoài ra, việc thực hiện chương trình “học lễ” xuyên suốt, nhất quán, và triệt để. Đặc biệt, võ coi trọng đào luyện cái gốc song song với cái ngọn, nội dung song song với hình thức, nền tảng song song với biểu hiện – coi trọng việc giáo dục cho người học tinh thần nhân ái, tôn trọng con người, khiêm tốn, niềm tin, và bản lĩnh, song song với việc dạy cho các em cách đối nhân xử thế, cách quan hệ ứng xử cho phải phép, phải đạo với mọi người.

    Tiếc rằng, hiện nay nhiều người hiểu không đúng về võ. Họ cho võ là đánh nhau, là vai u thịt bắp, là mặt rổ mặt rạch… Họ không hề hiểu võ là một hình thái nghệ thuật, là công cụ giáo dục đạo làm người; học võ là học đạo làm người. Thêm vào đó, cũng vì có nhiều người dạy võ chỉ dừng lại ở mức “võ thuật” mà chưa đạt tới được mức “võ lý” và “võ đạo” – chỉ dạy cho người học cách đánh mà không dạy cho họ đánh ai, đánh thế nào, bảo vệ ai, bảo vệ cái gì… Đã thế, trong xu thế thị trường hoá, thương mại hoá, thể thao hoá, võ bị xếp ngang hàng với các môn thể thao khác. Người ta chạy theo thành tích, huy chương mà quên mất sứ mệnh giáo dục; chạy theo hư danh mà quên đi thực chất. Tất nhiên, võ cũng là một môn thể thao, nhưng không phải đơn thuần chỉ là một môn thể thao. Võ là môn thể thao truyền thống. Nó vừa phải làm nhiệm vụ đào tạo những vận động viên xuất sắc cho thể thao nước nhà, vừa phải hoàn thành sứ mệnh dạy cho người học sức khoẻ, phẩm chất đạo đức, đối nhân xử thế.

    Hẳn chúng ta đều biết, “Tinh thần Nhật Bản”, “Sức mạnh Nhật Bản” được hun đúc bởi ba dòng sữa: Thần đạo Shinto, Phật giáo Thiền tông, và Tinh thần Võ đạo. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, võ là một trong hai dòng suối tạo nên Sức mạnh Việt Nam – “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững. Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa. Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng. Rất hiên ngang mà nhân ái chan hoà” (Huy Cận). Từ Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… các bậc khai quốc, công thần đều xuất thân từ con nhà võ. Nhiều trong các triều đại ấy đều có trường dạy võ, chương trình học võ, và các kỳ thi võ (Tú tài, Cử nhân, Tiến sĩ). Rõ ràng, cùng với văn, võ đã góp phần hun đúc nguyên khí quốc gia, sức mạnh dân tộc; góp phần đào luyện con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có sức mạnh, niềm tin, và khí phách; được thử lửa qua suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm và xây dựng đất nước.

    Ngày nay, đất nước ta hoà bình, thống nhất, thịnh vượng. Chúng ta có nhiều bạn bè, nhiều đối tác khắp năm châu. Chúng ta đang hân hoan vươn ra biển lớn. Nhưng nhìn lại, xem ra dòng suối võ ngày nào không còn chảy nữa! Không biết nó tắt từ thời nào? Vì sao tắt? Có cần khơi thông không? Làm thế nào khơi thông trở lại để võ tiếp tục góp phần mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước? Rất cần các công trình nghiên cứu nghiêm túc, các hội nghị khoa học để làm sáng tỏ những vấn đề ấy.

    Thiết nghĩ, dù đứng trước kẻ thù hay đứng trước đối tác làm ăn, mỗi dân tộc, mỗi con người đều phải cần có sức mạnh, niềm tin, và khí phách. Thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, thì không thể đánh thắng ngoại xâm; thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, cũng không thể làm ăn sòng phẳng với người.
    Sưu tầm

    Học võ.
    Người xưa dạy rằng: “Tập võ chi đạo có thể được cường thân, mẫn trí. Một người tập võ thì được cường thân, một nhà tập võ thì được cường tộc. Đường lối của võ thuật trước tiên là phải trọng võ đức, muốn có võ đức phải hiểu rõ công lý, muốn hiểu rõ công lý thì phải có học vấn.” Võ thuật là môn học rộng lớn, thâm sâu, có tính khoa học, nghệ thuật, giáo dục văn hoá truyền thống…

    Võ là khoa học, nghệ thuật vì võ dạy cho con người phương pháp rèn luyện sức khoẻ, phát triển sức mạnh, ngăn ngừa bệnh tật theo khoa học giáo dục thể chất trong một nghệ thuật thần kỳ nuôi dưỡng tinh – khí – thần và nghệ thuật tự vệ, chiến đấu. Khoa học võ thuật đích thực có các nguyên lý cấu thành và liên hệ mật thiết với những khoa học tương cận như vật lý học, sinh học, y học, quân sự…Đặc biệt là triết học Đông phương.

    Võ là giáo dục văn hóa truyền thống vì võ dạy cho người học biết nuôi dưỡng nhân tính và sống theo đạo lý trong một tôn chỉ rèn luyện nhân cách làm người.


    Việc luyện tập võ thuật là một cuộc trường chinh để tự thắng chính mình, đưa con người đến sự giản dị, điềm đạm, khiêm tốn, đạt đến chân – thiện – mỹ trong cuộc sống. Chỉ có những ai không đi hết trọn con đường mới phải tự quảng cáo, khoe khoang, biện bạch. Trong tập sách Từ sinh lý đến dưỡng sinh, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã viết: “Tập vận động cho thân thể có nhiều cách, có những vận động tự nhiên như chạy, nhảy, bơi lội…thì ai cũng nên tập. Ngoài ra còn có các môn thể dục, thể thao tay không hay dụng cụ nhưng muốn rèn luyện để có các vận động điêu luyện thì tập võ là phương pháp hay nhất.”

    Thật vậy, tuy võ thuật có đặc thù là chiến đấu nhưng tập võ còn là phương pháp tốt để nâng cao sức khỏe, qua đó con người có thể rèn luyện được nhiều đức tính quý báu như bền bỉ, chịu đựng, nhanh nhẹn, mưu trí, gan dạ và nhất là ở đỉnh cao người học võ thì khiêm tốn, điềm đạm, giản dị, giàu lòng vị tha và nhân ái. Thuật làm cho thân thể được khoẻ mạnh có rất nhiều. Biết được một thuật đủ để cho thân thể khoẻ mạnh và sống lâu. Võ thuật là một trong các nghệ thuật đó. Võ thuật không chỉ là loại hình vận động thể dục thể thao giản đơn mà còn là một hiện tượng văn hoá thần kỳ với những thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái… những công phu đặc dị, khí công, âm dương, ngũ hành, điểm huyệt, giải huyệt…

    Do vậy cổ nhân thường ví võ học sâu như Đông hải, rậm rạp như rừng, mênh mông như biển cả. Võ thuật là giáo dục, văn hoá truyền thống, khoa học, quân sự, là phương pháp rèn luyện tu tập thể chất lẫn tinh thần và là môn học mang lại nhiều bổ ích. Đức Phật Thích Ca dạy các đệ tử rằng: “Đánh thắng vạn quân không bằng tự thắng chính mình, tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”.

    Tứ thư, Ngũ kinh là những bộ sách lớn, có giá trị trên nhiều phương diện, nhất là giáo dục. Chương thứ I, sách Đại học, bộ Tứ thư, luận về sự học viết:

    Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.
    Tri chỉ, nhi hậu hữu định. Định, nhi hậu năng tĩnh. Tĩnh, nhi hậu năng an. An, nhi hậu năng lự. Lự, nhi hậu năng đắc.
    Vật hữu bổn mạt; sự hữu chung, thuỷ. Tri sở tiên, hậu, tắc cận đạo hỹ.
    Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc. Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm. Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý. Dục thành kỳ ý giả, tiên tri kỳ tri. Trí tri tại cách vật.
    Vật cách, nhi hậu tri chí. Tri chí, nhi hậu ý thành. Ý thành, nhi hậu tâm chính. Tâm chính, nhi hậu thân tu. Thân tu, nhi hậu gia tề. Gia tề, nhi hậu quốc trị. Quốc trị, nhi hậu thiên hạ bình.
    Tự Thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Kỳ bản loạn, nhi mạt trị giả, phủ hỹ. Kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu giã.
    Khang Cáo viết: “ Khắc minh đức”.
    Thái Giáp viết: “Cố thị Thiên chi minh mệnh”.
    Đế Diễn viết: “Khắc minh tuấn đức”. Giai tự minh giã.

    Dịch nghĩa

    Cái đạo của đại học là ở tỏ đức sáng, ở mới dân và ở chỗ chỉ ư chí thiện.
    Trước hết phải biết mục đích, rồi sau mới quyết định, quyết định rồi bình tĩnh, bình tĩnh rồi sau mới vững được tinh thần. Tinh thần có vững mới nghĩ được những công việc cho đi đến kết quả.
    Vật có gốc ngọn, việc có trước sau. Biết phân biệt thứ tự là gần với đạo vậy.
    Người đời xưa muốn tỏ đức sáng cho thiên hạ biết thì trước khi trị nước phải lo cho yên nhà. Muốn lo cho yên nhà, trước hết phải sửa mình. Muốn sửa mình thì tâm phải ngay thẳng, ý chí phải thành thật. Muốn cho tâm được ngay thẳng, ý chí đươc thành thật, thì trước hết phải thông suốt vấn đề, phải hiểu lẽ sự vật.
    Hiểu lẽ sự vật rồi sau mới thông suốt vấn đề, rồi ý chí mới thành thật. Ý chí thành thật rồi tâm mới ngay thẳng. Tâm ngay thẳng rồi thân mới sửa. Thân sửa rồi nhà mới yên. Nhà yên rồi sau nước mới trị. Nước có trị rồi thiên hạ mới bình được.
    Từ Thiên tử cho đến người thường dân, ai ai cũng lấy sửa mình làm gốc cả. Gốc loạn mà ngọn yên không bao giờ có vậy. Cũng như chưa có ai đối với người hậu với mình mà xử bạc, đối với người bạc mà xử hậu.
    Thiên Khang Cáo nói: Phải làm cho sáng đức.
    Thiên Thái Giáp nói: Bao giờ cũng phải xét kỹ cái mệnh sáng của trời.
    Thiên Đế Diễn nói: Phải sáng đức lớn.
    Tất cả đều nói phải tự làm sáng đức mình vậy.
    (Tạ Thanh Bạch dịch chú)

    “Học võ là học đạo, trước tiên là đạo làm người, học võ còn để rèn luyện thân thể, lấy “dục thể, dục trí, dục đức” làm mục đích phấn đấu, bất luận trong hoàn cảnh nào, tinh thần thượng võ phải được tôn trọng. Người biết võ nên đóng góp công sức vào những việc ích nước lợi dân. Người giỏi võ mà kém trí đức chỉ là hạng võ biền hại người hại mình.” (Võ sư Hoắc Nguyên Giáp – Tinh võ môn)

    Dạy võ

    Thầy: tiếng gọi thiêng liêng, như tiếng gọi cha, gọi mẹ. Thầy là “sư phụ”, xưa quan niệm thầy là thiên chức không phải là nghề, thầy dạy chữ là giáo sư, thầy dạy võ là võ sư. Thầy là người có công ơn dạy dỗ, trau giồi, truyền đạt kiến thức, hun đúc ý chí, làm tấm gương soi rọi về nhân phẩm, đạo đức cho học trò noi theo mà nên người. Thành nhân là tôn chỉ của giáo dục. Dân gian có câu: “Không thầy đố mày làm nên”.

    Người xưa quan niệm truyền thụ võ công là việc trang nghiêm, người học đến võ đường phải làm lễ nhập môn, bái tổ, bái sư. Nghi thức ấy xem ra cổ mà kính, đó là khởi nguồn của lễ. Võ thuật bắt đầu bằng lễ và kết thúc cũng bằng lễ. Chính từ những quan niệm xưa ấy mà thầy trò giữ lễ với nhau, lấy nhân nghĩa làm tiêu chí hành xử. Thầy sẽ là tấm gương soi trong sáng cho hậu thế, lời nói đi đôi với việc làm, tri hành hợp nhất. Ngoài khả năng chuyên môn, tư cách đạo đức, người thầy còn làm sáng lên nhân cách xử thế, người học nhìn vào mà noi theo.

    3a39ed0e47vd05.jpg Học võ và dạy võ

    Người xưa trọng tinh thần hơn vật chất, do vậy ít nghe chuyện khoe khoang, quảng cáo, công nghệ đánh phấn tô hồng chữ tôi, mà tâm niệm học võ là để phát huy chữ đức. Thầy quang minh lỗi lạc, chính trực công minh như tướng lĩnh can trường ngoài mặt trận. Chuyện dùng những thủ đoạn thấp hèn, độc quyền xưng bá đồ vương võ lâm là điều không có với những người thầy liêm sỉ. Thầy trượng phu, quân tử coi cuộc đời như thủy bạc, tình nghĩa đón đưa đôi bờ, bốn bể là nhà, đất trời là giang sơn. Văn hóa võ thuật như rừng cây có nhiều gỗ quý.

    Thầy là sự mẫu mực, từ tri thức đến đạo hạnh. Dạy môn sinh bằng tâm đức, lấy lòng yêu thương, tâm huyết truyền thụ võ công, nên có câu: “danh sư xuất cao đồ”. Làm người thật khó, làm thầy thật khó hơn. Quan niệm xưa và nay bây giờ đã khác. Ngày xưa quan niệm: “Hữu xạ tự nhiên hương”, thầy giỏi và đức độ học trò tự “tầm sư học đạo”. Ngày nay kinh tế thị trường, quảng cáo tiếp thị là phương tiện giúp con người tìm đến nhau, nên có thầy đã tìm trò. Chính vì vậy mà nảy sinh chênh lệch đạo lý thầy trò, xã hội nhìn hình ảnh người thầy bằng một góc khác. Võ thuật là môn học đặc thù, trọng võ đức, nêu cao tinh thần thượng võ, thuyền trưởng chết theo tàu, tướng lãnh chết theo thành.

    Dạy võ là dạy nhân cách sống, nhân cách hành xử:

    - Điều thứ nhất là trong võ có đạo, đạo ở đây là đạo đức thuợng võ, đạo làm người, vì vậy người dụng võ trước tiên phải trọng võ đức, khi hành xử phải tự chủ, tự thắng chính mình để tránh được tối đa các kết quả xấu, ngoài ý muốn.

    - Điều thứ hai là võ không chỉ đơn thuần là quyền cước, binh khí chiến đấu mà đỉnh cao của võ là trí tuệ, mưu lược, khôn ngoan, uyển chuyển, khi cần thì lên cao, lúc không cần thì xuống thấp, linh hoạt ẩn hiện như con rồng. Người đánh trăm trận trăm thắng chưa phải là người giỏi nhất, không đánh mà buộc đối phương phải hàng, tâm phục khẩu phục mới thật là người giỏi nhất.

    - Điều thứ ba khi cần thiết phải dụng võ để chiến đấu tự tồn, mưu sinh thoát hiểm thì như mãnh hổ chốn rừng sâu, uy nghi, dũng cảm, cương quyết, tỉnh táo làm chủ trong mọi tình huống.

    - Điều thứ tư là văn ôn võ luyện, võ là hơi thở hằng ngày, là hành trang vạn dặm, có như vậy thì sự học võ mới không hoài công vô ích.

    - Điều thứ năm, là Thiên Mưu Công trong Tôn Tử Binh Pháp viết:
    Biết người biết ta trăm trận không nguy;
    Không biết người chỉ biết ta một được một thua;
    Không biết người không biết ta hễ đánh là nguy.

    Nhưng dù sao đi nữa thì: “Trong thế gian không có hương thơm nào bay ngược được chiều gió, chỉ có hương thơm đức hạnh mới có khả năng bay ngược chiều gió và tỏa ngát muôn phương”. (Kinh Pháp cú).

    Thầy dạy võ là:
    “Sổ hàng di biểu lưu thiên địa.
    Nhất phiến đan tâm phó sử thi”.
    Có nghĩa là:
    Đôi hàng soi dấu lưu muôn thuở.
    Một tấm lòng son tạc sử xanh.
    (Cổ thi)
    Võ sư Trương Văn Bảo
    Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam

    Học võ và dạy võ - triết lý rèn luyện võ thuật cổ truyền và võ hiện đại

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Học võ.
    Người xưa dạy rằng: “Tập võ chi đạo có thể được cường thân, mẫn trí. Một người tập võ thì được cường thân, một nhà tập võ thì được cường tộc. Đường lối của võ thuật trước tiên là phải trọng võ đức, muốn có võ đức phải hiểu rõ công lý, muốn hiểu rõ công lý thì phải có học vấn.” Võ thuật là môn học rộng lớn, thâm sâu, có tính khoa học, nghệ thuật, giáo dục văn hoá truyền thống…

    Võ là khoa học, nghệ thuật vì võ dạy cho con người phương pháp rèn luyện sức khoẻ, phát triển sức mạnh, ngăn ngừa bệnh tật theo khoa học giáo dục thể chất trong một nghệ thuật thần kỳ nuôi dưỡng tinh – khí – thần và nghệ thuật tự vệ, chiến đấu. Khoa học võ thuật đích thực có các nguyên lý cấu thành và liên hệ mật thiết với những khoa học tương cận như vật lý học, sinh học, y học, quân sự…Đặc biệt là triết học Đông phương.

    Võ là giáo dục văn hóa truyền thống vì võ dạy cho người học biết nuôi dưỡng nhân tính và sống theo đạo lý trong một tôn chỉ rèn luyện nhân cách làm người.


    Việc luyện tập võ thuật là một cuộc trường chinh để tự thắng chính mình, đưa con người đến sự giản dị, điềm đạm, khiêm tốn, đạt đến chân – thiện – mỹ trong cuộc sống. Chỉ có những ai không đi hết trọn con đường mới phải tự quảng cáo, khoe khoang, biện bạch. Trong tập sách Từ sinh lý đến dưỡng sinh, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã viết: “Tập vận động cho thân thể có nhiều cách, có những vận động tự nhiên như chạy, nhảy, bơi lội…thì ai cũng nên tập. Ngoài ra còn có các môn thể dục, thể thao tay không hay dụng cụ nhưng muốn rèn luyện để có các vận động điêu luyện thì tập võ là phương pháp hay nhất.”

    Thật vậy, tuy võ thuật có đặc thù là chiến đấu nhưng tập võ còn là phương pháp tốt để nâng cao sức khỏe, qua đó con người có thể rèn luyện được nhiều đức tính quý báu như bền bỉ, chịu đựng, nhanh nhẹn, mưu trí, gan dạ và nhất là ở đỉnh cao người học võ thì khiêm tốn, điềm đạm, giản dị, giàu lòng vị tha và nhân ái. Thuật làm cho thân thể được khoẻ mạnh có rất nhiều. Biết được một thuật đủ để cho thân thể khoẻ mạnh và sống lâu. Võ thuật là một trong các nghệ thuật đó. Võ thuật không chỉ là loại hình vận động thể dục thể thao giản đơn mà còn là một hiện tượng văn hoá thần kỳ với những thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái… những công phu đặc dị, khí công, âm dương, ngũ hành, điểm huyệt, giải huyệt…

    Do vậy cổ nhân thường ví võ học sâu như Đông hải, rậm rạp như rừng, mênh mông như biển cả. Võ thuật là giáo dục, văn hoá truyền thống, khoa học, quân sự, là phương pháp rèn luyện tu tập thể chất lẫn tinh thần và là môn học mang lại nhiều bổ ích. Đức Phật Thích Ca dạy các đệ tử rằng: “Đánh thắng vạn quân không bằng tự thắng chính mình, tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”.

    Tứ thư, Ngũ kinh là những bộ sách lớn, có giá trị trên nhiều phương diện, nhất là giáo dục. Chương thứ I, sách Đại học, bộ Tứ thư, luận về sự học viết:

    Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.
    Tri chỉ, nhi hậu hữu định. Định, nhi hậu năng tĩnh. Tĩnh, nhi hậu năng an. An, nhi hậu năng lự. Lự, nhi hậu năng đắc.
    Vật hữu bổn mạt; sự hữu chung, thuỷ. Tri sở tiên, hậu, tắc cận đạo hỹ.
    Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc. Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm. Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý. Dục thành kỳ ý giả, tiên tri kỳ tri. Trí tri tại cách vật.
    Vật cách, nhi hậu tri chí. Tri chí, nhi hậu ý thành. Ý thành, nhi hậu tâm chính. Tâm chính, nhi hậu thân tu. Thân tu, nhi hậu gia tề. Gia tề, nhi hậu quốc trị. Quốc trị, nhi hậu thiên hạ bình.
    Tự Thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Kỳ bản loạn, nhi mạt trị giả, phủ hỹ. Kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu giã.
    Khang Cáo viết: “ Khắc minh đức”.
    Thái Giáp viết: “Cố thị Thiên chi minh mệnh”.
    Đế Diễn viết: “Khắc minh tuấn đức”. Giai tự minh giã.

    Dịch nghĩa

    Cái đạo của đại học là ở tỏ đức sáng, ở mới dân và ở chỗ chỉ ư chí thiện.
    Trước hết phải biết mục đích, rồi sau mới quyết định, quyết định rồi bình tĩnh, bình tĩnh rồi sau mới vững được tinh thần. Tinh thần có vững mới nghĩ được những công việc cho đi đến kết quả.
    Vật có gốc ngọn, việc có trước sau. Biết phân biệt thứ tự là gần với đạo vậy.
    Người đời xưa muốn tỏ đức sáng cho thiên hạ biết thì trước khi trị nước phải lo cho yên nhà. Muốn lo cho yên nhà, trước hết phải sửa mình. Muốn sửa mình thì tâm phải ngay thẳng, ý chí phải thành thật. Muốn cho tâm được ngay thẳng, ý chí đươc thành thật, thì trước hết phải thông suốt vấn đề, phải hiểu lẽ sự vật.
    Hiểu lẽ sự vật rồi sau mới thông suốt vấn đề, rồi ý chí mới thành thật. Ý chí thành thật rồi tâm mới ngay thẳng. Tâm ngay thẳng rồi thân mới sửa. Thân sửa rồi nhà mới yên. Nhà yên rồi sau nước mới trị. Nước có trị rồi thiên hạ mới bình được.
    Từ Thiên tử cho đến người thường dân, ai ai cũng lấy sửa mình làm gốc cả. Gốc loạn mà ngọn yên không bao giờ có vậy. Cũng như chưa có ai đối với người hậu với mình mà xử bạc, đối với người bạc mà xử hậu.
    Thiên Khang Cáo nói: Phải làm cho sáng đức.
    Thiên Thái Giáp nói: Bao giờ cũng phải xét kỹ cái mệnh sáng của trời.
    Thiên Đế Diễn nói: Phải sáng đức lớn.
    Tất cả đều nói phải tự làm sáng đức mình vậy.
    (Tạ Thanh Bạch dịch chú)

    “Học võ là học đạo, trước tiên là đạo làm người, học võ còn để rèn luyện thân thể, lấy “dục thể, dục trí, dục đức” làm mục đích phấn đấu, bất luận trong hoàn cảnh nào, tinh thần thượng võ phải được tôn trọng. Người biết võ nên đóng góp công sức vào những việc ích nước lợi dân. Người giỏi võ mà kém trí đức chỉ là hạng võ biền hại người hại mình.” (Võ sư Hoắc Nguyên Giáp – Tinh võ môn)

    Dạy võ

    Thầy: tiếng gọi thiêng liêng, như tiếng gọi cha, gọi mẹ. Thầy là “sư phụ”, xưa quan niệm thầy là thiên chức không phải là nghề, thầy dạy chữ là giáo sư, thầy dạy võ là võ sư. Thầy là người có công ơn dạy dỗ, trau giồi, truyền đạt kiến thức, hun đúc ý chí, làm tấm gương soi rọi về nhân phẩm, đạo đức cho học trò noi theo mà nên người. Thành nhân là tôn chỉ của giáo dục. Dân gian có câu: “Không thầy đố mày làm nên”.

    Người xưa quan niệm truyền thụ võ công là việc trang nghiêm, người học đến võ đường phải làm lễ nhập môn, bái tổ, bái sư. Nghi thức ấy xem ra cổ mà kính, đó là khởi nguồn của lễ. Võ thuật bắt đầu bằng lễ và kết thúc cũng bằng lễ. Chính từ những quan niệm xưa ấy mà thầy trò giữ lễ với nhau, lấy nhân nghĩa làm tiêu chí hành xử. Thầy sẽ là tấm gương soi trong sáng cho hậu thế, lời nói đi đôi với việc làm, tri hành hợp nhất. Ngoài khả năng chuyên môn, tư cách đạo đức, người thầy còn làm sáng lên nhân cách xử thế, người học nhìn vào mà noi theo.

    3a39ed0e47vd05.jpg Học võ và dạy võ

    Người xưa trọng tinh thần hơn vật chất, do vậy ít nghe chuyện khoe khoang, quảng cáo, công nghệ đánh phấn tô hồng chữ tôi, mà tâm niệm học võ là để phát huy chữ đức. Thầy quang minh lỗi lạc, chính trực công minh như tướng lĩnh can trường ngoài mặt trận. Chuyện dùng những thủ đoạn thấp hèn, độc quyền xưng bá đồ vương võ lâm là điều không có với những người thầy liêm sỉ. Thầy trượng phu, quân tử coi cuộc đời như thủy bạc, tình nghĩa đón đưa đôi bờ, bốn bể là nhà, đất trời là giang sơn. Văn hóa võ thuật như rừng cây có nhiều gỗ quý.

    Thầy là sự mẫu mực, từ tri thức đến đạo hạnh. Dạy môn sinh bằng tâm đức, lấy lòng yêu thương, tâm huyết truyền thụ võ công, nên có câu: “danh sư xuất cao đồ”. Làm người thật khó, làm thầy thật khó hơn. Quan niệm xưa và nay bây giờ đã khác. Ngày xưa quan niệm: “Hữu xạ tự nhiên hương”, thầy giỏi và đức độ học trò tự “tầm sư học đạo”. Ngày nay kinh tế thị trường, quảng cáo tiếp thị là phương tiện giúp con người tìm đến nhau, nên có thầy đã tìm trò. Chính vì vậy mà nảy sinh chênh lệch đạo lý thầy trò, xã hội nhìn hình ảnh người thầy bằng một góc khác. Võ thuật là môn học đặc thù, trọng võ đức, nêu cao tinh thần thượng võ, thuyền trưởng chết theo tàu, tướng lãnh chết theo thành.

    Dạy võ là dạy nhân cách sống, nhân cách hành xử:

    - Điều thứ nhất là trong võ có đạo, đạo ở đây là đạo đức thuợng võ, đạo làm người, vì vậy người dụng võ trước tiên phải trọng võ đức, khi hành xử phải tự chủ, tự thắng chính mình để tránh được tối đa các kết quả xấu, ngoài ý muốn.

    - Điều thứ hai là võ không chỉ đơn thuần là quyền cước, binh khí chiến đấu mà đỉnh cao của võ là trí tuệ, mưu lược, khôn ngoan, uyển chuyển, khi cần thì lên cao, lúc không cần thì xuống thấp, linh hoạt ẩn hiện như con rồng. Người đánh trăm trận trăm thắng chưa phải là người giỏi nhất, không đánh mà buộc đối phương phải hàng, tâm phục khẩu phục mới thật là người giỏi nhất.

    - Điều thứ ba khi cần thiết phải dụng võ để chiến đấu tự tồn, mưu sinh thoát hiểm thì như mãnh hổ chốn rừng sâu, uy nghi, dũng cảm, cương quyết, tỉnh táo làm chủ trong mọi tình huống.

    - Điều thứ tư là văn ôn võ luyện, võ là hơi thở hằng ngày, là hành trang vạn dặm, có như vậy thì sự học võ mới không hoài công vô ích.

    - Điều thứ năm, là Thiên Mưu Công trong Tôn Tử Binh Pháp viết:
    Biết người biết ta trăm trận không nguy;
    Không biết người chỉ biết ta một được một thua;
    Không biết người không biết ta hễ đánh là nguy.

    Nhưng dù sao đi nữa thì: “Trong thế gian không có hương thơm nào bay ngược được chiều gió, chỉ có hương thơm đức hạnh mới có khả năng bay ngược chiều gió và tỏa ngát muôn phương”. (Kinh Pháp cú).

    Thầy dạy võ là:
    “Sổ hàng di biểu lưu thiên địa.
    Nhất phiến đan tâm phó sử thi”.
    Có nghĩa là:
    Đôi hàng soi dấu lưu muôn thuở.
    Một tấm lòng son tạc sử xanh.
    (Cổ thi)
    Võ sư Trương Văn Bảo
    Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam

    Sách Luận ngữ có câu: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng giả”, có nghĩa là thấy việc nghĩa không làm không phải là người có dũng, thấy việc đúng mà không làm thì không phải là người quân tử, vì vậy tiêu chí của người học võ là trọng nghĩa.

    Dũng không phải là thấy việc bất bình thì “động thủ”, liều chết xông lên. Khi bị binh lính hành hình trên thập tự giá, trước lúc trút hơi thở cuối cùng, Đức Chúa Giê Su nói: “Xin Cha hãy tha thứ cho chúng, vì chúng không hiểu việc chúng làm”. Tinh thần điềm đạm và nhân ái ấy chính là đại dũng.


    Người dụng võ đại dũng chân chính, chiếu không thẳng không ngồi (tịch bất chính bất tọa), việc phi nghĩa không nhúng tay. Nhưng, được mấy người như vậy? Thế sự phù trầm trên con đường tu học, người giác ngộ thì ít, kẻ giả vờ giác ngộ thì nhiều. Vì vậy, lời hát hay không lọt được vào tai chúng nhân, hát líu lo bậy bạ thì chúng lại cùng nhau vỗ tay khen hay.

    Trong Lục tài tử thư (1), Nam Hoa Kinh của Trang tử là bộ sách xếp hàng thứ nhất. Để miêu tả tinh thần đại dũng của một hiền sĩ qua hình ảnh loài chim Uyên Sồ; Thiên Thu Thủy trong Nam Hoa Kinh có đoạn chép:

    Huệ tử làm quan nước Lương, Trang tử tính qua nước Lương thăm. Nhưng, có kẻ nói với Huệ tử: “Trang tử mà qua đây là để cùng ông tranh ngôi tướng quốc”. Huệ tử sợ, cho kẻ canh chừng suốt ba ngày ba đêm, đợi Trang tử đến thì bắt.”

    Trang tử hay chuyện, không đi. Sau rồi lại đến. Gặp Huệ tử ,Trang tử bảo: “Phương Nam có con chim tên là Uyên Sồ, ông có biết không? Uyên Sồ bay từ biển Nam qua biển Bắc, nếu không gặp cây ngô đồng thì không chịu đậu; nếu không gặp hột luyện thì không ăn; nếu không gặp giếng nước ngọt thì không uống”.

    Có con chim ụt đang rỉa xác chuột chết giữa cánh đồng, thấy Uyên Sồ bay ngang, sợ nó giành miếng ăn nên kêu to lên để dọa Uyên Sồ đừng đáp xuống.

    Nay vì sợ cái ngôi tướng quốc của ông ở nước Lương nên ông kêu to lên để dọa tôi sao?”

    Chiến Quốc Sách viết chuyện Yêu Ly và Khánh Kỵ: Yêu Ly vì cảm cái nghĩa của Hạp Lư mà hứa giúp cho để lừa giết Khánh Kỵ. Một hôm Khánh Kỵ ngồi ở mũi thuyền chỉ huy binh sĩ, thì Yêu Ly cầm kích đứng sau lưng mà hầu, thừa lúc thuận chiều, đâm kích suốt qua bụng Khánh Kỵ. Khánh Kỵ sức khỏe phi thường, liền trở tay với bắt Yêu Ly, xách ngược lên, dìm đầu xuống nước ba lần, nhưng rồi lại ẵm lên để trong lòng, cúi nhìn cười và bảo: “Thiên hạ lại còn có kẻ dũng sĩ này có gan đâm ta chớ!”

    Các tướng sĩ toan đâm chết Yêu Ly, nhưng Khánh Kỵ gạt đi, bảo: “Người này là một bậc đại dũng. Trong một ngày chớ nên để chết hai người dũng sĩ của thiên hạ. Các ngươi nên tha hắn, để hắn về Ngô tỏ lòng trung”.

    Khánh Kỵ tha Yêu Ly rồi rút ngọn kích trong bụng ra mà chết. Sau đó, Yêu Ly cảm tinh thần đại dũng của Khánh Kỵ liền rút gươm tự sát.

    Yêu Ly là người đại dũng. Khánh Kỵ lại còn là người trên người đại dũng.

    Lạn Tương Như, một bậc đại dũng, người đời Chiến Quốc, môn hạ của vua Triệu. Qua việc dâng ngọc cho vua Tần mà tỏ dũng khí buộc vua Tần phải giữ lời hứa giao thành đổi ngọc cho Triệu. Cảm nghĩa khí ấy, vua Triệu ban tặng lời khen ngợi và phong chức Thượng tướng trước quần thần cho Lạn Tương Như.

    Cũng vì lời khen và phong chức cho Lạn Tương Như của vua Triệu mà tướng quốc Liêm Pha của Triệu đem lòng ganh tị, bất mãn. Lạn Tương Như biết được nên tìm đường lánh Liêm Pha không cho gặp mặt.

    Có lần Lạn Tương Như ra đường gặp Liêm Pha trước sau tả hữu quân lính ồ ạt theo hầu. Tương Như thấy vậy bảo người đánh xe tránh vào ngõ hẻm, chờ Liêm Pha qua khỏi mới đi. Kẻ thủ hạ thấy vậy muốn biết nguyên nhân.

    Lạn Tương Như hỏi: “Các ngươi xem Liêm tướng quân uy lực có bằng vua Tần không?”. Bọn xá nhân đáp: “Không bằng”. Lạn Tương Như nói: “Lấy cái uy lực của vua Tần trong thiên hạ không ai dám chống, thế mà ta dám đương nhiên mắng vào mặt vua Tần và làm nhục cả quần thần. Ta dẫu hèn, há sợ Liêm Pha sao? Tuy nhiên ta nghĩ sở dĩ nước Tần không dám đánh Triệu là vì có ta và Liêm Pha. Nay nếu ta và Liêm Pha vì hiềm khích hại nhau, Tần sẽ thừa cơ đem quân đánh Triệu. Ta nghĩ đến sự tồn vong của đất nước mà bỏ chuyện hiềm khích vì ganh tị cá nhân của Liêm Pha đó thôi.”

    “Nhân tất hữu dũng”, nghĩa là người có lòng nhân ái là người có dũng. Người đời ngưỡng mộ võ, vì thấy những tấm gương đại dũng của người dụng võ. Người đời khinh rẻ võ, bởi thấy nhiều ngừời dụng võ tham tài (tiền) bỏ ngãi (nghĩa).

    Đại dũng là đức tính cao quý của người dụng võ. Người đại dũng khiêm cung, hòa ái, can đảm, bất khuất, kiên cường…lấy nhân, nghĩa làm đường tiến thủ.
    Võ sư Trương Văn Bảo

    Đại dũng: triết lý, đạo đức người luyện võ thuật

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Kiến-thức-võ-thuật  |  Read More»

    Sách Luận ngữ có câu: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng giả”, có nghĩa là thấy việc nghĩa không làm không phải là người có dũng, thấy việc đúng mà không làm thì không phải là người quân tử, vì vậy tiêu chí của người học võ là trọng nghĩa.

    Dũng không phải là thấy việc bất bình thì “động thủ”, liều chết xông lên. Khi bị binh lính hành hình trên thập tự giá, trước lúc trút hơi thở cuối cùng, Đức Chúa Giê Su nói: “Xin Cha hãy tha thứ cho chúng, vì chúng không hiểu việc chúng làm”. Tinh thần điềm đạm và nhân ái ấy chính là đại dũng.


    Người dụng võ đại dũng chân chính, chiếu không thẳng không ngồi (tịch bất chính bất tọa), việc phi nghĩa không nhúng tay. Nhưng, được mấy người như vậy? Thế sự phù trầm trên con đường tu học, người giác ngộ thì ít, kẻ giả vờ giác ngộ thì nhiều. Vì vậy, lời hát hay không lọt được vào tai chúng nhân, hát líu lo bậy bạ thì chúng lại cùng nhau vỗ tay khen hay.

    Trong Lục tài tử thư (1), Nam Hoa Kinh của Trang tử là bộ sách xếp hàng thứ nhất. Để miêu tả tinh thần đại dũng của một hiền sĩ qua hình ảnh loài chim Uyên Sồ; Thiên Thu Thủy trong Nam Hoa Kinh có đoạn chép:

    Huệ tử làm quan nước Lương, Trang tử tính qua nước Lương thăm. Nhưng, có kẻ nói với Huệ tử: “Trang tử mà qua đây là để cùng ông tranh ngôi tướng quốc”. Huệ tử sợ, cho kẻ canh chừng suốt ba ngày ba đêm, đợi Trang tử đến thì bắt.”

    Trang tử hay chuyện, không đi. Sau rồi lại đến. Gặp Huệ tử ,Trang tử bảo: “Phương Nam có con chim tên là Uyên Sồ, ông có biết không? Uyên Sồ bay từ biển Nam qua biển Bắc, nếu không gặp cây ngô đồng thì không chịu đậu; nếu không gặp hột luyện thì không ăn; nếu không gặp giếng nước ngọt thì không uống”.

    Có con chim ụt đang rỉa xác chuột chết giữa cánh đồng, thấy Uyên Sồ bay ngang, sợ nó giành miếng ăn nên kêu to lên để dọa Uyên Sồ đừng đáp xuống.

    Nay vì sợ cái ngôi tướng quốc của ông ở nước Lương nên ông kêu to lên để dọa tôi sao?”

    Chiến Quốc Sách viết chuyện Yêu Ly và Khánh Kỵ: Yêu Ly vì cảm cái nghĩa của Hạp Lư mà hứa giúp cho để lừa giết Khánh Kỵ. Một hôm Khánh Kỵ ngồi ở mũi thuyền chỉ huy binh sĩ, thì Yêu Ly cầm kích đứng sau lưng mà hầu, thừa lúc thuận chiều, đâm kích suốt qua bụng Khánh Kỵ. Khánh Kỵ sức khỏe phi thường, liền trở tay với bắt Yêu Ly, xách ngược lên, dìm đầu xuống nước ba lần, nhưng rồi lại ẵm lên để trong lòng, cúi nhìn cười và bảo: “Thiên hạ lại còn có kẻ dũng sĩ này có gan đâm ta chớ!”

    Các tướng sĩ toan đâm chết Yêu Ly, nhưng Khánh Kỵ gạt đi, bảo: “Người này là một bậc đại dũng. Trong một ngày chớ nên để chết hai người dũng sĩ của thiên hạ. Các ngươi nên tha hắn, để hắn về Ngô tỏ lòng trung”.

    Khánh Kỵ tha Yêu Ly rồi rút ngọn kích trong bụng ra mà chết. Sau đó, Yêu Ly cảm tinh thần đại dũng của Khánh Kỵ liền rút gươm tự sát.

    Yêu Ly là người đại dũng. Khánh Kỵ lại còn là người trên người đại dũng.

    Lạn Tương Như, một bậc đại dũng, người đời Chiến Quốc, môn hạ của vua Triệu. Qua việc dâng ngọc cho vua Tần mà tỏ dũng khí buộc vua Tần phải giữ lời hứa giao thành đổi ngọc cho Triệu. Cảm nghĩa khí ấy, vua Triệu ban tặng lời khen ngợi và phong chức Thượng tướng trước quần thần cho Lạn Tương Như.

    Cũng vì lời khen và phong chức cho Lạn Tương Như của vua Triệu mà tướng quốc Liêm Pha của Triệu đem lòng ganh tị, bất mãn. Lạn Tương Như biết được nên tìm đường lánh Liêm Pha không cho gặp mặt.

    Có lần Lạn Tương Như ra đường gặp Liêm Pha trước sau tả hữu quân lính ồ ạt theo hầu. Tương Như thấy vậy bảo người đánh xe tránh vào ngõ hẻm, chờ Liêm Pha qua khỏi mới đi. Kẻ thủ hạ thấy vậy muốn biết nguyên nhân.

    Lạn Tương Như hỏi: “Các ngươi xem Liêm tướng quân uy lực có bằng vua Tần không?”. Bọn xá nhân đáp: “Không bằng”. Lạn Tương Như nói: “Lấy cái uy lực của vua Tần trong thiên hạ không ai dám chống, thế mà ta dám đương nhiên mắng vào mặt vua Tần và làm nhục cả quần thần. Ta dẫu hèn, há sợ Liêm Pha sao? Tuy nhiên ta nghĩ sở dĩ nước Tần không dám đánh Triệu là vì có ta và Liêm Pha. Nay nếu ta và Liêm Pha vì hiềm khích hại nhau, Tần sẽ thừa cơ đem quân đánh Triệu. Ta nghĩ đến sự tồn vong của đất nước mà bỏ chuyện hiềm khích vì ganh tị cá nhân của Liêm Pha đó thôi.”

    “Nhân tất hữu dũng”, nghĩa là người có lòng nhân ái là người có dũng. Người đời ngưỡng mộ võ, vì thấy những tấm gương đại dũng của người dụng võ. Người đời khinh rẻ võ, bởi thấy nhiều ngừời dụng võ tham tài (tiền) bỏ ngãi (nghĩa).

    Đại dũng là đức tính cao quý của người dụng võ. Người đại dũng khiêm cung, hòa ái, can đảm, bất khuất, kiên cường…lấy nhân, nghĩa làm đường tiến thủ.
    Võ sư Trương Văn Bảo

    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."
    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.

    Về danh xưng “Võ cổ truyền Việt Nam”, theo võ sư Võ Kiểu nguyên tổng thư ký liên đoàn Quyền thuật miền Trung trước 1975: “Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi “võ ta”, là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!” Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng “Võ Ta” bằng tên gọi “võ cổ truyền Việt Nam”có thể “vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa” trong môn võ đẹp này.

    15 16 28 46 958 Lịch sử Võ cổ truyền

    Lịch sử
    Tại Việt Nam, thời Pháp mới chiếm Việt Nam, các hệ phái võ thuật cổ truyền bị thực dân Pháp cấm lưu hành vì những người đứng đầu các phong trào khởi nghĩa chống Pháp đều là người giỏi võ Việt Nam. Khoảng năm 1925, võ cổ truyền Việt Nam được khôi phục song song với các môn võ ngoại quốc khác được đưa vào Việt Nam, như: Quyền Anh (Boxing, Boxe), Thiếu Lâm (Shaolin)…

    Trong giai đoạn này, nhiều võ sư huyền thoại đã để lại danh tiếng: toàn quốc Việt Nam, trước năm 1945, ai cũng nghe danh Tứ Đại Võ Sư là Bái Mùa Cát Quế, đào tạo vô số thanh niên yêu nước sẵn sàng bảo vệ quê hương mến yêu và phụng sự dân tộc, tạo truyền thống thượng võ lan rộng khắp năm châu. Sau năm 1945, cụ Quế có các cao đồ là Sư Tổ Nguyễn văn Quý và Trưởng Tràng là Võ Sư Đặng văn Hinh, kế tiếp là Võ Sư kiêm Giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Quang Lương, Chưởng Môn võ phái Việt Đạo Quán trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đến năm 1975 được bổ nhiệm làm Chưởng Môn Việt Đạo Quán Thế Giới; 3 võ sư còn lại trong 4 đại danh sư kể trên được mệnh danh là “Tam Nhựt” gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa vì có công lớn trong việc khôi phục truyền thống võ Việt Nam trong thời gian này. Mãi đến khi Pháp rời khỏi Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự phục hồi võ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam ( VABA ),và Tổng Hội Võ Sư Nghiên Cứu Và Phổ Biến Võ Học Việt Nam, gọi tắt là Tổng Hội Võ Học Việt Nam. Ba võ sư có công lớn trong giai đoạn này là: Trương Thanh Đăng, sư tổ của võ phái Bình Định Sa Long Cương, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai (được mệnh danh là “Tam Nguyệt”) tiếp nối việc khôi phục và phát triển võ Việt Nam.

    Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 đến năm 1963, Ngô Đình Diệm lại tiếp tục cấm các đoàn võ thuật phát triển (trong đó có võ Việt Nam), vì năm 1960, trong lực lượng tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm thất bại có đoàn võ sĩ Nhu đạo do võ sư Phạm Lợi chỉ huy. Năm 1964, võ thuật được tiếp tục hoạt động, trong đó có võ Việt Nam. Trong giai đoạn này, võ thuật Việt Nam đã lớn mạnh, sánh vai ngang hàng với võ thuật các nước trong khu vực, như: Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Campuchia… Nhiều võ sĩ Việt Nam đã chiến thắng vẻ vang trước nhà vô địch của các nước bạn trong trong khu vực. Bốn võ sư đã có công đào tạo nhiều võ sĩ ưu tú cho làng quyền thuật Việt Nam, nhất là đào tạo nhiều võ sĩ giỏi đại diện cho màu cờ sắc áo Việt Nam chiến thắng vẻ vang nhiều nhà vô địch của các nước bạn, chính là: Từ Thiện Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Bốn võ sư này đã được Tổng Nha Thanh Niên trao tặng Bằng Khen về các thành tích vẻ vang cho đất nước, và từ đó, giới võ thuật gọi bốn võ sư này là “Tứ Tú” (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp “Tam Nhựt” (ba mặt trời) và “Tam Nguyệt” (ba mặt trăng) trong việc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, do tình hình trật tự an ninh còn hỗn loạn, võ thuật Việt Nam tạm ngừng phát triển một thời gian. Năm 1979, nhân sự kiện quân đội Trung Quốc và quân đội Khmer đỏ tấn công Việt Nam, nhà nước Việt Nam đã cho khôi phục hoạt động võ thuật, trong đó có võ thuật cổ truyền Việt Nam, để tập hợp thanh niên rèn luyện tinh thần bất khuất sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau đó, các Liên đoàn võ thuật hình thành để quản lý phong trào võ thuật, trong đó có Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam hình thành năm 1991. Tuy nhiên, do nhiều lý do, từ đó cho đến năm 2007, võ thuật Việt Nam vẫn chưa được nhà nước Việt Nam quan tâm phát triển như những môn võ thuật có thi đấu quốc tế như: Taekwondo, Judo, Karatedo, Wushu, Pencak silat, Boxing, Vovinam…

    Đặc điểm
    Võ thuật cổ truyền Việt Nam thể hiện một số đặc điểm:

    Thường là võ trận, sử dụng trong trận mạc, chiến đấu chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên hoang dã, chống trả và săn bắt hổ, lợn rừng, bảo vệ nhà cửa, làng xóm, chống trộm cướp.
    Thích hợp với nhiều loại địa hình.
    Thực dụng, linh hoạt.
    Dĩ công vi thủ, dĩ nhu chế cương, dĩ đoản chế trường.
    Các bài quyền đều có lời thiệu bằng thơ, phú
    Muốn luyện thành thạo phải luyện với thiên nhiên nơi có khí trong lành, để tăng khí công trong người, khi đó ra đòn sẽ mạnh hơn.
    Một số hệ phái võ thuật cổ truyền Việt Nam
    Miền Bắc
    Hoàng quyền
    Nhất Nam (võ Hét)
    Võ Vật Liễu Đôi
    Thăng Long Võ Đạo
    Nam Hồng Sơn
    Thanh Phong Võ Đạo
    Miền Trung
    Tây Sơn Võ Đạo
    Bình Thái Đạo
    Áo Vải
    Miền Nam
    Bạch Hổ Võ Phái
    Tân Khánh Bà Trà
    Kim Kê
    Thanh Long Võ Đạo
    Tiên Long Quyền Đạo
    Bình Định Sa Long Cương
    Trúc Lâm Thái Hư
    Việt Đạo Quán
    Tây Sơn Bình Định
    Hóa Quyền Đạo [2]
    Hải ngoại
    Sơn Long Quyền Thuật
    Võ Thuật Văn Võ Đạo
    Phượng Long Võ Đạo
    Nam Hổ Quyền
    Hoa Long Võ Đạo
    Tinh Võ Nam Hải
    Võ Khí Thuật
    Thiếu Hổ
    Văn Long Võ Đường
    Minh Tâm Võ Đạo
    Trường Bạch Long
    Võ Kinh Vạn Nam Phái
    Thủy Pháp
    Cây Lau Võ Đường
    Minh Long Tây Sơn Võ Đạo [3]
    Việt Đạo Quán Thế Giới [4]
    Qwankido (Quán Khí Đạo)
    Việt Võ Đạo
    Đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu chú ý đến tác dụng của võ thuật cổ truyền trong việc rèn luyện sức khoẻ vì mục đích dưỡng sinh, trường thọ. Điều đó có nghĩa là đã đến lúc người ta hiểu ra rằng, võ thuật ra đời không chỉ để cho con người có công cụ đấu tranh chống lại thú dữ và kẻ thù bên ngoài mà còn để giúp họ chống lại kẻ thù bên trong cơ thể là bệnh tật.

    Tại Trung quốc, nguyên thuỷ môn Thái Cực Quyền là võ thuật chiến đấu, tương truyền có từ thời Trương Tam Phong (vào khoảng thế kỷ thứ 12) hoặc Vương Tông Nhạc (1733-1795), đã được lưu truyền bởi năm dòng họ (Trần, Dương, Vũ, Ngô, Tôn ). Riêng Thái Cực Quyền của dòng họ Dương, khởi nguồn từ Dương Lộ Thiền (1799-1872) và truyền đến Dương Thủ Trung (1010-1985) thì đến năm 1956 được Trung Hoa Quốc Gia Thể Uỷ của Trung Quốc giản hoá thành bài quyền hoàn toàn vì mục đích tập luyện dưỡng sinh, được gọi là "Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền ". Chẳng bao lâu sau, bài võ dưỡng sinh Thái Cực Quyền này ngày càng được đông đảo các võ sư và người chưa từng tập võ theo tập. Các bài võ dưỡng sinh tiếp theo như Thái Cực Kiếm, Thái Cực Đao, Thái Cực Thương, Đơn phiến, Song phiến... tiếp tục ra đời do được biên soạn từ các bài võ cổ truyền Trung Quốc, đã cùng với bài Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền được phổ biến ra nhiều nước trên thế giới.

    Năm 1983 được chọn là "Năm quốc tế người già" đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam có mục đích dùng Võ hỗ trợ cho Y để phòng chống bệnh tật, phục hồi sức khoẻ đồng thời dùng y học hiện đại và y học cổ truyền lý giải cơ sở khoa học của các động tác kỹ thuật và những hình thức vận động võ thuật nhằm đạt được yêu cầu dưỡng sinh. Người ta nói rằng, từ đây võ thuật công khai xác định đối thủ cần đánh bại là bệnh tật và phong trào tập luyện đẩy lùi bệnh tật được gọi là "Y Võ dưỡng sinh"

    Hiệu ứng rõ nhất của phong trào Y Võ dưỡng sinh nói trên là sự xuất hiện và lan rộng rất nhanh của phong trào tập bài võ dưỡng sinh cổ truyền có tên Thái Cực Trường Sinh, do ông Song Tùng khởi xướng vào năm 1986 ở miền Bắc .

    Theo tài liệu phổ biến của Trung tâm Trường Sinh Đạo (từ năm 1995 chuyển thành trung tâm trực thuộc UNESCO Việt Nam) thì ông Song Tùng lúc 33 tuổi, cơ thể ốm yếu do mang một số bệnh tật, đã được người cậu ruột là ông Hoàng Đình Thực (quê Nghệ Tĩnh) dạy bài võ gia truyền Thái Cực Trường Sinh để chữa bệnh. Tài liệu này khẳng định Thái Cực Trường Sinh là một bài võ cổ truyền có tính dân tộc: "Hơn nửa tháng ở quê nhà, cụ Thực ân cần chỉ dẫn cho học trò Song Tùng cách chạy chữa bằng phép luyện quyền thuật. Võ thuật là rèn luyện thể lực, ứng phó trong mọi tình huống. Luyện hình của bài này là quyền thuật, nhưng khác quyền thuật ở chỗ động tác của bài này chỉ là phương tiện để đạt được đạo. Ai có cơ duyên, đạo sẽ đến. Đạo ở đây là "võ đạo"".

    Theo ý kiến của cụ Song Tùng: "đây là bài Thái Cực Quyền kết hợp với luyện Thiền từ Trung Quốc và Yoga của Ấn Độ truyền bá sang Việt Nam, được cha ông chúng ta "Việt hóa"".

    Càng ngày người ta càng khẳng định tác dụng phòng ngừa và chữa bệnh của võ thuật, đặc biệt là võ cổ truyền, và bắt tay vào việc khai thác để ứng dụng trong tập dưỡng sinh. Ngày nay đất nước chúng ta có hằng triệu người, kể cả những người còn trẻ, mang nhiều bệnh mãn tính chạy chữa bằng thuốc đông, tây y nhiều năm không có kết quả. Hằng năm phải tốn cả triệu mỹ kim nhập thuốc an thần, trấn thống cũng chỉ giúp người bệnh tạm thời vượt qua cơn đau thể xác chớ không chữa khỏi bệnh tật.

    Những bệnh mãn tính ngày càng phát triển này thường là:

    - Loãng xương, thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm dẫn đến tê, bại tay, chân, đau nhức vai, gáy, đau nhức thần kinh toạ,

    - Mất ngủ dẫn đến suy nhược thần kinh, giảm khả năng làm việc,

    - Tăng huyết áp kéo dài dẫn đến tai biến mạch máu não, suy tim, hại thận, tiểu đường, nhồi máu cơ tim, đột quị.

    Nguồn gốc của các bệnh mãn tính trên đều có thể giải quyết triệt để bằng việc tập luyện quyền thuật võ cổ truyền theo những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc đó là:

    1. Thực hành chính xác kỹ thuật vận động đòn, thế, theo cơ cấu kiến thiết bài quyền để giải toả những bế tắc về mặt cơ học,

    2. Áp dụng phương pháp tập luyện hoà hoãn, cương nhu phối triển và lấy nhu làm chủ đạo, để điều chỉnh theo hướng tích cực hoạt động của hệ thần kinh.

    3. Tập trung cao độ ý chí vào việc ghi nhớ, dẫn dắt động tác nhằm tạo ra sự hưng phấn tinh thần để đưa hoạt động huyết mạch vào tình trạng ức chế có lợi cho hoạt động của bộ máy tuần hoàn, hạ thấp huyết áp, giải toả căng thẳng thần kinh, căng cứng cơ bắp (stress), khôi phục trí nhớ.

    4. Hít sâu, thở hết và luân chuyển khí có mục tiêu nhưng tự nhiên, thoải mái để bồi bổ dưỡng khí (oxy) cho máu, thải thoát thán khí (carbonic) ra khỏi máu, gia tăng sự vận động thuận lợi của hoạt động nội tạng và các tuyến nội tiết.

    Trong những bài quyền võ cổ truyền Việt Nam (trước đây gọi là "Võ Ta") có một số bài, đặc biệt có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa và chữa trị các bệnh mãn tính trên như:

    - Xà quyền (đối với các bệnh về cột sống, loãng xương),

    - Phụng Hoàng quyền (đối với các bệnh về thần kinh, rèn luyện phần tiền đình não, làm giảm nguy cơ mất thăng bằng, chóng mặt, ngã té ở người lớn tuổi),

    - Hổ quyền (đối với các bệnh về khớp, duy trì sự cường tráng của cơ thể)

    - Hầu quyền (đối với các bệnh lão hoá về ngũ giác quan và tăng phản ứng nhanh cho mọi lứa tuổi)

    Chính vì vậy, Võ thuật cổ truyền Việt Nam có vai trò rất lớn trong phép tập dưỡng sinh. Cần xây dựng môn Võ dưỡng sinh (L' Art marcial de conserver la sante') thuần tuý dân tộc, trên cơ sở khai thác các yếu tố vừa là Y thuật vừa là Võ học trong các bài quyền Võ cổ truyền Việt Nam, nhằm giúp cho người tập luyện có cuộc sống khoẻ mạnh, vui tươi, phòng tránh bệnh tật và kéo dài tuổi thọ trong sự an lạc.

    Kết thúc bài này, người viết xin mượn mấy câu thơ nhắn gởi của một ai đó trên "mạng" để tặng bạn đọc:

    “Khuôn vàng, thước ngọc người xưa

    Lưu truyền hậu thế vẫn chưa phai mờ

    Khuyên người chớ có thờ ơ

    Theo đó tập luyện đừng chờ đợi chi”

    Lịch sử võ thuật cổ truyền - các môn phái

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.
    Về danh xưng "Võ cổ truyền Việt Nam", theo võ sư Võ Kiểu, nguyên tổng thư ký Liên đoàn Quyền thuật miền Trung: "Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi "võ ta", là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!" Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng "Võ Ta" bằng tên gọi "võ cổ truyền Việt Nam"có thể "vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa" trong môn võ đẹp này."
    Võ cổ truyền Việt Nam dùng để chỉ những hệ phái võ thuật lưu truyền trong suốt trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, được người Việt sáng tạo và bồi đắp qua nhiều thế hệ, hình thành nên kho tàng những đòn, thế, bài quyền, bài binh khí, kỹ thuật chiến đấu đặc thù. Với những kỹ pháp võ thuật này, người Việt Nam đã dựng nước, mở mang và bảo vệ đất nước suốt trong quá trình lịch sử Việt Nam.

    Về danh xưng “Võ cổ truyền Việt Nam”, theo võ sư Võ Kiểu nguyên tổng thư ký liên đoàn Quyền thuật miền Trung trước 1975: “Võ ta đã gắn bó với dân tộc ta từ hàng ngàn năm qua, nó mang một vẻ đẹp không môn phái nào trên thế giới có được, nó không chỉ là một môn võ phòng thân, chống lại bao giặc thù hàng ngàn năm qua mà còn là một lối sống, một nhân sinh quan, một tư tưởng vô cùng quan trọng trong hệ thống tư tưởng Việt Nam. Đánh mất tên gọi “võ ta”, là chúng ta đã vô tình đánh mất luôn cả cái hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa trong môn võ vô cùng đẹp này!” Võ sư Võ Kiểu còn cho rằng việc thay thế danh xưng “Võ Ta” bằng tên gọi “võ cổ truyền Việt Nam”có thể “vô tình đánh mất luôn cả hệ tư tưởng Việt Nam quý giá ẩn chứa” trong môn võ đẹp này.

    15 16 28 46 958 Lịch sử Võ cổ truyền

    Lịch sử
    Tại Việt Nam, thời Pháp mới chiếm Việt Nam, các hệ phái võ thuật cổ truyền bị thực dân Pháp cấm lưu hành vì những người đứng đầu các phong trào khởi nghĩa chống Pháp đều là người giỏi võ Việt Nam. Khoảng năm 1925, võ cổ truyền Việt Nam được khôi phục song song với các môn võ ngoại quốc khác được đưa vào Việt Nam, như: Quyền Anh (Boxing, Boxe), Thiếu Lâm (Shaolin)…

    Trong giai đoạn này, nhiều võ sư huyền thoại đã để lại danh tiếng: toàn quốc Việt Nam, trước năm 1945, ai cũng nghe danh Tứ Đại Võ Sư là Bái Mùa Cát Quế, đào tạo vô số thanh niên yêu nước sẵn sàng bảo vệ quê hương mến yêu và phụng sự dân tộc, tạo truyền thống thượng võ lan rộng khắp năm châu. Sau năm 1945, cụ Quế có các cao đồ là Sư Tổ Nguyễn văn Quý và Trưởng Tràng là Võ Sư Đặng văn Hinh, kế tiếp là Võ Sư kiêm Giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Quang Lương, Chưởng Môn võ phái Việt Đạo Quán trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đến năm 1975 được bổ nhiệm làm Chưởng Môn Việt Đạo Quán Thế Giới; 3 võ sư còn lại trong 4 đại danh sư kể trên được mệnh danh là “Tam Nhựt” gồm: Hàn Bái, Bá Cát, Bảy Mùa vì có công lớn trong việc khôi phục truyền thống võ Việt Nam trong thời gian này. Mãi đến khi Pháp rời khỏi Việt Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã tiếp tục duy trì sự phục hồi võ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam ( VABA ),và Tổng Hội Võ Sư Nghiên Cứu Và Phổ Biến Võ Học Việt Nam, gọi tắt là Tổng Hội Võ Học Việt Nam. Ba võ sư có công lớn trong giai đoạn này là: Trương Thanh Đăng, sư tổ của võ phái Bình Định Sa Long Cương, Quách Văn Kế và Vũ Bá Oai (được mệnh danh là “Tam Nguyệt”) tiếp nối việc khôi phục và phát triển võ Việt Nam.

    Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, từ năm 1960 đến năm 1963, Ngô Đình Diệm lại tiếp tục cấm các đoàn võ thuật phát triển (trong đó có võ Việt Nam), vì năm 1960, trong lực lượng tham gia đảo chính Ngô Đình Diệm thất bại có đoàn võ sĩ Nhu đạo do võ sư Phạm Lợi chỉ huy. Năm 1964, võ thuật được tiếp tục hoạt động, trong đó có võ Việt Nam. Trong giai đoạn này, võ thuật Việt Nam đã lớn mạnh, sánh vai ngang hàng với võ thuật các nước trong khu vực, như: Thái Lan, Indonesia, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Campuchia… Nhiều võ sĩ Việt Nam đã chiến thắng vẻ vang trước nhà vô địch của các nước bạn trong trong khu vực. Bốn võ sư đã có công đào tạo nhiều võ sĩ ưu tú cho làng quyền thuật Việt Nam, nhất là đào tạo nhiều võ sĩ giỏi đại diện cho màu cờ sắc áo Việt Nam chiến thắng vẻ vang nhiều nhà vô địch của các nước bạn, chính là: Từ Thiện Hồ Văn Lành, Trần Xil, Xuân Bình và Lý Huỳnh. Bốn võ sư này đã được Tổng Nha Thanh Niên trao tặng Bằng Khen về các thành tích vẻ vang cho đất nước, và từ đó, giới võ thuật gọi bốn võ sư này là “Tứ Tú” (bốn ngôi sao sáng), nối tiếp “Tam Nhựt” (ba mặt trời) và “Tam Nguyệt” (ba mặt trăng) trong việc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, do tình hình trật tự an ninh còn hỗn loạn, võ thuật Việt Nam tạm ngừng phát triển một thời gian. Năm 1979, nhân sự kiện quân đội Trung Quốc và quân đội Khmer đỏ tấn công Việt Nam, nhà nước Việt Nam đã cho khôi phục hoạt động võ thuật, trong đó có võ thuật cổ truyền Việt Nam, để tập hợp thanh niên rèn luyện tinh thần bất khuất sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Sau đó, các Liên đoàn võ thuật hình thành để quản lý phong trào võ thuật, trong đó có Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam hình thành năm 1991. Tuy nhiên, do nhiều lý do, từ đó cho đến năm 2007, võ thuật Việt Nam vẫn chưa được nhà nước Việt Nam quan tâm phát triển như những môn võ thuật có thi đấu quốc tế như: Taekwondo, Judo, Karatedo, Wushu, Pencak silat, Boxing, Vovinam…

    Đặc điểm
    Võ thuật cổ truyền Việt Nam thể hiện một số đặc điểm:

    Thường là võ trận, sử dụng trong trận mạc, chiến đấu chống ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên hoang dã, chống trả và săn bắt hổ, lợn rừng, bảo vệ nhà cửa, làng xóm, chống trộm cướp.
    Thích hợp với nhiều loại địa hình.
    Thực dụng, linh hoạt.
    Dĩ công vi thủ, dĩ nhu chế cương, dĩ đoản chế trường.
    Các bài quyền đều có lời thiệu bằng thơ, phú
    Muốn luyện thành thạo phải luyện với thiên nhiên nơi có khí trong lành, để tăng khí công trong người, khi đó ra đòn sẽ mạnh hơn.
    Một số hệ phái võ thuật cổ truyền Việt Nam
    Miền Bắc
    Hoàng quyền
    Nhất Nam (võ Hét)
    Võ Vật Liễu Đôi
    Thăng Long Võ Đạo
    Nam Hồng Sơn
    Thanh Phong Võ Đạo
    Miền Trung
    Tây Sơn Võ Đạo
    Bình Thái Đạo
    Áo Vải
    Miền Nam
    Bạch Hổ Võ Phái
    Tân Khánh Bà Trà
    Kim Kê
    Thanh Long Võ Đạo
    Tiên Long Quyền Đạo
    Bình Định Sa Long Cương
    Trúc Lâm Thái Hư
    Việt Đạo Quán
    Tây Sơn Bình Định
    Hóa Quyền Đạo [2]
    Hải ngoại
    Sơn Long Quyền Thuật
    Võ Thuật Văn Võ Đạo
    Phượng Long Võ Đạo
    Nam Hổ Quyền
    Hoa Long Võ Đạo
    Tinh Võ Nam Hải
    Võ Khí Thuật
    Thiếu Hổ
    Văn Long Võ Đường
    Minh Tâm Võ Đạo
    Trường Bạch Long
    Võ Kinh Vạn Nam Phái
    Thủy Pháp
    Cây Lau Võ Đường
    Minh Long Tây Sơn Võ Đạo [3]
    Việt Đạo Quán Thế Giới [4]
    Qwankido (Quán Khí Đạo)
    Việt Võ Đạo
    Đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu chú ý đến tác dụng của võ thuật cổ truyền trong việc rèn luyện sức khoẻ vì mục đích dưỡng sinh, trường thọ. Điều đó có nghĩa là đã đến lúc người ta hiểu ra rằng, võ thuật ra đời không chỉ để cho con người có công cụ đấu tranh chống lại thú dữ và kẻ thù bên ngoài mà còn để giúp họ chống lại kẻ thù bên trong cơ thể là bệnh tật.

    Tại Trung quốc, nguyên thuỷ môn Thái Cực Quyền là võ thuật chiến đấu, tương truyền có từ thời Trương Tam Phong (vào khoảng thế kỷ thứ 12) hoặc Vương Tông Nhạc (1733-1795), đã được lưu truyền bởi năm dòng họ (Trần, Dương, Vũ, Ngô, Tôn ). Riêng Thái Cực Quyền của dòng họ Dương, khởi nguồn từ Dương Lộ Thiền (1799-1872) và truyền đến Dương Thủ Trung (1010-1985) thì đến năm 1956 được Trung Hoa Quốc Gia Thể Uỷ của Trung Quốc giản hoá thành bài quyền hoàn toàn vì mục đích tập luyện dưỡng sinh, được gọi là "Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền ". Chẳng bao lâu sau, bài võ dưỡng sinh Thái Cực Quyền này ngày càng được đông đảo các võ sư và người chưa từng tập võ theo tập. Các bài võ dưỡng sinh tiếp theo như Thái Cực Kiếm, Thái Cực Đao, Thái Cực Thương, Đơn phiến, Song phiến... tiếp tục ra đời do được biên soạn từ các bài võ cổ truyền Trung Quốc, đã cùng với bài Bắc Kinh 24 thức Thái Cực Quyền được phổ biến ra nhiều nước trên thế giới.

    Năm 1983 được chọn là "Năm quốc tế người già" đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam có mục đích dùng Võ hỗ trợ cho Y để phòng chống bệnh tật, phục hồi sức khoẻ đồng thời dùng y học hiện đại và y học cổ truyền lý giải cơ sở khoa học của các động tác kỹ thuật và những hình thức vận động võ thuật nhằm đạt được yêu cầu dưỡng sinh. Người ta nói rằng, từ đây võ thuật công khai xác định đối thủ cần đánh bại là bệnh tật và phong trào tập luyện đẩy lùi bệnh tật được gọi là "Y Võ dưỡng sinh"

    Hiệu ứng rõ nhất của phong trào Y Võ dưỡng sinh nói trên là sự xuất hiện và lan rộng rất nhanh của phong trào tập bài võ dưỡng sinh cổ truyền có tên Thái Cực Trường Sinh, do ông Song Tùng khởi xướng vào năm 1986 ở miền Bắc .

    Theo tài liệu phổ biến của Trung tâm Trường Sinh Đạo (từ năm 1995 chuyển thành trung tâm trực thuộc UNESCO Việt Nam) thì ông Song Tùng lúc 33 tuổi, cơ thể ốm yếu do mang một số bệnh tật, đã được người cậu ruột là ông Hoàng Đình Thực (quê Nghệ Tĩnh) dạy bài võ gia truyền Thái Cực Trường Sinh để chữa bệnh. Tài liệu này khẳng định Thái Cực Trường Sinh là một bài võ cổ truyền có tính dân tộc: "Hơn nửa tháng ở quê nhà, cụ Thực ân cần chỉ dẫn cho học trò Song Tùng cách chạy chữa bằng phép luyện quyền thuật. Võ thuật là rèn luyện thể lực, ứng phó trong mọi tình huống. Luyện hình của bài này là quyền thuật, nhưng khác quyền thuật ở chỗ động tác của bài này chỉ là phương tiện để đạt được đạo. Ai có cơ duyên, đạo sẽ đến. Đạo ở đây là "võ đạo"".

    Theo ý kiến của cụ Song Tùng: "đây là bài Thái Cực Quyền kết hợp với luyện Thiền từ Trung Quốc và Yoga của Ấn Độ truyền bá sang Việt Nam, được cha ông chúng ta "Việt hóa"".

    Càng ngày người ta càng khẳng định tác dụng phòng ngừa và chữa bệnh của võ thuật, đặc biệt là võ cổ truyền, và bắt tay vào việc khai thác để ứng dụng trong tập dưỡng sinh. Ngày nay đất nước chúng ta có hằng triệu người, kể cả những người còn trẻ, mang nhiều bệnh mãn tính chạy chữa bằng thuốc đông, tây y nhiều năm không có kết quả. Hằng năm phải tốn cả triệu mỹ kim nhập thuốc an thần, trấn thống cũng chỉ giúp người bệnh tạm thời vượt qua cơn đau thể xác chớ không chữa khỏi bệnh tật.

    Những bệnh mãn tính ngày càng phát triển này thường là:

    - Loãng xương, thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm dẫn đến tê, bại tay, chân, đau nhức vai, gáy, đau nhức thần kinh toạ,

    - Mất ngủ dẫn đến suy nhược thần kinh, giảm khả năng làm việc,

    - Tăng huyết áp kéo dài dẫn đến tai biến mạch máu não, suy tim, hại thận, tiểu đường, nhồi máu cơ tim, đột quị.

    Nguồn gốc của các bệnh mãn tính trên đều có thể giải quyết triệt để bằng việc tập luyện quyền thuật võ cổ truyền theo những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc đó là:

    1. Thực hành chính xác kỹ thuật vận động đòn, thế, theo cơ cấu kiến thiết bài quyền để giải toả những bế tắc về mặt cơ học,

    2. Áp dụng phương pháp tập luyện hoà hoãn, cương nhu phối triển và lấy nhu làm chủ đạo, để điều chỉnh theo hướng tích cực hoạt động của hệ thần kinh.

    3. Tập trung cao độ ý chí vào việc ghi nhớ, dẫn dắt động tác nhằm tạo ra sự hưng phấn tinh thần để đưa hoạt động huyết mạch vào tình trạng ức chế có lợi cho hoạt động của bộ máy tuần hoàn, hạ thấp huyết áp, giải toả căng thẳng thần kinh, căng cứng cơ bắp (stress), khôi phục trí nhớ.

    4. Hít sâu, thở hết và luân chuyển khí có mục tiêu nhưng tự nhiên, thoải mái để bồi bổ dưỡng khí (oxy) cho máu, thải thoát thán khí (carbonic) ra khỏi máu, gia tăng sự vận động thuận lợi của hoạt động nội tạng và các tuyến nội tiết.

    Trong những bài quyền võ cổ truyền Việt Nam (trước đây gọi là "Võ Ta") có một số bài, đặc biệt có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa và chữa trị các bệnh mãn tính trên như:

    - Xà quyền (đối với các bệnh về cột sống, loãng xương),

    - Phụng Hoàng quyền (đối với các bệnh về thần kinh, rèn luyện phần tiền đình não, làm giảm nguy cơ mất thăng bằng, chóng mặt, ngã té ở người lớn tuổi),

    - Hổ quyền (đối với các bệnh về khớp, duy trì sự cường tráng của cơ thể)

    - Hầu quyền (đối với các bệnh lão hoá về ngũ giác quan và tăng phản ứng nhanh cho mọi lứa tuổi)

    Chính vì vậy, Võ thuật cổ truyền Việt Nam có vai trò rất lớn trong phép tập dưỡng sinh. Cần xây dựng môn Võ dưỡng sinh (L' Art marcial de conserver la sante') thuần tuý dân tộc, trên cơ sở khai thác các yếu tố vừa là Y thuật vừa là Võ học trong các bài quyền Võ cổ truyền Việt Nam, nhằm giúp cho người tập luyện có cuộc sống khoẻ mạnh, vui tươi, phòng tránh bệnh tật và kéo dài tuổi thọ trong sự an lạc.

    Kết thúc bài này, người viết xin mượn mấy câu thơ nhắn gởi của một ai đó trên "mạng" để tặng bạn đọc:

    “Khuôn vàng, thước ngọc người xưa

    Lưu truyền hậu thế vẫn chưa phai mờ

    Khuyên người chớ có thờ ơ

    Theo đó tập luyện đừng chờ đợi chi”

    Được thừa hưởng tinh hoa võ học khổng lồ từ hai dòng phái cộng thêm với quá trình tu học và trải nghiệm trong nhiều năm với nhiều danh sư, Bác sĩ – Võ sư Nguyễn Văn Thắng đã chấn hưng Thăng Long Võ Đạo lên một tầm cao mới, phát triển môn phái một cách có hệ thống và khoa học, đi từ võ thuật kungfu đến nội công đỉnh cao và khí công dưỡng sinh, trị liệu chân truyền.
    Nếu như võ thuật kungfu và nội công đỉnh cao chỉ dành riêng cho những người yêu thích và ham mê võ thuật cộng thêm với tố chất bẩm sinh, thì khí công dưỡng sinh và trị liệu chân truyền lại mang tính cộng đồng, dành cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi căn cơ nhằm nâng cao và phục hồi sức khoẻ.




    Lịch sử dân tộc Việt Nam để tồn tại và phát triển đã trải qua hang nghìn năm chiến đấu chống ngoại xâm. Trong khoảng thời gian đó, chiến tranh là thể hiện sự so tài bằng sức lực nghệ thuật chiến đấu với các loại vũ khí thô sơ và hiện đại thời bấy giờ… Thực hiện chiến lược và chiến thuật, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ngoài đường lối quân sự, mưu lược của các tướng lĩnh, sử dụng các công cụ để thực hiện sức mạnh của dân tộc ta chính là nghệ thuật chiến đấu của cá nhân và tập thể. Đó chính là thời kỳ hình thành Võ thuật.


    “Võ thuật dạy cho con người con đường tu luyện chân chính, sử dụng võ thuật vào việc có ích. Người học võ không đơn giản là chỉ học cách đấm đá mà còn tìm được trong đó một sức mạnh tinh thần, sự tự chủ.”

    Năm 1989, báo giới dã đồng loạt đưa tin với một cái tít giật mình : ‘‘Hiện tượng võ thuật mới’’ hay ‘‘Bất ngờ xuất hiện’’ …Nhân vật của các bài báo chứa đựng sự kinh ngạc ấy là võ sư Nguyễn Văn Thắng, hiện đang là chưởng môn của môn phái lừng danh : Thăng Long Võ Đạo. Được thừa hưởng một gia tài võ học khổng lồ từ người ông và cha mình, vị võ sư này đã bổ sung cho nghệ thuật võ học nhiều giai thoại.


    Võ bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống và chiến đấu bảo vệ sự sinh tồn, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này sang vùng khác; được sang lọc, tái tạo và phân chia nhiều chi nhánh, môn phái lan tỏa khắp năm châu. Bản sắc của một vùng, một chi, một môn phái, một dân tộc có đặc thù riêng của nó. Nếu đi tìm nguồn gốc của một dòng võ thì cũng chỉ đứt đoạn ở một khoảng thời gian nào đó vì ở đâu chả có người biết võ. Từ thời nguyên thủy, tổ tiên ta vì nhu cầu cuộc sống, đã biết ném đá, phóng lao, đánh gậy múa kiếm… để chống chọi với thú rừng và kẻ thù nhằm bảo vệ cuộc sống và bộ tộc của chính mình, đó chính là Võ. Qua nhiều đời, nhiều thời gian, võ thuật được sáng tạo cách tân theo sự tiến bộ của con người, theo yêu cầu, mục đích sử dụng, theo địa lý khác nhau. Võ thuật cổ truyền lưu truyền trong dân gian rồi hình thành môn phái. Tuy mỗi môn phái có khác nhau về gốc gác, nội dung, đòn thế nhưng tôn chỉ và mục tiêu của Võ thuật cổ truyền nói chung là có nhiều điểm tương đồng…


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Trong lịch sử Võ thuật dân tộc Hà Nội, Sơn Tây, Hà Bắc… là những vùng đất võ nổi tiếng đã nẩy sinh nhiều Anh hùng hào kiệt, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Cử nhân võ thuật,…Những lò võ là gốc của Võ thuật dân tộc đều thuộc vùng đất này. Qua một thời gian lịch sử đã xây dựng được một hệ thống các môn Võ thuật dân tộc đậm đà bản sắc. Lão Võ sư Văn Nhân đã được sinh ra ở vùng đất đó. Ông tên thật là Vũ Văn Nhàn – Nguyễn Văn Nhân, ông sinh vào những năm 20 của thế kỷ XX tại vùng Kinh Bắc lịch sử, một vùng đất giàu truyền thống võ thuật. Từ nhỏ vốn là một cậu bé có tư chất võ thuật ông là người được thừa hưởng một căn bản tinh hoa Võ thuật dân tộc của dòng họ. Trên cơ sở đó ông còn nghiên cứu tìm hiểu tinh hoa của các dòng võ khác trong và ngoài nước để bổ sung và hoàn thiện vốn Võ thuật dân tộc của mình.


    Sớm hiểu là người dân của một dân tộc bị đô hộ Lão võ sư đã tham gia cách mạng từ rất sớm. Tháng 8/1945 khi cả dân tộc bừng bừng trong cơn bão cách mạng, Lão võ sư vào bộ đội. Ông phụ trách Đại đội quân báo của Trung đoàn E41, Liên khu Ba. Suất những năm dài kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Lão võ sư đã tham gia huấn luyện võ thuật chiến đấu cho bộ đội ở chiến khu Việt Bắc. Những năm sau hòa bình ông tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của Bộ Quốc Phòng.



    Suất mấy chục năm tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của lực lượng vũ trang và đã từng tham gia công tác bảo vệ một số vị lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, Lão võ sư đã được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.


    Sau khi nước nhà thống nhất, theo yêu cầu chung và phong trào phát triển võ thuật nước nhà Lão võ sư đã tinh lọc và đúc kết được một phương pháp rèn luyện võ thuật thích hợp với tính cách và thể trạng của người Việt Nam. Phương pháp đó dựa trên vốn liếng căn bản là tinh hoa Võ thuật của dòng tộc cùng kinh nghiệm gần một đời người chiến đấu và huấn luyện võ thuật, Phương pháp võ đó chính là Võ phái Thăng Long Võ Đạo.


    Thăng Long Võ Đạo lấy nhu, hòa, nhân, trí làm gốc. Xuất phát từ đặc điểm của người Việt Nam tầm vóc nhỏ bé và cách sống nặng về tình, trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết trí cao, do đó khó có thể đương lực, ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra những thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng, mạnh, võ sinh không thể tập theo lối cương cường mà tập trung vào việc luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu. Cụ thể là tập nhiều về thân pháp để tránh né sao cho thật thuần thục, để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương để dứt điểm.


    Lão võ sư Văn Nhân cho rằng sở học của Võ thuật Thăng Long võ đạo là để đạt cái tính để chế cái nhiều, cái khéo để chế cái mạnh, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng, cái xuyên để chống cái bè… Tất cả đều phải đạt độ quyền biến vi côn kiếm, tới mức thần quyền.



    Phương châm của Thăng Long võ đạo là né tránh đánh nhanh điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp, di chuyển cực kỳ mau lẹ để luôn tránh được đòn của đối phương. Thăng Long võ đạo nghiên cứu kỹ hệ thống huyệt đạo trên cơ thể con người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ, muông thú để chữa trị bảo kiện cơ thể.


    Các bài bản của môn phái Thăng Long đã được Lão võ sư Văn Nhân hệ thống hóa có cơ sở khoa học, có tính đến các kiến thức y lý, lấy “Bát pháp, Lục hợp” làm Cơ bản công “Bát bộ thiên long” làm bộ pháp “Yêu tự xà hành” làm thân pháp, “Thăng Long quyền” làm thủ pháp, “Nhãn tự điện quang” làm nhãn pháp. Thuật cường thân để luyện nội lực.


    Ngoài quyền cước các môn sinh Thăng Long võ đạo được tập tinh thông, “Thập bát ban võ nghệ” và các loại binh khí đặc dị của môn phái . Bên cạnh những bài quyền chiến đấu trong chương trình huấn luyện của môn phái Thăng Long võ đạo còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và các phương pháp Khí công nhập định nhằm tu dưỡng nhân cách con người.


    Thăng Long võ đạo là một môn Võ thuật dân tộc do Lão võ sư Nguyễn Văn Nhân khởi xướng và suy tôn người Anh hung dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn làm Thánh tổ của môn phái và lấy ngày 20 tháng 8 (Âm lịch) làm ngày Giỗ Tổ.

    Với chương trình huấn luyện có hệ thống, có mục tiêu rõ rang Thăng Long võ đạo đã nhanh chóng phát triển rộng trên địa bàn cả nước cũng như nước ngoài.


    Hiện nay Võ sư – Bác sĩ Nguyễn Văn Thắng (Vũ Mạnh Thắng ) (con trai cố võ sư Nguyễn Văn Nhân) đang chấp chưởng môn phái (là chưởng môn đời thứ 5 theo dòng phái – đời thứ 2 theo môn phái Thăng Long võ đạo) tiếp tục kế tục tinh hoa truyền thống và đưa môn phái lên một tầm cao mới. Với những bí kíp võ học và khí công VS – BS Văn Thắng phát triển môn phái một cách toàn diện đi từ Võ thuật Kungfu đến Nội công đỉnh cao và Khí công trị liệu.


    Dưới sự lãnh đạo của VS – BS Văn Thắng cùng các VS. Công Thắng, VS. Vũ Hải, VS. Bùi Hoàng Lân, VS. Nguyễn Anh Tuấn, VS. Chử Đức Vân, VS. Minh Phương, VS. Quang Phát, VS. Nguyễn Ngọc Dương, VS. Phạm Đức… Thăng Long Võ Đạo đang đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển võ thuật của Thủ đô và Việt Nam, đưa tinh hoa võ cổ truyền Việt Nam ra toàn thế giới.

    Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam nguồn gốc cổ truyền và lịch sử phát triển

    Posted at  tháng 11 11, 2019  |  in  Lịch-sử-võ-thuật  |  Read More»

    Được thừa hưởng tinh hoa võ học khổng lồ từ hai dòng phái cộng thêm với quá trình tu học và trải nghiệm trong nhiều năm với nhiều danh sư, Bác sĩ – Võ sư Nguyễn Văn Thắng đã chấn hưng Thăng Long Võ Đạo lên một tầm cao mới, phát triển môn phái một cách có hệ thống và khoa học, đi từ võ thuật kungfu đến nội công đỉnh cao và khí công dưỡng sinh, trị liệu chân truyền.
    Nếu như võ thuật kungfu và nội công đỉnh cao chỉ dành riêng cho những người yêu thích và ham mê võ thuật cộng thêm với tố chất bẩm sinh, thì khí công dưỡng sinh và trị liệu chân truyền lại mang tính cộng đồng, dành cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi căn cơ nhằm nâng cao và phục hồi sức khoẻ.




    Lịch sử dân tộc Việt Nam để tồn tại và phát triển đã trải qua hang nghìn năm chiến đấu chống ngoại xâm. Trong khoảng thời gian đó, chiến tranh là thể hiện sự so tài bằng sức lực nghệ thuật chiến đấu với các loại vũ khí thô sơ và hiện đại thời bấy giờ… Thực hiện chiến lược và chiến thuật, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ngoài đường lối quân sự, mưu lược của các tướng lĩnh, sử dụng các công cụ để thực hiện sức mạnh của dân tộc ta chính là nghệ thuật chiến đấu của cá nhân và tập thể. Đó chính là thời kỳ hình thành Võ thuật.


    “Võ thuật dạy cho con người con đường tu luyện chân chính, sử dụng võ thuật vào việc có ích. Người học võ không đơn giản là chỉ học cách đấm đá mà còn tìm được trong đó một sức mạnh tinh thần, sự tự chủ.”

    Năm 1989, báo giới dã đồng loạt đưa tin với một cái tít giật mình : ‘‘Hiện tượng võ thuật mới’’ hay ‘‘Bất ngờ xuất hiện’’ …Nhân vật của các bài báo chứa đựng sự kinh ngạc ấy là võ sư Nguyễn Văn Thắng, hiện đang là chưởng môn của môn phái lừng danh : Thăng Long Võ Đạo. Được thừa hưởng một gia tài võ học khổng lồ từ người ông và cha mình, vị võ sư này đã bổ sung cho nghệ thuật võ học nhiều giai thoại.


    Võ bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống và chiến đấu bảo vệ sự sinh tồn, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ vùng này sang vùng khác; được sang lọc, tái tạo và phân chia nhiều chi nhánh, môn phái lan tỏa khắp năm châu. Bản sắc của một vùng, một chi, một môn phái, một dân tộc có đặc thù riêng của nó. Nếu đi tìm nguồn gốc của một dòng võ thì cũng chỉ đứt đoạn ở một khoảng thời gian nào đó vì ở đâu chả có người biết võ. Từ thời nguyên thủy, tổ tiên ta vì nhu cầu cuộc sống, đã biết ném đá, phóng lao, đánh gậy múa kiếm… để chống chọi với thú rừng và kẻ thù nhằm bảo vệ cuộc sống và bộ tộc của chính mình, đó chính là Võ. Qua nhiều đời, nhiều thời gian, võ thuật được sáng tạo cách tân theo sự tiến bộ của con người, theo yêu cầu, mục đích sử dụng, theo địa lý khác nhau. Võ thuật cổ truyền lưu truyền trong dân gian rồi hình thành môn phái. Tuy mỗi môn phái có khác nhau về gốc gác, nội dung, đòn thế nhưng tôn chỉ và mục tiêu của Võ thuật cổ truyền nói chung là có nhiều điểm tương đồng…


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Lịch Sử Môn Phái Thăng Long Võ Đạo Việt Nam


    Trong lịch sử Võ thuật dân tộc Hà Nội, Sơn Tây, Hà Bắc… là những vùng đất võ nổi tiếng đã nẩy sinh nhiều Anh hùng hào kiệt, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Cử nhân võ thuật,…Những lò võ là gốc của Võ thuật dân tộc đều thuộc vùng đất này. Qua một thời gian lịch sử đã xây dựng được một hệ thống các môn Võ thuật dân tộc đậm đà bản sắc. Lão Võ sư Văn Nhân đã được sinh ra ở vùng đất đó. Ông tên thật là Vũ Văn Nhàn – Nguyễn Văn Nhân, ông sinh vào những năm 20 của thế kỷ XX tại vùng Kinh Bắc lịch sử, một vùng đất giàu truyền thống võ thuật. Từ nhỏ vốn là một cậu bé có tư chất võ thuật ông là người được thừa hưởng một căn bản tinh hoa Võ thuật dân tộc của dòng họ. Trên cơ sở đó ông còn nghiên cứu tìm hiểu tinh hoa của các dòng võ khác trong và ngoài nước để bổ sung và hoàn thiện vốn Võ thuật dân tộc của mình.


    Sớm hiểu là người dân của một dân tộc bị đô hộ Lão võ sư đã tham gia cách mạng từ rất sớm. Tháng 8/1945 khi cả dân tộc bừng bừng trong cơn bão cách mạng, Lão võ sư vào bộ đội. Ông phụ trách Đại đội quân báo của Trung đoàn E41, Liên khu Ba. Suất những năm dài kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Lão võ sư đã tham gia huấn luyện võ thuật chiến đấu cho bộ đội ở chiến khu Việt Bắc. Những năm sau hòa bình ông tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của Bộ Quốc Phòng.



    Suất mấy chục năm tham gia huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc biệt của lực lượng vũ trang và đã từng tham gia công tác bảo vệ một số vị lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, Lão võ sư đã được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.


    Sau khi nước nhà thống nhất, theo yêu cầu chung và phong trào phát triển võ thuật nước nhà Lão võ sư đã tinh lọc và đúc kết được một phương pháp rèn luyện võ thuật thích hợp với tính cách và thể trạng của người Việt Nam. Phương pháp đó dựa trên vốn liếng căn bản là tinh hoa Võ thuật của dòng tộc cùng kinh nghiệm gần một đời người chiến đấu và huấn luyện võ thuật, Phương pháp võ đó chính là Võ phái Thăng Long Võ Đạo.


    Thăng Long Võ Đạo lấy nhu, hòa, nhân, trí làm gốc. Xuất phát từ đặc điểm của người Việt Nam tầm vóc nhỏ bé và cách sống nặng về tình, trong thời gian dài lịch sử lại phải thường xuyên đối đầu với người phương Bắc thể lực to khỏe và quyết trí cao, do đó khó có thể đương lực, ngang bằng theo lối đối đòn và trả miếng bằng sức mạnh cơ bắp. Muốn thắng phải tìm ra những thế mạnh riêng. Xuất phát từ thể chất không cứng, mạnh, võ sinh không thể tập theo lối cương cường mà tập trung vào việc luyện công và môn công để khắc chế võ Tàu. Cụ thể là tập nhiều về thân pháp để tránh né sao cho thật thuần thục, để những đòn đánh của đối phương đều không đến được đích, rồi chọn cơ hội tấn công vào đúng điểm hở, điểm yếu của đối phương để dứt điểm.


    Lão võ sư Văn Nhân cho rằng sở học của Võ thuật Thăng Long võ đạo là để đạt cái tính để chế cái nhiều, cái khéo để chế cái mạnh, cái tĩnh để chế cái động, cái đột để phá cái ì, cái cong để chống cái cứng, cái thẳng để chống cái vòng, cái xuyên để chống cái bè… Tất cả đều phải đạt độ quyền biến vi côn kiếm, tới mức thần quyền.



    Phương châm của Thăng Long võ đạo là né tránh đánh nhanh điểm đặt đòn chính xác, đúng chỗ hiểm có hiệu quả cao. Do đó về võ thuật phải luyện thân pháp, di chuyển cực kỳ mau lẹ để luôn tránh được đòn của đối phương. Thăng Long võ đạo nghiên cứu kỹ hệ thống huyệt đạo trên cơ thể con người và những bài thuốc lấy từ cây cỏ, muông thú để chữa trị bảo kiện cơ thể.


    Các bài bản của môn phái Thăng Long đã được Lão võ sư Văn Nhân hệ thống hóa có cơ sở khoa học, có tính đến các kiến thức y lý, lấy “Bát pháp, Lục hợp” làm Cơ bản công “Bát bộ thiên long” làm bộ pháp “Yêu tự xà hành” làm thân pháp, “Thăng Long quyền” làm thủ pháp, “Nhãn tự điện quang” làm nhãn pháp. Thuật cường thân để luyện nội lực.


    Ngoài quyền cước các môn sinh Thăng Long võ đạo được tập tinh thông, “Thập bát ban võ nghệ” và các loại binh khí đặc dị của môn phái . Bên cạnh những bài quyền chiến đấu trong chương trình huấn luyện của môn phái Thăng Long võ đạo còn có những bài quyền dưỡng sinh chữa bệnh và các phương pháp Khí công nhập định nhằm tu dưỡng nhân cách con người.


    Thăng Long võ đạo là một môn Võ thuật dân tộc do Lão võ sư Nguyễn Văn Nhân khởi xướng và suy tôn người Anh hung dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn làm Thánh tổ của môn phái và lấy ngày 20 tháng 8 (Âm lịch) làm ngày Giỗ Tổ.

    Với chương trình huấn luyện có hệ thống, có mục tiêu rõ rang Thăng Long võ đạo đã nhanh chóng phát triển rộng trên địa bàn cả nước cũng như nước ngoài.


    Hiện nay Võ sư – Bác sĩ Nguyễn Văn Thắng (Vũ Mạnh Thắng ) (con trai cố võ sư Nguyễn Văn Nhân) đang chấp chưởng môn phái (là chưởng môn đời thứ 5 theo dòng phái – đời thứ 2 theo môn phái Thăng Long võ đạo) tiếp tục kế tục tinh hoa truyền thống và đưa môn phái lên một tầm cao mới. Với những bí kíp võ học và khí công VS – BS Văn Thắng phát triển môn phái một cách toàn diện đi từ Võ thuật Kungfu đến Nội công đỉnh cao và Khí công trị liệu.


    Dưới sự lãnh đạo của VS – BS Văn Thắng cùng các VS. Công Thắng, VS. Vũ Hải, VS. Bùi Hoàng Lân, VS. Nguyễn Anh Tuấn, VS. Chử Đức Vân, VS. Minh Phương, VS. Quang Phát, VS. Nguyễn Ngọc Dương, VS. Phạm Đức… Thăng Long Võ Đạo đang đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển võ thuật của Thủ đô và Việt Nam, đưa tinh hoa võ cổ truyền Việt Nam ra toàn thế giới.

    About-Privacy Policy-Contact us
    Copyright © 2013 Võ thuật Cổ Truyền - Võ Cổ Truyền Việt Nam - tin tức liên đoàn Võ thuật cổ truyền. Distributed By Võ thuật cổ truyền Việt Nam | https://banhngot.vn by https://banhngot.vn/ cung cấp Giỏ quà tết Bình Dương
    Proudly Powered by Võ Cổ truyền Việt Nam Phát triển xây dựng nội sung Bánh ngọtViệt Nam Bánh kem Hương vị Việt #banhngotvn Xem nhiều mẫu bánh sinh nhật võ thuật Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương Xem nhiều Mua bán nhà đất Dĩ An Bình Dương
    back to top